Một số giải pháp nhằm phát triển du lịch tỉnh Quảng Ninh - Pdf 24

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ & QTKD
______________________ NGUYỄN THỊ NGỌC LAN
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM
PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH QUẢNG NINH

Chuyên ngành: Quản lý Kinh tế
Mã số: 60 34 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Đỗ Thị Bắc

Thái Nguyên - Năm 2012


đỡ tận tình, cung cấp tài liệu cho tôi hoàn thành luận văn này.
Ngoài ra, tôi cũng nhận đƣợc sự giúp đỡ nhiệt tình, sự động viên và tạo
mọi điều kiện về vật chất và tinh thần của của lãnh đạo, đồng nghiệp đơn vị
công tác, gia đình, bạn bè, ngƣời thân.
Với tấm lòng chân thành, tôi xin cảm ơn mọi sự giúp đỡ quý báu đó!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2012
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Ngọc Lan

iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ vii
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của luận văn 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 3
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3
3.1. Đối tƣợng nghiên cứu 3
3.2. Phạm vi nghiên cứu: 4
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 4
CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN DU LỊCH 5
1.1. Cơ sở lý luận 5
1.1.1. Một số khái niệm liên quan đến du lịch 5
1.1.2. Vai trò của phát triển du lịch 15
1.1.3. Các yếu tố ảnh hƣởng đến sự phát triển du lịch 16
1.2. Cơ sở thực tiễn 22
1.2.1. Kinh nghiệm phát triển du lịch ở một số nƣớc trên thế giới 22

4.2.3. Hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển du lịch 109
4.2.4. Sự phối hợp giữa các ngành 109
4.2.5. Về đầu tƣ và huy động vốn đầu tƣ 110
4.2.6. Giải pháp về truyền thông, thông tin 110
4.2.7. Đa dạng hoá loại hình và nâng cao chất lƣợng sản phẩm, dịch vụ
du lịch 110

v
4.2.8. Đào tạo nguồn nhân lực 110
4.2.9. Giải pháp về liên kết vùng, liên kết quốc tế 111
4.2.10. Phát triển đi đôi với bảo tồn và phát huy các giá trị bền vững 111
4.3. Một số kiến nghị 112
4.3.1. Kiến nghị với Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch 112
4.3.2. Kiến nghị với UBND và Sở Văn hóa TT và Du lịch tỉnh Quảng Ninh 113
KẾT LUẬN 114
TÀI LIỆU THAM KHẢO 117
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Doanh thu từ du lịch ở Quảng Ninh giai đoạn 2007 - 2011 56
Bảng 3.2: Cơ cấu khách du lịch tới Quảng Ninh giai đoạn 2007 - 2011 57
Bảng 3.3: Cơ cấu khách du lịch quốc tế tại Quảng Ninh so với cả nƣớc 62
Bảng 3.4: Cơ sở lƣu trú tại Quảng Ninh giai đoạn từ 2001 - 2006 64
Bảng 3.5: Cơ sở lƣu trú tại Quảng Ninh giai đoạn từ 2007 - 2011 65
Bảng 3.6: Giá buồng bình quân mỗi hạng cơ sở lƣu trú du lịch 66
Bảng 3.7: Cơ sở lƣu trú du lịch trên các địa bàn của tỉnh năm 2012 67
Bảng 3.8: Số buồng ngủ và công suất sử dụng của từng loại, hạng cơ sở lƣu
trú du lịch 68

