Tiểu luận: Đánh giá chất lượng Giáo dục Đại học Công lập và Ngoài công lập: Thực trạng và đề xuất - Pdf 16



ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI NHÂN VĂN
KHOA GIÁO DỤC
- - -  

 - - -
TIỂU LUẬN
Đánh giá chất lượng Giáo dục Đại học
Công lập và Ngoài công lập: Thực trạng và đề xuất Giáo viên hướng dẫn: PGS. TS Phạm Lan Hương
Nhóm thực hiện : Nhóm 8
Lớp : Bồi dưỡng NVSPGVĐHCĐ -K19 H


Chí Minh
: 1
1
/20
13

CƠ SỞ LÝ LUẬN

2.1. Các khái niệm cơ bản về quản lý chất lượng giáo dục đại học
2.1.1. Chất lượng giáo dục
Với góc độ giáo dục học thì chất lượng giáo dục được giới hạn trong phạm vi
đánh giá sự phát triển của cá nhân sau quá trình học tập và sự phát triển xã hội khi họ
tham gia vào các lĩnh vực hoạt động kinh tế sản xuất, chính trị - xã hội, văn hóa - thể
thao. Nhìn từ mục tiêu giáo dục thì chất lượng giáo dục được quy về chất lượng hoạt
động của người học; đồng thời phải đáp ứng được các yêu cầu về mục tiêu của cá nhân
và yêu cầu xã hội đặt ra cho giáo dục.
Chất lượng giáo dục là những lợi ích, giá trị mà kết quả học tập đem lại cho cá
nhân và xã hội, trước mắt và lâu dài. Dưới góc độ quản lý chất lượng, thì chất lượng
giáo dục là học sinh vừa cần phải nắm được các kiến thức kỹ năng, phương pháp
chuẩn mực thái độ sau một quá trình học; đáp ứng được các yêu cầu khi lên lớp,
chuyển cấp, vào học nghề hay đi vào cuộc sống lao động

(theo PGS.TS. Nguyễn Văn
Đản – Trường đại học Sư phạm Hà Nội).
Chất lượng giáo dục là chất lượng con người được đào tạo từ các hoạt động
giáo dục. Chất lượng ở đây phải được hiểu theo hai mặt của một vấn đề: Cái phẩm
chất của con người gắn liền với người đó, còn giá trị của con người thì phải gắn liền
với đòi hỏi của xã hội. Theo quan niệm hiện đại, chất lượng giáo dục phải bảo đảm hai
thuộc tính cơ bản: tính toàn diện và tính phát triển (Tô Bá Trượng ).
Còn theo Bùi Mạnh Nhị thì cho rằng, cách hiểu phổ biến hiện nay về chất lượng
giáo dục là sự đáp ứng mục tiêu đề ra của giáo dục. Chẳng hạn mục tiêu giáo dục đại
học toàn diện gồm có: phẩm chất công dân, lý tưởng, kỹ năng sống; tri thức (chuyên
môn, xã hội, ngoại ngữ, tin học ) và khả năng cập nhật thông tin; giao tiếp, hợp tác;
năng lực thích ứng với những thay đổi và khả năng thực hành, tổ chức và thực hiện
công việc, khả năng tìm việc làm và tự tạo việc làm có ích cho bản thân và người khác.
Môn: Giáo dục đại học Việt Nam và thế giới Đề tài 5: Đánh giá chất lượng GDĐH

Trong GDĐH, ĐBCL được xác định như các hệ thống, chính sách, thủ tục,
qui
trình,
hành động và thái độ được xác định từ trước nhằm đạt được, duy trì, giám sát

củng cố chất
lượng.

Theo Warren Piper (1993), ĐBCL trong GDĐH được xem là “tổng số các

chế
và qui trình được áp dụng nhằm ĐBCL đã được định trước hoặc việc cải tiến
chất
lượng liên tục – bao gồm việc hoạch định, việc xác định, khuy ến khích, đánh giá

kiểm soát chất
lượng”.

Trong bối cảnh về sứ mạng và tầm nhìn của các trường đại học, ĐBCL nghĩa

qui
trình đảm bảo rằng các hoạt động thực tiễn, các nguyên tắc hay hành động
đều
hướng đến mục tiêu nâng cao chất lượng đặc biệt chú trọng đến các lĩnh vực chính
như
giảng dạy, học tập, nghiên cứu và các dịch vụ cộng đồng. Mục tiêu tổng quát là
liên
tục
đẩy mạnh và cải tiến chất lượng chương trình, cách phân phối chương
trình và

củng cố chất lượng giáo dục ở mức chuẩn cho phép nhất định và tìm ra những giải
pháp
để
không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục; đảm bảo để nhà trường hoàn
thành sứ
mạng.

Với quan niệm như trên, công tác ĐBCL ở Đại học được tiến hành thông
qua
việc
thực hiện bốn chức năng cơ bản của ĐBCL được vận dụng vào GDĐH, bao
gồm:

(1) Xác lập chuẩn. ĐBCL là quá trình quản lý chất lượng nhằm ngăn ngừa
những
sản phẩm kém chất lượng hay không đạt các chuẩn mực chất lượng. Vì vậy xác
lập
chuẩn là chức năng quan trọng đầu tiên của ĐBCL. Theo đó, các cơ sở đào tạo
dựa
trên
sứ mạng, mục tiêu của đơn vị để xây dựng các chuẩn mực chất lượng cần đạt
được.
Các
chuẩn mực chất lượng đồng thời thể hiện những yêu cầu, hay kì vọng
mà nhà
trường
phải phấn đấu để đạt được. Tuy nhiên, khi xác lập chuẩn chất lượng
cần tránh tình
trạng
các cơ sở đào tạo giảm các chuẩn mực chất lượng để dễ đạt được

trường
phải xây dựng các tiêu chí đánh giá cụ thể nhằm giúp các thành viên trong
Môn: Giáo dục đại học Việt Nam và thế giới Đề tài 5: Đánh giá chất lượng GDĐH
Nhóm 8 Trang 5 trường

khách hàng nhận biết quá trình thực hiện cũng như mức độ đạt được của
các qui
trình.

(4) Vận hành, đo lường, đánh giá, thu thập và xử lí số liệu. Vận hành được xem

chức năng quan trọng trong ĐBCL bởi lẽ công tác ĐBCL sẽ không được thực hiện
nếu
các qui trình đã xây dựng không được vận hành hoặc không vận hành được.
Trên cơ
sở
vận hành các qui trình ĐBCL, nhà trường cần thu thập các số liệu về
chất lượng;
tiến
hành xử lí số liệu thường xuyên, liên tục để có những thông tin
chính xác nhằm
đánh
giá công tác ĐBCL và có cơ sở đưa ra những biện pháp điều
chỉnh hữu
hiệu
.


dục có đạt các chuẩn mực hay không. Quá trình này diễn ra sau khi sinh viên đã
được đào tạo hoặc sản phẩm giáo dục đã ra đời.
Quản lý chất lượng tổng thể là cấp độ quản lý chất lượng cao nhất, hướng
t ới
việc
thường xuyên nâng cao chất lượng, mỗi người trong tổ chức, từ cán bộ đến
nhân
viên đều thấm nhuần các giá trị văn hóa chất lượng cao. Không chỉ đơn thuần tập
trung
vào việc quản lý chất lượng ở các yếu tố đầu vào và quá trình, quản lý chất
lượng
tổng
thể nhấn mạnh vào sự phát triển nền “văn hoá chất lượng” trong các
nhân viên.
Bên
cạnh đó, quản lý chất lượng tổng thể luôn hướng đến cải tiến chất
lượng và cải tiến
liên
tục chất lượng sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách
Môn: Giáo dục đại học Việt Nam và thế giới Đề tài 5: Đánh giá chất lượng GDĐH
Nhóm 8 Trang 6 hàng. Quản lý chất lượng tổng thể có mối quan hệ chặt chẽ với đảm bảo chất lượng,
tiếp tục và phát triển hệ thống đảm bảo chất lượng.
So sánh ba cấp độ của quản lý chất lượng có thể nhận thấy, ĐBCL là sự
mở
rộng
phạm vi quản lý chất lượng cho những người thừa hành. Điều này không có
nghĩa

