Vai trò của CT Scan trong chẩn đoán nguyên nhân tràn khí màng phổi tự phát - Pdf 93

VAI TRÒ CỦA CT SCAN TRONG CHẨN ĐOÁN NGUYÊN NHÂN
TRÀN KHÍ MÀNG PHỔI TỰ PHÁT TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Tràn khí màng phổi tự phát là một cấp cứu Ngoại khoa Lồng
Ngực Tim Mạch thường gặp trong thực hành lâm sàng hằng ngày. Chụp X
Quang ngực giúp xác định chẩn đoán, nhưng khó xác định tổn thương bệnh
lý của phổi. CT Scan ngực cung cấp bằng chứng về tổn thương kén khí phổi.
Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá khả năng phát hiện kén khí phổi bằng CT-
Scan ngực trên bệnh nhân tràn khí màng phổi tự phát
Phương pháp nghiên cứu: Mô tả, hồi cứu cắt ngang
Kết quả: Có 19 bệnh nhân tràn khí màng phổi tự phát có hình ảnh X Quang
ngực bình thường, CT Scan ngực phát hiện 73,7% trường hợp có tổn thương
dạng kén khí phổi.
Kết luận: CT Scan ngực là phương tiện chẩn đoán hình ảnh hữu ích để xác
định tổn thương kén khí phổi trong bệnh lý tràn khí màng phổi tự phát
nguyên phát.
ABSTRACT
VALEUR OF COMPUTED TOMOGRAPHY IN THE PRIMARY
SPONTANEOUS PNEUMOTHORAX
Le Quang Đinh, Nguyen Hoai Nam * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 13 -
No 1 – 2009: 47 - 53
Objectives: to assess the injury Bullae of Primary Spontaneous
Pneumothorax by computed tomography.
Method of research: a retrospective study.
Results: 19 patients with spontaneous pneumothorax with normal skiagram
chest after management of pneumothorax, were included in the study. In
73.7% of these cases, CT revealed underlying lung bullae as a cause for
primary spontaneous pneumothorax.
Conclusions: Our study shows that CT scan is a useful imaging modality in

sự (1996) nghiên cứu 97 bệnh nhân được phẫu thuật nội soi lồng ngực điều
trị TKMPTP, có 70 trường hợp được chụp CT-Scan thì có 60 trường hợp
phát hiện được thương tổn trên nhu mô phổi
(11)
. Theo John E. Heffner thì
bóng khí được tìm thấy trên CT-Scan là 89%
(16)
.
Gần đây với nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thái An (2001) ở 161 trường
hợp tràn khí màng phổi tự phát thì có 9 trường hợp được chụp CT-Scan,
trong đó có 3 bệnh nhân không thấy tổn thương, 1 bệnh nhân thấy bóng khí
một bên phổi, 5 bệnh nhân thấy bóng khí phổi hai bên. Tác giả Sihoe nghiên
cứu hình ảnh CT-Scan của 28 bệnh nhân cho thấy độ nhạy của CT-Scan
trong việc phát hiện bóng khí là 88%, tìm thấy bóng khí đối bên 53,6%
(17)
.
Theo tác giả Adel K. Ayed thì 7,8-20% tổng số cas tràn khí màng phổi tự
phát là tràn khí 2 bên bao gồm cùng lúc và tái phát đối bên, nguy cơ tràn khí
tái phát đối bên sau phẫu thuật là 18-50% vì vậy tác giả này khuyên để giảm
nguy cơ tái phát thì trước khi phẫu thuật nên tìm bóng khí phổi đối bên
(1)
.
Từ đó để xác định quan điểm có nên hay không chụp CT Scan ngực để tìm tổn
thương nhu mô phổi nhất là tổn thương phổi đối bên để có kế hoạch xử trí tốt
thương tổn và chiến lược trong gây mê. Chúng tôi đã tiến hành công trình
nghiên cứu với một số mục tiêu sau:
Đánh giá khả năng phát hiện kén khí phổi bằng CT Scan ngực trên bệnh
nhân tràn khí màng phổi tự phát.
Xác định tỉ lệ phát hiện kén khí phổi bằng CT-Scan ở bệnh nhân TKMPTP.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Giới tính
Bảng 1: Phân bố theo giới tính
Giới Số bệnh
nhân
Tỉ lệ (%)
Nam 17 89,5
Nữ 2 10,5
Nam chiếm tỉ lệ ưu thế so với nữ.
Tuổi
Tuổi nhỏ nhất là 18, lớn nhất 66 tuổi. Tuổi trung bình : 32,9  15,5.
Đa số bệnh nhân dưới 40 tuổi có 14 trường hợp, chiếm 73,7%.
Bệnh sử
Bảng 2 : Phân bố bệnh với thời điểm xuất hiện triệu chứng
Thời điểm xuất
hiện
Số bệnh
nhân
Tỉ lệ %
Hoạt động gắng
sức
3 15,8
Sinh hoạt thường
ngày
11 57,9
Nghỉ ngơi hoặc
ngủ
5 26,3
Đa số bệnh nhân khởi phát bệnh đột ngột mà không liên quan đến hoạt động
gắng sức. Phép kiểm Chi bình phương cho thấy không có sự khác biệt có ý
nghĩa thống kê giữa các tình huống khởi phát bệnh, p = 0,74 > 0,05.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status