2002 - 2009 72
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của luận văn
Trƣớc yêu cầu của hội nhập kinh tế thế giới và khu vực, cùng với sự
phát triển của các ngành kinh tế khác, ngành du lịch đã có những bƣớc phát
triển đáng kể và ngày càng tỏ rõ vị trí quan trọng của mình trong cơ cấu kinh
tế nói chung. Du lịch đã và đang ngày càng trở thành một nhu cầu không thể
thiếu đƣợc trong đời sống xã hội, du lịch không chỉ đem đến cho con ngƣời
những cảm xúc tuyệt vời thông qua các loại hình nghỉ dƣỡng, tắm biển, tham
quan, vui chơi giải trí mà du lịch còn là thƣớc đo chất lƣợng cuộc sống, một
ngành “công nghiệp không khói”, ngành “xuất khẩu” tại chỗ, đem lại hiệu quả
kinh tế - xã hội vô cùng to lớn ở nhiều nƣớc trên thế giới và khu vực. Theo
đánh giá của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), hoạt động du lịch ngày
càng có tác động quan trọng đến sự phát triển kinh tế - xã hội trên phạm vi
toàn cầu.
Trong mối quan hệ phát triển tổng hòa của nền kinh tế, du lịch phát
triển sẽ là động lực thúc đẩy sự phát triển của các ngành kinh tế khác, du lịch
không những là một ngành có khả năng tạo ra nguồn thu nhập cho xã hội, mà
còn là cơ hội, là chiếc cầu nối quan trọng nhằm phát triển mạnh mẽ các mối
quan hệ giao lƣu văn hóa, hữu nghị, phát triển khoa học kỹ thuật, hợp tác,
ngoại giao giữa các vùng miền, các quốc gia, các khu vực trên toàn thế giới và
thúc đẩy sự đổi mới và phát triển của nhiều ngành kinh tế khác, giải quyết
nhiều vấn đề xã hội. Do vậy, việc mở rộng đẩy mạnh hoạt động kinh doanh

năng mà thiên nhiên ban tặng, các điểm tuyến du lịch đa số chỉ mới đƣợc đầu
tƣ ở mức nhỏ lẻ trên cơ sở khai thác các địa danh du lịch sẵn có, ít có sự lựa
chọn cho khách du lịch nƣớc ngoài. Mặt khác mục tiêu kinh doanh còn thiên
về số lƣợng khách, chƣa chú ý tới chất lƣợng nguồn khách, trong khi đó chất

3
lƣợng nguồn khách du lịch thực sự là vấn đề rất quan trọng đặt ra với sự phát
triển của ngành du lịch đặc biệt ngày nay, trong xu thế hội nhập và giao lƣu
kinh tế quốc tế rộng mở hoạt động kinh doanh du lịch đang diễn ra sôi động
trong môi trƣờng cạnh tranh quyết liệt. Để đẩy mạnh việc thu hút khách du
lịch và không ngừng nâng cao hiệu quả kinh doanh đòi hỏi phải có biện pháp
giành đƣợc lợi thế trong cuộc cạnh tranh nói trên.
Xuất phát từ đó tôi đã chọn đề tài “Một số giải pháp nhằm phát triển
du lịch Tỉnh Quảng Ninh” làm đề tài nghiên cứu luận văn góp phần thiết
thực triển khai phát triển du lịch, từng bƣớc đƣa ngành du lịch tỉnh Quảng
Ninh trở thành ngành kinh tế động lực, phát triển toàn diện và bền vững.
2. Mục tiêu nghiên cứu
* Mục tiêu chung
Mục tiêu bao trùm của luận văn là trên cơ sở nghiên cứu thực trạng phát
triển du lịch tỉnh Quảng Ninh, đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển du lịch
của tỉnh, góp phần phát triển ngành du lịch Tỉnh Quảng Ninh toàn diện và bền
vững.
* Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa những cơ sở lí luận và thực tiễn về phát triển du lịch.
- Phân tích, đánh giá thực trạng du lịch Quảng Ninh từ năm 2001 -
2011.
- Đề ra định hƣớng, giải pháp phát triển du lịch Quảng Ninh trong thời
gian tới.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu

CHƢƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN DU LỊCH
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Một số khái niệm liên quan đến du lịch
1.1.1.1. Khái niệm về du lịch
Du lịch là một ngành công nghiệp không khói. Hiện nay trên thế giới
có hàng trăm triệu ngƣời đi du lịch và số lƣợng ngƣời đi du lịch có khuynh
hƣớng ngày càng gia tăng. Tuy nhiên du lịch là một ngành tổng hợp của nhiều
ngành chuyên biệt.
Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp quan trọng, mang nội dung văn hóa
sâu sắc có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao, phát triển du lịch
nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan giải trí nghỉ dƣỡng của nội dung kinh
doanh du lịch quốc tế, góp phần nâng cao dân trí, tạo việc làm và phát triển
kinh tế xã hội, phát triển du lịch trong nƣớc và du lịch quốc tế. Nhƣ vậy du
lịch không những đẩy mạnh giao lƣu sự hiểu biết giữa các dân tộc mà còn
tăng cƣờng hiệu lực quản lý nhà nƣớc, góp phần ổn định nhà nƣớc trong thời
kỳ mở cửa.
Ngay từ những ngày đầu tiên, du lịch đƣợc hiểu là việc đi lại của từng
cá nhân hoặc nhóm ngƣời rời khỏi chỗ ở của mình trong khoảng thời gian
ngắn nhất đến các vùng xung quanh để nghỉ ngơi dƣỡng bệnh, các hoạt động
di chuyển của con ngƣời ở trong hay ngoài nƣớc trừ việc đi cƣ trú chính trị,
tìm việc làm đều mang ý nghĩa du lịch.
* Khái niệm du lịch có thể đƣợc xác định nhƣ sau: Du lịch là một dạng
hoạt động của cƣ dân trong thời gian rỗi, liên quan với sự di chuyển và lƣu lại
tạm thời bên ngoài nơi cƣ trú thƣờng xuyên nhằm nghỉ dƣỡng chữa bệnh, phát
triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức văn hóa xã hội kèm
theo việc tiêu thụ trong du lịch.

6
1.1.1.2. Khái niệm về sản phẩm du lịch và những đặc tính của sản phẩm du lịch

Vì vậy, trên thực tế hoạt động kinh doanh du lịch thƣờng mang tính
mùa vụ. Sự dao động (về thời gian) trong tiêu dùng du lịch gây khó khăn cho
việc tổ chức hoạt động kinh doanh và từ đó ảnh hƣởng đến kết quả kinh
doanh của các nhà kinh doanh du lịch. Khắc phục mùa vụ trong du lịch luôn
là vấn đề bức xúc cả về mặt thực tiễn, cũng nhƣ về mặt lý luận trong lĩnh
vực du lịch.
1.1.1.3. Khái niệm về khách du lịch
- Theo các tổ chức quốc tế về khách du lịch.
+ Liên hiệp các quốc gia 1937 League of Nations đƣa ra khái niệm
“Khách du lịch nƣớc ngoài” là bất cứ ai đến thăm một đất nƣớc khác với nơi
cứ trú thƣờng xuyên của mình trong khoảng thời gian ít nhất là 24h. Theo
định nghĩa này tất những ngƣời đƣợc coi là khách du lịch là: những ngƣời
khởi hành để giải trí, vì những nguyên nhân gia đình, vì sức khoẻ v.v…những
ngƣời khởi hành để gặp gỡ trao đổi các mối quan hệ về khoa học, ngoại giao,
tôn giáo, thể thao, công vụ…Những ngƣời khởi hành vì mục đích kinh doanh.
Khách du lịch nội địa là công dân của một nƣớc (không kể quốc tịch)
hành trình đến một nơi trong đất nƣớc đó, khác với nơi cƣ trú thƣờng xuyên
của mình trong khoảng thời gian ít nhất là 24 giờ, hay một đêm với mọi mục
đích trừ mục đích hoạt động để trả thù lao tại nơi đến.
+ Định nghĩa của Hội nghị Quốc tế về du lịch tại Hà Lan năm 1989:
Khách du lịch quốc tế là ngƣời đi thăm một đất nƣớc khác với mục đích thăm
quan, nghỉ ngơi, giải trí, thăm hỏi trong khoảng thời gian nhỏ hơn 3 tháng,
những ngƣời khách này không dƣợc làm gì để trả đƣợc thù lao và sau thời
gian lƣu trú ở đó du khách trở về nơi ở thƣờng xuyên của mình.
- Khái niệm về khách du lịch của Việt Nam:

8
Khách du lịch là ngƣời đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trƣờng
hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến. Khách du
lịch bao gồm: khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế.