2.2. Các khía cạnh đánh giá
Theo Phạm Thành Nghị, quá trình đảm bảo chất lượng bao giờ cũng phải bắt đầu từ sự
quản lý chất lượng bên trong cơ sở GDĐH. Và cũng theo ông, hệ thống đảm bảo chất
lượng bao gồm các thành tố: (a) Sự quản lý chất lượng bên trong; (b) Tự đánh giá; (c)
Đánh giá ngoài. Sự quản lý chất lượng bên trong liên quan đến sinh viên và giảng
viên, phương pháp quản lý giáo dục của nhà trường. Tự đánh giá là cơ sở để đảm bảo
chất lượng. Cả đánh giá trong và đánh giá ngoài đều quan tâm đến chương trình đào
tạo, phương pháp đào tạo, cách tổ chức và quản lý đào tạo của trường. Vậy để đảm bảo
và nâng cao chất lượng gắn liền với các yếu trên.
Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, có 10 khía cạnh chất lượng trong GDĐH:

- Khía cạnh 1: Sứ mạng và mục tiêu của trường đại học (Tiêu chuẩn 1)
- Khía cạnh 2: Tổ chức và quản lý (Tiêu chuẩn 2)
- Khía cạnh 3: Chương trình giáo dục (Tiêu chuẩn 3)
- Khía cạnh 4: Hoạt động đào tạo (Tiêu chuẩn 4)
Môn: Giáo dục đại học Việt Nam và thế giới Đề tài 5: Đánh giá chất lượng GDĐH
Nhóm 8 Trang 7 - Khía cạnh 5: Đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên và nhân viên (Tiêu chuẩn 5)
- Khía cạnh 6: Người học (Tiêu chuẩn 6)
- Khía cạnh 7: N ghiên cứu khoa học, ứng dụng, phát triển và chuyển giao công
nghệ (Tiêu chuẩn 7)
- Khía cạnh 8: Hoạt động hợp tác quốc tế (Tiêu chuẩn 8)
- Khía cạnh 9: Thư viện, trang thiết bị học tập và cơ sở vật chất khác (Tiêu chuẩn
9)
- Khía cạnh 10: Tài chính và quản lý tài chính (Tiêu chuẩn 10)
Có thể thấy 10 khía cạnh đã nêu trong Bộ tiêu chuẩn chất lượng trường đại học của
Việt Nam đã bao quát gần như toàn bộ các khía cạnh liên quan đến cơ chế quản lý
cũng như các mặt hoạt động của một trường đại học hiện đại, không mấy khác với các

2010, 3 triệu sinh viên vào năm 2015 và 4,5 triệu sinh viên vào năm 2020.
Cơ cấu trình độ đào tạo đại học được điều chỉnh cơ cấu đào tạo giữa các trình
độ đại học/cao đẳng/trung cấp chuyên nghiệp/dạy nghề; theo tỷ lệ sinh viên đại học
giảm còn sinh viên cao đẳng tăng lên. Quy mô của trường CĐ-ĐH CL phụ thuộc vào
mô hình tổ chức, năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ, diện tích đất đai khuôn viên nhà
trường và cách thức tổ chức đào tạo.
Môn: Giáo dục đại học Việt Nam và thế giới Đề tài 5: Đánh giá chất lượng GDĐH
Nhóm 8 Trang 9 Bảng – Quy mô đào tạo
Trường Quy mô ( không vượt quá)
Đại học Quốc gia Hà Nội
Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh
42.000 sinh viên quy đổi
Đại học T hái Nguyên, Huế, Đà Nẵng Các
trường đại học Bách khoa Hà Nội, Kinh tế Quốc
dân, Kinh tế TP. Hồ Chí M inh, Sư phạm Hà
Nội, Sư phạm TP. Hồ Chí M inh và trường đại
học Cần Thơ
35.000 sinh viên quy đổi
Trường đại học/học viện đào tạo các ngành
nghề kỹ thuật – công nghệ, kinh tế, luật, sư
phạm và các lĩnh vực kinh tế - kỹ thuật khác
15.000 sinh viên quy đổi
Trường đại học/học viện đào tạo các ngành
nghề y tế, văn hóa – xã hội
8.000 sinh viên quy đổi
Trường đại học/học viện đào tạo các ngành
nghề t huộc các lĩnh vực mỹ thuật, nghệ thuật,

