Sinh h
ọc thực nghiệm
phục vụ phát triển
sản xuất và đời sống Những thành tựu mà ngành sinh
học thực nghiệm đóng góp trong
37 năm qua có ý nghĩa to lớn
trong nghiên cứu khoa học cũng
như thực tiễn sản xuất. Với tiềm
lực về khoa và công nghệ vững
mạnh; cùng với những định
hướng phù hợp ,chắc chắn rằng
đội ngũ những nhà nghiên cứu
sinh h
ọc thực nghiệm sẽ đóng góp
được nhiều hơn n
ữa cho sản xuất
và đời sống.
1 - Quá trình phát triển.
Năm 1961 là cái mốc khởi đầu của
quá trình phát triển các đơn vị
nghiên cứu của ngành sinh học
nghiên cứu. Cùng lúc đó một lực
lượng cán bộ nghiên cứu sinh vật
học đã chuyển vào thành phố Hồ
Chí Minh thành l
ập Trung tâm sinh
học thực nghiệm, nay là Viện sinh
học nhiệt đới.
Năm 1993, trên cơ sở hợp nhất 5
đơn vị nghiên cứu nghiên cứu về
sinh học thực nghiệm thành lập
Viện công nghệ sinh học thuộc
Trung tâm khoa học tự nhiên và
công nghệ Quốc gia. Viện công
nghệ sinh học là viện đầu ngành
trên lĩnh vực nghiên cứu và phát
triển công nghệ sinh học ở nước ta.
Viện được giao nhiệm vụ duy trì,
phát triển và sử dụng có hiệu quả
các ngu
ồn gen có giá trị của vi sinh
vật, thực vật và đ
ộng vật nhằm phát
triển một nền sản xuất công nghiệp
các sản phẩm công nghệ sinh học
góp phần phát triểnnông lâm ngư
nghiệp, bảo vệ sức khoẻ và môi
sinh. Viện còn có chức năng đào
tạo trên đ
ại học thuộc lĩnh vực công
quả cho công tác nghiên cứu.
2 - Một số thành tựu
Từ buổi sơ khai với số ít cán bộ
nghiên cứu, đến nay với lực lượng
hùng hậu, nhiều cán bộ có bề dày
trong nghiên cứu và nhiều cán bộ
trẻ được đào tạo cơ bản. Với trang
thiết bị nghèo nàn buổi ban đầu và
được trang thiết bị hiện đại như
ngày nay. Cùng với thời gian đội
ngũ cán bộ sinh học thực nghiệm
đã đạt những thành tựu đáng trân
trọng trong công tác phục vụ sản
xuất và đời sống.
Trong thời kỳ chiến tranh chống
Mỹ, các cán bộ trẻ đã lên đường
cùng bộ đội xác định các loài cây
ăn được, cây làm thuốc. Đã xuất
bản cuốn sách " Sổ tay rau rừng ",
là cẩm nang cho chiến sỹ ở chiến
trường. Đặc biệt việc phát hiện cây
thanh hao hoa vàng dùng để làm
thuốc chữa bệnh sốt rét. Trọng tâm
công tác nghiên cứu của các ngành
động thực vật học trong giai đoạn
này là tổ chức các chuyến thực địa
tới các vùng rừng núi xa xôi phía
thực vật chí Việt Nam". Viện chủ
trì và tham gia nhiều chương trình,
đề tài cấp nhà nước như : Sinh học
phục nông nghiệp ( 1980 - 1985 );
Công nghệ sinh học ( 1986 -
1990 )
và giai đoạn (1991 - 1995 ). Những
thành công nổi bật là các nghiên
cứu về chất bổ sung thức ăn chăn
nuôi công nghiệp như:
Vimiga,Sinsưmin, Bac
itramin. Quy
trình ủ thức ăn chăn nuôi trâu bò.