Khối lƣợng các nguồn tài nguyên và diện tích phân bổ các nguồn tài
nguyên là cơ sở cần thiết để xác định khả năng khai thác và tiềm năng của hệ
thống lãnh thổ nghỉ ngơi, du lịch
Thời gian khai thác xác định tính mùa vụ của du lịch, nhịp điệu của dòng
khách. Tính bất biến về mặt lãnh thổ của đa số các loại tài nguyên tạo nên lực hút
cơ sở hạ tầng và dòng du lịch tới nơi tập trung các loại tài nguyên đó
Vồn đầu tƣ tƣơng đối thấp và giá thành chi phí sản xuất không cao cho
phép xây dựng tƣơng đối nhanh chóng cơ sở hạ tầng và mang lại hiệu quả
kinh tế - xã hội cũng nhƣ khả năng sử dụng độc lập từng loại tài nguyên.
Tài nguyên du lịch có khả năng sử dụng nhiều lần nếu tuân theo các
quy định về sử dụng tự nhiên một cách hợp lý, thực hiện các biện pháp cần
thiết để bảo vệ chung
Muốn đánh giá tài nguyên du lịch cần phải tổng hợp nhiều tri thức của
các lĩnh vực khoa học: sinh lý học, tâm lý học, địa lý tự nhiên, lịch sử văn
hóa, nghệ thuật, kiến trúc đô thị, kinh tế du lịch
Tài nguyên du lịch chia thành 02 nhóm:
- Tài nguyên du lịch tự nhiên: Là tổng thể tự nhiên các thành phần của
nó có thể góp phần khôi phục và phát triển thể lực, trí tuệ con ngƣời, khả năng
lao động và sức khỏe của họ và đƣợc lôi cuốn vào phục vụ cho nhu cầu cũng
nhƣ sản xuất dịch vụ du lịch
Trong các chuyến du lịch ngƣời ta thƣờng tìm đến những nơi có phong
cảnh đẹp. Phong cảnh theo nghĩa nào đó đƣợc hiểu là một khái niệm tổng hợp
liên quan đến tài nguyên du lịch, căn cứ vào mức độ biến đổi của phong cảnh

10
do con ngƣời tạo nên, có thể chia nó làm 4 loại: Phong cảnh nguyên sinh (
Thực tế rất ít gặp trên thế giới); Phong cảnh tự nhiên, trong đó thiên nhiên bị
thay đổi tƣơng đối ít bởi con ngƣời; Phong cảnh nhân tạo, lsf những yếu tố do
con ngƣời tạo ra; Phong cảnh suy biến( loại phong cảnh bị thoái hóa khi có
những thay đổi không có lợi đối với môi trƣờng tự nhiên)

hóa sinh ra, nhiều hang động chứa đựng những di tích khảo cổ học, di tích
lịch sử văn hóa, nhiều hang động đƣợc con ngƣời xây dựng thêm chùa chiền
để thờ tự tạo nên thế giới tâm linh đầy bí ẩn Nhƣ vậy có thể nói hang động
Karst là một tài nguyên du lịch, một loại hàng hóa đặc biệt có thể sinh lợi cao.
Hiện nay ở nƣớc ta đã có nhiều hang động đƣợc khai thác phục vụ du lịch nhƣ
động Phong Nha, Tam Cốc - Bích Động, Động Hƣơng Tích, hang Bồ nâu,
Hang Luồn, hang Sửng Sốt, Động Thiên Cung Ngoài ra hang động Karst,
kiểu địa hình Karst ngập nƣớc, tiêu biểu là Vịnh hạ Long – một di sản thiên
nhiên thế giới, kiểu địa hình Karst đồng bằng tiêu biểu ở vùng Ninh Bình
đƣợc mệnh danh là “ Vịnh hạ Long cạn” cũng rất có giá trị về du lịch.
Địa hình ven bờ, các kho chứa nƣớc ( đại dƣơng, biển , hồ ) cũng có ý
nghĩa quan trọng đối với du lịch. Ở nƣớc ta có đƣờng bờ biển dài với nhiều
bãi tắm tốt ( nhiều bãi biển vẫn còn ở dạng sơ khai, chƣa bị ô nhiễm) độ dốc
trung bình từ 10-30 và một hệ thống đảo ven bờ, trong đó một số đảo có giá
trị về du lịch. Từ Móng Cái tới Hà Tiên với nhiều bãi tắm đẹp nhƣ: Trà Cổ,
Sầm Sơn, Cửa Lò, Thiên Cầm, Lăng Cô, Non Nƣớc, Mũi Né, Vũng Tàu,
Long Hải, Phƣớc Hải
+ Khí hậu: Khí hậu cũng đƣợc coi là một dạng của tài nguyên du lịch.
Trong các chỉ tiêu về khí hậu, đáng lƣu ý nhất là hai chỉ tiêu: nhiệt độ và độ