lực tài chính ngoài ngân sách nhà nước.
3.1.3. Đánh giá ưu/khuyết điểm
 Ưu điểm
Thống kê của Vụ GDĐH cũng cho thấy, hệ thống các cơ sở GDĐH trong 5 năm
qua được phát triển và mở rộng trên phạm vi cả nước, đáp ứng tốt hơn nhu cầu học tập
của xã hội. Năm 2013, Việt Nam có tổng cộng 476 cơ s ở GDĐH, trong đó có 207
trường đại học, 214 trường cao đẳng và 55 viện nghiên cứu có đào tạo trình độ tiến sĩ.
Cùng với quá trình phát triển mở rộng của GDĐH, chất lượng GDĐH cũng từng bước
được cải thiện. Văn hoá chất lượng ở các cơ sở GDĐH đang được hình thành với việc
nhiều cơ sở đã thành lập cơ quan chuyên trách về đảm bảo chất lượng, một số cơ sở
GDĐH đã tham gia kiểm định chương trình đào tạo của AUN-QA bên cạnh các
chương trình kiểm định, đánh giá như: APQN - bộ tiêu chí của mạng lưới chất lượng
Châu Á - Thái Bình Dương, INQAAHE - bộ tiêu chí của mạng lưới quốc tế các tổ
chức đảm bảo chất lượng giáo dục đại học, AQAN - bộ tiêu chí của mạng lưới đảm
bảo chất lượng các nước ASEAN. AUN - bộ tiêu chí đánh giá của mạng lưới các
Môn: Giáo dục đại học Việt Nam và thế giới Đề tài 5: Đánh giá chất lượng GDĐH
Nhóm 8 Trang 11 trường ĐH Đông Nam Á… đã khẳng định hướng đi đúng đắn của hệ thống GDĐH
nước nhà.
 Khuyết điểm
- Phát triển GDĐH chưa mang tính hệ thống, còn nhiều bất cập về cơ chế quản
lý, cơ cấu ngành nghề, mạng lưới trường, quy trình đào tạo, phương pháp dạy học,
chất lượng giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục. Việc ban hành văn bản quy phạm
pháp luật chưa được quan tâm đúng mức và thiếu đồng bộ. Một ví dụ cụ thể: là chưa
có văn bản hướng dẫn thi hành Quyết định 121/2007/QĐ-TTg về Quy hoạch mạng
lưới các trường ĐH và CĐ giai đoạn 2006 - 2020; chậm ban hành các chính sách ưu
tiên, khuyến khích các cơ sở giáo dục hoạt động không vì lợi nhuận, kể cả các cơ sở
giáo dục có yếu tố nước ngoài và chưa xác định rõ cơ chế “phi lợi nhuận” nên đã hạn

Nữ/Female 13,122 13,631
Công lập/Public 20,690 23,954
Ngoài công lập/Non-Public 3,747 2,054
Phân theo trình độ chuyên môn/
Classification by qualificatinons
Tiến sĩ/PhD 633 693
Thạc sĩ/Master 8,766 10,015
ĐH, CĐ/University & College degrees 14,696 14,714
Trình độ khác/Other qualifications 342 221
ĐẠI HỌC
Giảng viên/Teaching Staff 59,672 61,674
Nữ/Female 28,051 29,194
Công lập/Public 49,742 49,932
Ngoài công lập/Non-Public 9,930 11,742
Môn: Giáo dục đại học Việt Nam và thế giới Đề tài 5: Đánh giá chất lượng GDĐH
Nhóm 8 Trang 13 Phân theo trình độ chuyên môn/

Classification by qualificatinons
Tiến sĩ/PhD 8,519 8,869
Thạc sĩ/Master 27,594 28,987
Chuyên khoa I và II/
Specialist 1-2 443 489
ĐH, CĐ/University & College degrees 22,547 23,002
Trình độ khác/Other qualifications 569 327
( Nguồn: Bộ Giáo dục và Đào tạo)
2. Chất lượng đội ngũ Giáo viên
Dù tỉ lệ giáo viên đạt chuẩn vẫn tăng qua từng năm nhưng năng lực và trình độ

