TRÀN KHÍ MÀNG PHỔI
(Kỳ 2)
VI. CHẨN ĐOÁN
1. Chẩn đoán xác định:
Thường không khó với trường hợp tràn khí màng phổi hoàn toàn với triệu
chứng cơ năng rầm rộ như cơn đau xóc ngực đột ngột như dao đâm, kèm biểu hiện
suy hô hấp cấp (khó thở nhanh, nông, tím, vã mồ hôi ) hay kèm choáng (mạch
nhanh nhỏ, huyết áp tụt, biểu hiên của suy tim phải cấp, tay chân lạnh ) và tam
chứng Galliard.
Chẩn đoán chính là X quang. Với các thể khu trú, im lặng thì phải kết hợp
với tiền sử, bệnh lý hô hấp, yếu tố làm dễ và quan trọng là X quang.
2. Chẩn đoán nguyên nhân:
Thường rất khó vì khoảng 50% trường hợp tràn khí màng phổi là không rõ
nguyên nhân. Phải dựa vào tiền sử, bệnh sử và triệu chứng lâm sàng cùng với các
xét nghiệm khác để xác định bệnh chính gây tràn khí màng phổi.
Đa số các tràn khí màng phổi là tự phát và có yếu tố làm dễ như gắng sức,
ho mạnh, cơn hen phế quản nặng, tress
- Phải lưu ý các thủ thuật thăm dò lồng ngực như đặt nội khí quản, soi phế
quản, đo tĩnh mạch dưới đòn, sinh thiết phổi, màng phổi xuyên thành, chọc dịch
màng phổi, dẫn lưu màng phổi một số trường hợp chọc dò, sinh thiết gan, châm
cứu và một số các thủ thuật khác.
- Chấn thương lồng ngực: thường gặp là gãy xương sườn.
3. Chẩn đoán phân biệt:
- Khi thủng phổi: thương cả 2 phổi, không có triệu chứng cơ năng cấp tính,
âm phế bào giảm toàn bộ 2 bên, có thể có biểu hiện suy hô hấp mạn, xác định chẩn
đoán bằng X quang.
- Kén phổi: Hình ảnh X quang và cần thiết thì cắt lớp vi tính.
- Hang phổi: Căn cứ vào tiền sử, bệnh sử và hình ảnh X quang.
VII. BIẾN CHỨNG VÀ DƯ CHỨNG
1. Biến chứng:
- Tràn máu, dịch màng phổi sau tràn khí.
Tùy theo loại tràn khí mà có chỉ định khác nhau.
* TKMP đóng: thông thường thì khí tự hấp thụ trở lại sau một thời gian,
nếu 3-4 ngày sau mà lượng không giảm khí thì có thể dùng bơm tiêm lớn và kim
để hút, không nên hút sớm, và chỉ hút từ từ, lượng ít để tránh gây shock do thay
đổi vị trí các tạng hoặc giảm áp đột ngột.
* TKMP mở: phải dẫn lưu màng phổi bằng catheter với áp lực âm, đưa vào
liên sườn II đường trung đòn hay liên sườn 4-5 ở đường nách trước, đưa ống thông
về phía đỉnh phổi, hoặc dùng máy hút (-20 đến 40 cm H
2
0). Sau 3-5 ngày thì kẹp
ống thông lại: 24-48 giờ để xem tràn khí có trở lại hay không, theo dõi mạch,
nhiệt, huyết áp và kiểm tra bằng X quang để đánh giá.
* TKMP có van: đây là một cấp cứu nội khoa nên phải tiến hành nhanh.
- Nếu không có điều kiện thì dùng kim lớn chọc vào màng phổi ở vị trí đã
nêu nối với dây chuyền Serum đưa vào một hình chứa NaCl 0,9%, nhưng câu dây
chuyền xuống 10-15 cm.
- Nếu được dùng kim loại 14-16 Giờ để chọc hút qua máy liên tục, áp lực
hút -15 cmH
2
O.
4. Điều trị dự phòng tràn khí tái phát:
- Có thể tìm thương tổn gây TKMP bằng phương pháp nội soi để xác định
như mổ kén khí, bịt lỗ thủng lá tạng
- Làm dày dính màng phổi bằng keo sinh học.
5. Điều trị nguyên nhân gây tràn khí màng phổi:
Ở Việt Nam, nguyên nhân thường gặp nhất là do lao, ngoài ra do nhiễm
trùng, siêu vi và một số yếu tố khác do đó phải xác định nguyên nhân để điều trị
nhằm tránh TKMP tái phát hay nặng lên.
Lưu ý tránh các yếu tố làm dễ như gắng sức, stress, ho mạch, hút thuốc lá.
6. Điều trị ngoại khoa: