Ứng dụng Công nghệ
Sinh học trong điều trị
bỏng và liền vết thương.
Trong những thập niên gần đây,
công nghệ sinh học đã có những
bước phát triển mạnh mẽ với các
ứng dụng rộng rãi trong nhiều
lĩnh vực của đời sống xã hội. Đặc
biệt, trong lĩnh vực y học nói
chung và chuyên ngành bỏng nói
riêng, công nghệ sinh học đã và
đang trở thành một mũi nhọn,
góp phần làm tăng khả năng cứu
sống các bệnh nhân bỏng nặng
cũng như c
ải thiện một cách đáng
kể chất lượng cuộc sống của các
bệnh nhân sau bỏng.
Vài nét về ứng dụng công nghệ
sinh học trong điều trị bỏng và
liền vết thương trên thế giới
Nghiên cứu và sản xuất các chế
phẩm sinh học điều trị vết thương,
với các yếu tố phát triển để sản
xuất Herbecmine - một chế phẩm
có chất lượng cao trong điều trị vết
bỏng nông và bỏng trung bì sâu.
B
ằng công nghệ phân tử, nhiều loại
băng vết thương, nhiều loại thuốc
có chứa các yếu tố sinh học cũng
đã được sản xuất để điều trị vết
thương, vết bỏng. Nhiều công ty
của Anh, Mỹ, Trung Quốc đã rất
thành công trong lĩnh vực này. Tập
đoàn ANSON (Trung Quốc) đã
đưa
ra thị trường nhiều loại băng vết
thương có chứa các chế phẩm sinh
học dùng để điều trị các vết bỏng,
vết loét đạt kết quả tốt. Hiện nay,
việc nghiên cứu, sản xuất các chế
phẩm bằng công nghệ sinh học
phục vụ điều trị vết thương phần
mềm, vết bỏng dưới dạng thuốc,
băng vết thương đang là xu hướng
được nhiều nước quan tâm.
Nuôi cấy tế bào sừng, nguy
ên bào
sợi và công nghệ da nhân tạo
Năm 1968, lần đầu tiên Marvin
ngày càng có nhiều tiến bộ, với tỷ
lệ thành công rất cao, giá thành hạ.
Thay vì nuôi cấy tế bào trong môi
trường nuôi cấy ở đĩa vô khuẩn
thông thường, người ta đã sử dụng
các chất thay thế có nguồn gốc tự
nhiên, bán tổng hợp và t
ổng hợp để
tạo nên các khung sườn, các giá đỡ
để tế bào nuôi cấy bám vào đó. Da
đồng loại, dị loại, các màng
Collagen, màng Silicon, là nh
ững
chất nền được sử dụng với mục
đích như vậy. Nhờ việc sử dụng
chất nền làm giá đỡ, nhờ sự chuẩn
bị tốt nền ghép bằng việc che phủ
tạm thời bởi các loại da và màng
sinh học cũng như việc ứng dụng
các công nghệ hiện đại như Leser
Skin mà công nghệ nuôi cấy tế bào
đã không ngừng được hoàn thiện.
Không chỉ có các bước tiến trong
công nghệ nuôi cấy, việc sử dụng
các sản phẩm nuôi cấy cũng có
nhiều thay đổi. Thay vì sử dụng
đơn thuần các màng nguyên bào
sợi, tế bào sừng nuôi cấy lên vết
thương, ngày nay người ta đã kết
và đang được các nhà khoa h
ọc, các
thầy thuốc chuyên ngành bỏng,
chuyên ngành mô phôi ở nước ta
quan tâm. Viện Bỏng Quốc gia là
một trung tâm bỏng hàng đầu của
Việt Nam và cũng l
à nơi tiên phong
nghiên cứu và ứng dụng công nghệ
sinh học vào điều trị bỏng. Đơn
giản nhất là việc tìm kiếm các loại
da thay thế da tự thân, các màng
sinh học thay thế da tạm thời trong
điều trị vết thương, vết bỏng. Ứng
dụng công nghệ sinh học để xử lý
và bảo quản các loại da, các màng
sinh học thay thế da là một trong
những hướng ưu tiên của chuyên
khoa bỏng và chấn thương. Mặc dù
da tự thân là vật liệu lý tưởng nhất
để che phủ vết thương, vết bỏng,
nhưng trong nhiều trường hợp, da
tự thân không thể đáp ứng đư
ợc (do
thiếu, do thể trạng bệnh nhân
không cho phép l
ấy ). Khi đó, việc
tìm kiếm các loại da, các m
àng sinh
học thay thế da (tự thân) tạm thời
dị loại, da đồng loại, một số màng
sinh học khác cũng được sử dụng
để điều trị vết thương, vết bỏng nh
ư
màng ối lấy từ bò, từ người, màng
collagen
Bên cạnh đó, Viện Bỏng Quốc gia
cũng đã có những nghiên cứu và
hợp tác nghiên cứu với các nước
như Anh, Nga, Sinhgapo về nuôi
cấy nguyên bào sợi, tế bào sừng
trong điều trị bỏng. Kỹ thuật nuôi
cấy tế bào sừng trong phòng thí
nghiệm cũng đã được xúc tiến
trong nhiều năm qua và đã có
những thành công bước đầu. Gần
đây, Bộ Khoa học và Công nghệ đ
ã
phê duyệt Nghị định thư về hợp tác
khoa học giữa Viện Bỏng Quốc gia
và Viện Ngoại khoa Liên bang
Nga, theo đó phía Nga sẽ chuyển
giao công nghệ nuôi cấy nguyên
bào sợi cho Việt Nam. Trong năm
2002, các chuyên gia của Nga đã
sang làm việc tại Viện Bỏng Quốc
gia và Viện cũng đã cử ba cán bộ
sang Nga đ
ể học về công nghệ nuôi