cao, đặc biệt là các Phó Giáo sư, Giáo sư có độ tuổi trung bình khá cao, phân bố tập
trung chủ yếu ở một số trường đại học lớn tại các khu vực trung tâm.
Chất lượng đội ngũ GVĐH: được t hể hiện chủ yếu qua chất lượng hoạt động
giảng dạy và chất lượng N CKH của giảng viên.Tình trạng quá t ải giờ dạy của đội ngũ
GVĐH do việc thành lập ồ ạt các cơ sở GDĐH cùng với sự gia tăng nhanh chóng về
quy mô đào tạo trong khi số lượng đội ngũ cán bộ giảng dạy không tăng kịp theo tốc
độ tăng quy mô. Thực tế này diễn ra phổ biến, đặc biệt là đối với giảng viên những
môn chung như triết học, ngoại ngữ, kinh tế chính trị… và giảng viên nhóm ngành hấp
dẫn như công nghệ thông tin, ngân hàng, t ài chính kế toán Có những giảng viên dạy
1.000 tiết/năm trong khi quy định là 260 tiết/năm. Tình trạng quá tải giờ dạy diễn ra
liên tục trong thời gian dài khiến cho rất nhiều G VĐH không còn thời gian dành cho
học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, không cập nhật được một cách
thường xuyên các kiến thức, kỹ năng mới khiến cho nội dung bài giảng của họ nghèo
nàn, lạc hậu và không đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn. Phương pháp giảng dạy của
một bộ phận không nhỏ GVĐH chậm được đổi mới, chủ yếu vẫn là thuyết trình theo
kiểu thầy đọc – trò chép. Trong khi đó, công tác NCKH chưa được chú trọng; nội dung
NCKH không có chất lượng, hiệu quả, không có tính thực tiễn và khả năng ứng dụng
mà chỉ nhằm đối phó hoặc để chấm điểm bình xét thi đua, xét phong danh hiệu. Môn: Giáo dục đại học Việt Nam và thế giới Đề tài 5: Đánh giá chất lượng GDĐH
Nhóm 8 Trang 15 3.2.2. Trường ngoài công lập
1. Cơ cấu đội ngũ giảng viên
Đội ngũ giảng viên ngoài công lập chiếm tỉ lệ khá khiêm tốn chỉ khoảng trên 10%, đặc
biệt giảng viên khối Cao đẳng ngoài công lập có xu hướng giảm mạnh (từ 3747 giảng
viên năm 2012 giảm còn 2054 giảng viên năm 2013).
Bảng: Cơ cấu GV cơ hữu và GV thỉnh giảng

Hoa Sen, FPT… còn rất nhiều trường khác đội ngũ giảng viên chắp vá, tuyển giảng viên
dựa trên quen biết thiếu kiểm tra đánh giá năng lực của giảng viên nên công t ác giảng
dạy còn nhiều khuyết điểm.
Và cũng chính vì các trường ngoài công lập, giảng viên thình giảng chiếm đa số
nên công tác nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, thúc đẩy nghiên cứu khoa học
trong các trường này còn hạn chế. Đó là chưa nói đến một số trường vì lợi nhuận nên chỉ
tuyển giảng viên trình độ thấp, dạy cho đủ tiết, có khi không có hiệu trưởng, thiếu giảng
viên cơ hữu những vẫn cố tuyển sinh viên để trường khỏi bị đóng cửa (Vũ Thơ, 2013).
3.2.3. Đánh giá ưu/ khuyết điểm
 Ưu điểm:
Nhìn chung, lực lượng giảng viên trong những năm gần đây đã có những thay đổi
tích cực cả chất và lượng. Số lượng giảng viên các trường ngày càng tăng, đặc biệt là
những giảng viên trẻ vừa tu nghiệp ở các nước có trình độ tiến tiến, đem lại nguồn sinh
khí mới cho môi trường giáo dục. Trình độ, năng lực của các giảng viên ngày càng được
nâng cao. Được sự đầu tư của nhà nước và tác động xã hội hóa giáo dục đã và đang mang
lại cho đất nước lực lượng giảng viên trẻ, đầy nhiệt huyết, có trình độ chuyên môn cao.
Ngày nay trong các trường Cao đẳng và Đại học, đội ngũ giảng viên trẻ, có trình độ học
vị cao và tu nghiệp ở nước ngoài đang dần dần chiếm ưu thế. Chính điều ấy đã đem đến
cho các trường nhiều phương pháp giảng dạy tiên tiến sinh động, bên cạnh đó là công tác
nghiên cứu khoa học của giảng viên và sinh viên ngày càng được chú trọng và nâng cao.
 Nhược điểm:
Dù đã có nhiều thay đổi đáng kể, nhưng tổng quan sự phát triển vế số lượng của
giảng viên không theo kịp tốc độ phát triển của các trường. Những năm qua, các trừơng
Đại học – Cao đẳng mọc lên như nấm tạo áp lực khan hiếm giảng viên cho xã hội. Về
chất lượng giảng viên, đặc biệt ở các trường ngoài công lập nhìn chung còn nhiều hạn
chế. Bên cạnh một số trường có mời giảng viên có trình độ cao ở các trường công lập về
Môn: Giáo dục đại học Việt Nam và thế giới Đề tài 5: Đánh giá chất lượng GDĐH
Nhóm 8 Trang 17