Sản xuất Giberellin dùng làm chế
phẩm kích thích cây trồng, quy
trình sản xuất tảo giàu dinh dưỡng
Spirulina ở Thuận Hải . Các kỹ
thuật cơ bản về nuôi cấy mô và tế
bào thực vật như: Nuôi cấy bao
phấn, nuôi cấy tế bào trần đư
ợc ứng
dụng và lần đầu tiên triển khai
thành công vào việc nhân nhanh
nhiều loại giống cây trồng ( khoai
tây, dứa sợi ).
Từ năm 1993 đến nay, Viện công
nghệ sinh học được thành l
ập, Viện
đã kế thừa những kết quả nghiên
dân cư , sản phẩm Microphot chứa
các vi sinh vật phân huỷ chất thải
đang được sản xuất và bán rộng rãi
trên thị trường cả nước. Công nghệ
chế biến chất thải công nghiệp mía
đường , vỏ cà phê bằng vi sinh vật
phân giải cellulose và lignin thành
phân bón cho cây trồng được triển
khai ở cả 3 miền Bắc, Trung , Nam
với trên 14 điểm và quy mô 20 000
tấn năm, góp phần tạo nên một nền
sản xuất nông nghiệp bền vững.
Công nghệ xử lý nước nhiễm bẩn
các chất hữu cơ của làng ngh
ề hoặc
nước nhiễm xăng dầu bằng tảo vi
sinh vật đang được hoàn thiện
nhưng đã gây được nhiều sự chú ý
của các địa phương và các cơ sở
công nghiệp.
Viện đã xuất bản bộ sách chuyên
khảo về công nghệ sinh học v
à giáo
trình cao học cho các ngành công
nghệ sinh học. Cùng với việc xuất
bản kỷ yếu khoa học hằng năm ,
chỉ tính từ năm 1993 đến nay đã có
458 công trình khoa học đư
ợc công
ỉ thị phân
tử đánh giá tính chịu hạn của các
giống lúa cạn ( do Rockefeller tài
trợ ); Phân lập gen mã hoá enzyme
Amylase chịu nhiệt và Pectinase
chịu lạnh và Nghiên cứu chế tạo
sensor để đo BOD và đo thuốc hoá
học tồn dư trong sản phẩm nông
nghiệp (do Cộng hoà liên bang Đ
ức
tài trợ ); Đề án công nghệ phôi
động vật với Trường đại học Pa ri
(Pháp); Thử nghiệm sản xuất LAL
- test với Công ty Immuno Đức;
Chuyển gene chịu mặn và chịu hạn
vào cây lúa do EU tài trợ ; Nghiên
cứu vi sinh vật lên men thực phẩm
truyền thống do Hiệp hội vi sinh
vật châu á tài trợ; đề án về đa dạng
sinh học và phát hiện dược chất
mới với Đại học tổng hợp Illinoi
Mỹ. Đồng thời nhiều dự án hợp tác
quốc tế khác có triển vọng được
thực hiện trong những năm tới.
Để ghi nhận công lao đóng góp c
ủa
các nhà khoa học sinh học thực
nghiệm Nhà nước đã trao tặng
Huân chương lao động hạng nhất .
+ Triển khai công nghệ sản xuất
phân bón vi sinh có khả năng cố
định đạm và phân giải lân.
+S
ản xuất thử quy mô Pilot các loại
enzym tái tổ hợp cho mục đích
công nghiệp như Amylase,
Pectinase và Lippase.
+ Phát triển các kỹ thuật chẩn đoán
nhanh bệnh ung thư bằng PCR, các
đầu đo Biosensor để xác định hàm
lượng thuốc hoá học tồn dư trong
nông sản thực phẩm và trong nước
sinh hoạt.
+ Kiểm soát và làm sạch môi
trường bằng các công nghệ cao nh
ư
: Phát triển đầu đo BOD, làm sạch
nước thải ở làng nghề, làm sạch
vùng nưóc ô nhiễm dầu.
Qua 37 năm xây dựng và trưởng
thành đội ngũ các nhà khoa học
thuộc lĩnh vực nghiên cứu sinh học
thực nghiệm đã trưởng thành một
cách mạnh mẽ về số lượng và chất
lượng. Đã và đang góp phần đánh