12
ẩm không khí. Ngoài ra còn phải tính đến các yếu tố khác nhƣ gió, áp suất khí
quyển, ánh nắng mặt trời, các hiện tƣợng thời tiết đặc biệt
Điều kiện khí hậu có ảnh hƣởng đến việc thực hiện các chuyến du lịch
hoặc hoạt động dịch vụ du lịch. Nhìn chung những nơi có khí hậu ôn hòa
thƣờng đƣợc du khách ƣa thích. Những nơi có nhiều gió cũng không thích
hợp với việc phát triển du lịch. Mỗi loại hình du lịch thƣờng đòi hỏi những
điều kiện khí hậu khác nhau, chẳng hạn du khách đi biển mùa hè thƣờng chọn
những dịp ít mƣa, nắng nhiều nhƣng không gắt, nƣớc mát, gió vừa phải. Nhƣ
vậy ở mức độ nhất định cần phải chú ý đến những hiện tƣợng thời tiết đặc biệt

môi trƣờng tự nhiên, một môi trƣờng hoàn toàn trong lành và ổn định. Con
ngƣời đã thích nghi với môi trƣờng đó giờ đây sống trong một xã hội phát
triển, có những điều kiện thuận lợi do con ngƣời tạo ra, nhƣng đồng thời môi
trƣờng lại bị ô nhiễm, biến đổi bất lợi cho cuộc sống con ngƣời.
Nhiều công trình nghiên cứu của các nhà y học, tâm lý – xã hội học đều
nhận thấy rằng, vẻ đẹp thiên nhiên, khung cảnh đất trời bao la, muôn hình
muôn vẻ có ảnh hƣởng rất lớn tới trạng thái tâm hồn sức khỏe con ngƣời, nhƣ
vậy có thể nói cảnh quan thiên nhiên có một vai trò vô cùng quan trọng đối
với sức khỏe con ngƣời và là một trong những nhân tố góp phần thúc đẩy sự
phát triển của du lịch, đặc biệt là du lịch sinh thái.
Về tài nguyên sinh vật, rừng không chỉ có ý nghĩa lớn về mặt kinh tế,
sinh thái, mà còn có giá trị đối với du lịch, nhất là rừng nguyên sinh hoặc
thuần chủng. Tất nhiên không phải mọi tài nguyên động thực vật đều là đối
tƣợng tham gia du lịch, để phục vụ mục đích du lịch khác nhau, yêu cầu phải
đƣa ra các chỉ tiêu cụ thể nhƣ: Chỉ tiêu phục vụ mục đích tham quan du lịch:
thảm thực vật phong phú, độc đáo, điển hình, có các loại đặc trƣng cho các
khu vực, loại đặc hữu, loài quý hiếm, có một số động vật (chim, thú, bò sát,

14
côn trùng, cá ) phong phú và điển hình cho vùng, có những loài có thể khai
thác làm đặc sản phục vụ cho nhu cầu của khách du lịch, thực động vật có
màu sắc hấp dẫn, vui mắt, một số loài phổ biến có thể quan sát bằng mắt
thƣờng, óng nhòm hoặc nghe đƣợc tiếng hót, tiếng kêu, chụp ảnh và đƣờng
giao thông đi lại thuận tiện. Đối với loại hình du lịch săn bắn: yêu cầu quy
định loài đƣợc săn bắn là loài phổ biến, không ảnh hƣởng đến só lƣợng quỹ
gen, loài động vật nhanh nhẹn, ngoài ra khu vực săn bắn phải tƣơng đối rộng,
có địa hình tƣơng đối dễ vận động, xa dân cƣ, đảm bảo tầm bay của đạn và sự
an toàn tuyệt đối cho khách, tuân thủ những quy định và nguyên tắc trong
việc dùng súng, chất gây nổ Đối với mục đích du lịch nghiên cứu khoa
học: Đảm bảo nơi có tồn tại loài quý hiếm, nơi có động thực vật phong phú và

