GIÃN PHẾ QUẢN
(Kỳ 1)
I. ĐỊNH NGHĨA
Giãn phế quản là sự giãn không hồi phục các phế quản nhỏ và trung bình
kèm theo sự loạn dạng các lớp phế quản và đa tiết phế quản, có thể do bẩm sinh
hay mắc phải, thường bị bội nhiễm định kỳ. Giãn phế quản gặp ở nam 4 lần nhiều
hơn ở nữ.
II. BỆNH NGUYÊN
1. Mắc phải:
Hiện nay được xem như là thường gặp nhất; những thể này có thể khu trú
hay lan tỏa.
a. Thể khu trú:
- Những nguyên nhân gây hẹp phế quản một phần: gây nên sự ứ dịch tiết
dẫn đến nhiễm trùng và phế quản bị giãn ra, đôi khi trong 2-3 tuần lễ. Những
nguyên nhân này thường chỉ được phát hiện nhờ nội soi phế quản, trước tiên là
khối u có thể lành tính hay ác tính, có thể là vật lạ nhất là đối với trẻ em, có thể là
lao bởi những lỗ dò hay u hạt từ một lao sơ nhiễm tiến triển hay trên di chứng
calci hóa.
- Áp xe phổi: di chứng sẹo xơ hay trên một áp xe phổi mạn tính.
- Aspergillose phế quản: ít gặp hơn nhưng rất đặc biệt là có sự phối hợp với
những biểu hiện tăng nhạy cảm type I và type II (tìm những chất kết tủa kháng
aspergillus), có thể có tăng bạch cầu ái toan và khu trú ở phế quản rất gần gốc, như
vậy chỉ tổn thương các phế quản lớn còn các phế quản trước tận cùng còn tốt
(bệnh Hinton).
b. Thể lan tỏa:
- Di chứng của các bệnh phế quản - phổi cấp nặng trong thời kỳ thiếu niên:
có thể bị quên lúc khởi đầu hội chứng đa tiết phế quản - phổi. Sởi và ho gà là 2
bệnh thường gặp nhất, những bệnh nhiễm siêu vi nặng nhất là do Arbovirus là
những nguyên nhân gây nên di chứng giãn phế quản.
- Bệnh nhầy nhớt (bệnh xơ tụy tạng nhầy - kén): là những bệnh bẩm sinh di
truyền; trong những bệnh này có rối loạn về tiết dịch do sự thanh lọc bị chậm lại,
a. Tổn thương niêm mạc:
Dưới một lớp biểu bì gần như bình thường lúc đầu, sau đó bị dị sản và cuối
cùng bị hủy hoại, có một màng đệm dày lên và thâm nhiễm trùng tế bào viêm và
nhiều mạch máu được tân tạo từ mạch máu phế quản. Trong một vài thể bệnh,
những tổn thương viêm với sự phì đại lớp niêm mạc và tăng tiết trội lên, gây đa
tiết phế quản trên lâm sàng. Trong một số trường hợp khác, lớp niêm mạc bị teo
lại với sự giảm những tuyến thanh dịch - nhầy và xơ hóa liên tuyến nang, như vậy
không có sự tăng tiết. Hai loại này thường phối hợp trên cùng một bệnh nhân.
b. Tổn thương dưới niêm mạc:
Mô liên kết bị tổn thương phối hợp với sự giảm và sự sắp xếp lộn xộn
những sợi đàn hồi và sợi cơ; bị cắt đoạn bởi sợi collagen tân tạo và có hình giả u
cơ.
c. Tổn thương sụn:
Đó là tổn thương thoái hóa sụn được thay thế bởi những mô calci hóa háy
cốt hóa hay bởi sự xơ hóa collagen; những phế quản mất đi cái cốt nâng đỡ và tính
đàn hồi.
d. Tổn thương phế nang:
Góp phần quan trọng trong rối loạn chức năng hô hấp và trong sự trao đổi
khí oxy ở phổi, những tổn thương này rất thay đổi tùy người bệnh, tùy vị trí ở
cùng một bệnh nhân, đó là viêm phổi lưới teo hay phì đại, viêm phế nang xuất
huyết, xẹp phổi.