- Hiện tại, hệ thống giáo trình đại học của Việt Nam còn hạn chế về số lượng và
chất lượng, một số giáo trình được đưa vào giảng dạy là dịch từ sách nước
ngoài.
- M ột số giáo trình cũ vẫn được đưa vào giảng dạy
1
.
3.4. Phương pháp dạy và học:
3.4.1. Trường công lập
Đoàn khảo sát thực địa thuộc Viện Hàn lâm Quốc gia Hoa K ỳ năm 2006 có
phần nhận xét về phương pháp dạy và học đại học của Việt Nam như sau:
+ Phương pháp giảng dạy không hiệu quả, quá phụ thuộc vào các bài thuyết
trình và ít sử dụng các kỹ năng học tích cực, kết quả là có ít sự tương tác giữa sinh
viên và giảng viên trong và ngoài lớp học
+ Quá nhấn mạnh vào ghi nhớ kiến thức theo kiểu thuộc lòng mà không nhấn
mạnh vào việc học khái niệm hoặc học ở cấp độ cao (như phân tích và tổng hợp), dẫn
đến hậu quả là học hời hợt thay vì học chuyên sâu
+ Sinh viên học một cách thụ động (nghe diễn thuyết, ghi chép, nhớ lại những
thông tin đã học thuộc lòng khi làm bài thi)
Với tồn tại như thế, đổi mới phương pháp dạy và học đã đang là một quyết sách
quan trọng trong cải cách giáo dục Việt Nam. Nghị quyết về đổi mới cơ bản và toàn
diện GDĐH Việt Nam giai đoạn 2006-2020 số 14/2005/NQ-CP của Chinh phủ ban
hành ngày 2/11/05 (gọi t ắt là Nghị quyết 14)

đã nêu 3 tiêu chí quan trọng cần dựa vào
để chọn một hệ phương pháp dạy và học cho từng trường hợp cụ thể:
+ Tiêu chí cần thể hiện bao quát nhất là dạy CÁCH HỌC;
+ Phẩm chất cần phát huy mạnh mẽ là tính CHỦ ĐỘNG của người học;
+ Công cụ cần khai thác triệt để là CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRUYỀN
THÔNG MỚI

kéo dài, không quan tâm đến đầu tư cơ sở vật chất và phát triển đội ngũ giảng viên).
Việc sử dụng quá đông G V thỉnh giảng như thế ngoài việc gây bị động cho các trường
này còn có thể gây tác động không tốt tới việc cải tiến, đổi mới phương pháp giảng
dạỵ do GV thỉnh giảng ít có điều kiện tham gia sinh hoạt chuyên môn tại cơ sở thỉnh
giảng và không có thời gian tập trung nghiên cứu, nâng cao chất lượng giảng dạy.
- Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Phạm Vũ Luận cũng công nhận thực tế là bên cạnh
những trường tuyển sinh - đào tạo tốt thì cũng có một số trường ngoài công lập chỉ
Môn: Giáo dục đại học Việt Nam và thế giới Đề tài 5: Đánh giá chất lượng GDĐH
Nhóm 8 Trang 20 tuyển được dưới 100 thí sinh. Điều quan trọng được nhiều chuyên gia giáo dục nhận
định, đó là từ bên trong các trường ĐH ngoài công lập vì nhiều khi các trường này mất
ổn định, là căn cơ làm giảm sút uy tín trường ĐH ngoài công lập, người học không tìm
đến.
- SV ở các trường ngoài công lập đa dạng hơn, với nhiều tầng lớp và trình độ
khác nhau làm cho việc dạy học trở nên phức tạp hơn.
- Trình độ những SV được tuyển chọn thấp hơn các trường công lập (phổ biến
là tuy ển chọn từ số SV thi rớt kỳ thi tuyển sinh vào các trường công lập) cũng có ảnh
hưởng không tốt đến việc áp dụng phương pháp dạy học tích cực