1.1.2. Vai trò của phát triển du lịch
1.1.2.1. Vai trò phát triển du lịch đối với phát triển kinh tế
Đối với kinh tế phát triển du lịch đóng góp phần quan trọng vào tổng
sản phẩm quốc dân, làm tăng GDP và nâng cao mức thu nhập cho ngƣời dân,
góp phần quan trọng vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh nói riêng và
của đất nƣớc nói chung. Phát triển du lịch cũng đóng vai trò quan trọng trong
việc phát triển ngành dịch vụ, đóng góp vào thu nhập cũng nhƣ là nâng cao
chất lƣợng cho ngành dịch vụ. Ở một mức độ nào đó phát triển du lịch có liên
quan mật thiết với các vai trò của con ngƣời nhƣ lực lƣợng sản xuất chủ yếu
của xã hội, trong đó hoạt động sản xuất là cơ sở tồn tại của xã hội, góp phần
vào việc hồi phục sức khỏe cũng nhƣ khả năng lao động, mặt khác đảm bảo
sản xuất mở rộng lực lƣợng lao động với hiệu quả kinh tế rõ rệt.
1.1.2.2. Vai trò phát triển du lịch đối với xã hội
Phát triển du lịch thể hiện ở vai trò trong việc giữ gìn phục hồi sức
khỏe cho nhân dân. giữ gìn đƣợc bản sắc dân tộc, khơi gậy tinh thần của

16
ngƣời dân hƣớng về cuội nguồn và tái tạo lại đƣợc nhiều di tích lịch sử, nhiều
làng nghề truyền thống.
Phát triển du lịch tạo ra sự giao lƣu văn hoá giữa các vùng, các miền
và giữa các quốc gia. Hơn nữa phát triển du lịch có thể tái sản xuất sức lao
động tạo công ăn việc làm, đặc biệt không những tạo công ăn việc làm cho
những lao động trực tiếp phục vụ du lịch mà còn tạo việc làm thêm cho những
ngƣời dân sống ở xung quanh khu du lịch (lao động gián tiếp phục vụ du lịch)
và trong một chừng mực nào đó nghỉ dƣỡng ở khu du lịch có thể hạn chế bệnh
tật, kéo dài tuổi thọ
1.1.2.3. Vai trò phát triển du lịch đối với bảo vệ môi trường
Phát triển du lịch góp phần bảo vệ môi trƣờng nhƣ: việc tạo nên môi
trƣờng sống ổn định về mặt sinh thái. Môi trƣờng ảnh hƣởng tới sức khỏe con
ngƣời, khách đi du lịch vừa kết hợp tìm hiểu, nghỉ ngơi và có điều kiện tiếp

nhà máy sản xuất ra oxy, là nơi yên tĩnh và trật tự.Nếu thực vật phong phú và
quí hiếm thì sẽ thu hút đƣợc cả khách du lịch văn hoá với lòng ham tìm tòi,
nghiên cứu thiên nhiên. Đối với khách du lịch, những loại thực vật không có ở
đất nƣớc họ thƣờng có sức hấp dẫn mạnh. Ví dụ, khách du lịch châu Âu
thƣờng thích đến nơi có rừng rậm nhiệt đới nhiều cây leo, cây to và cao v.v…
* Tài nguyên nước
Các nguồn tài nguyên nƣớc nhƣ: ao, hồ, sông, ngòi, đầm…vừa tạo điều
kiện để điều hoà không khí, phát triển mạng lƣới giao thông vận tải nói
chung, vừa tạo điều kiện để phát triển nhiều loại hình du lịch nói riêng. Các
nguồn nƣớc khoáng là tiền đề không thể thiếu đƣợc đối với sự phát triển du
lịch chữa bệnh. Tính chất chữa bệnh của các nguồn nƣớc khoáng đã đƣợc
phát triển từ thời đế chế La Mã. Ngày nay, các nguồn nƣớc khoáng đóng vai
trò cho sự phát triển của du lịch chữa bệnh.

Trích đoạn Kết quả phát triển của du lịch QuảngNinh Đánh giá chung tình hình phát triển du lịch tỉnh Quảng Ninh Giải pháp về quy hoạch Sự phối hợp giữa các ngành Giải pháp về truyền thông, thông tin
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status