3.4.3. Đánh giá ưu/khuyết điểm
Có thể tóm tắt một số ưu, nhược điểm sau về phương pháp dạy và học ở đại học
Việt Nam:
 Ưu điểm
- Theo "Đề án đổi mới giáo dục ĐH Việt Nam", các trường ĐH đều đã áp dụng
đào tạo theo tín chỉ - loại hình đào tạo lấy người học làm trung tâm tạo ra những điều
kiện thuận lợi và động lực không nhỏ trong việc đổi mới phương pháp dạy - học
- Phương pháp dạy học được quan tẩm cải tiến, đổi mới từ cấp chủ quản đào tạo
là Bộ GD - ĐT và ngay trong nội bộ các trường để nâng cao vị thế cạnh tranh từ chất

nhận thức của người làm công tác đánh giá và người bị đánh giá, còn quá trọng điểm
số bài kiểm tra, thi, điểm chuyên cần, thang điểm chữ. Nội dung quy chế quá cụ thể
nhưng lại không đầy đủ. Quy chế không quy định

các nội dung như coi thi, thông tin
phản hồi, kỷ luật đối với GV vi phạm quy chế, khen

thưởng

đối với cán bộ và SV có
thành tích, M ột điều đáng chú ý nữa là quy chế không đặt ra yêu cầu đối với từng
công việc mà thiên về quy định cách thức thực hiện, do đó,

dễ làm giảm sức sáng tạo
của các trường ĐH và không có cơ sở để đánh giá hiệu quả

công

việc. Thêm nữa, phúc
khảo bài thi để đảm bảo tính chính xác, khách quan cũng

chưa được đề cập trong quy
chế. Về vấn đề này, nhiều nhà quản lý cho rằng phúc khảo

khó quản lý và dễ nảy sinh
nhiều tiêu cực. Như vậy, không quản lý đợc mà không quy

định vô hình chung đã
gây thiệt thòi cho một số SV và làm cho KTĐG thiếu khách quan,


+ Kiểm tra- đánh giá giúp cho giảng viên và sinh viên tích lũy kinh nghiệm trong
giảng dạy, học tập, kiểm tra và thi cử.
+ Kết quả thi, kiểm tra đánh giá phần nào chỉ cho sinh viên những thiếu hụt giữa
nhu cầu đào tạo và khả năng bản thân.
 Năm thiếu sót:
Môn: Giáo dục đại học Việt Nam và thế giới Đề tài 5: Đánh giá chất lượng GDĐH
Nhóm 8 Trang 23 + M ục đích của kiểm tra – đánh giá trong giảng dạy đh chưa được hiểu thống nhất
và chưa thể hiện vào kết quả của kiểm tra – đánh giá. Quan niệm kiểm tra – đánh giá
còn tùy thuộc vào kinh nghiệm và con đường riêng của mỗi giảng viên, không thống
nhất ở bộ môn và do đó khó đạt được sự đánh giá công bằng.
+ Phương pháp kiểm tra đơn giản, chủ yếu là thi viết nên độ tin cậy thấp, chưa
đem lại sự tin tưởng cho người học và xã hội.
+ Kết quả của kiểm tra – đánh giá ít tác dụng đối với cải tiến giảng dạy của giảng
viên, đối với thay đổi học tập của sinh viên và cải tiến chất lượng đào tạo đại học của
nhà trường.
+ Kiểm tra – đánh giá chưa kích thích được động lực học tập và thúc đẩu quá
trình phát triển của sinh viên.
+ Điểm số và cách phân loại hiện nay chưa phản ánh thực chất kết quả học tập
của sinh viên.
Môn: Giáo dục đại học Việt Nam và thế giới Đề tài 5: Đánh giá chất lượng GDĐH
Nhóm 8 Trang 24 3.6. Quản lý tài chính
3.6.1. Trường công lập
.
Hình 1- Quy trình lập và phân bổ dự toán ngân sách Nhà nước cho Giáo dục


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status