Sáng kiến kinh nghiệm môn vật lí – Năm học 2007 - 2008
Th viÖn SKKN cña Quang HiÖu
/>MỞ ĐẦU
I. LÍ DO CHỌN ĐỂ TÀI
Làm các thí nghiệm vật lí ở nhà trường là một trong các biện pháp quan trọng
nhất để phấn đấu nâng cao chất lượng dạy và học Vật lí. Điều này quyết định bởi đặc
điểm của khoa học Vật lí vốn là khoa học thực nghiệm và bởi nguyên tắc dạy học là
nguyên tắc trực quan “học đi đôi với hành”.
Thường thì, do kinh nghiệm sống học sinh đã có một số vốn hiểu biết nào đó về
các hiện tượng Vật lí. Nhưng không thể coi những hiểu biết ấy là cơ sở giúp họ tự
nghiên cứu Vật lí bởi vì trước một hiện tượng vật lí, học sinh có thể có những hiểu biết
khác nhau, thậm chí là sai. Ví dụ: Học sinh nào cũng thấy được mọi vật rơi là do Trái
Đất hút, nhưng không ít học sinh lại cho rằng vật nặng thì rơi nhanh hơn vật nhẹ. Vì
vậy, khi giảng dạy Vật lí, giáo viên một mặt phải tận dụng những kinh nghiệm sống của
học sinh, nhưng mặt khác phải chỉnh lí, bổ sung, hệ thống hoá những kinh nghiệm đó và
nâng cao lên mức chính xác, đầy đủ bằng các thí nghiệm Vật lí, nhờ đó mà tránh được
tính chất giáo điều, hình thức trong giảng dạy.
Làm các thí nghiệm Vật lí có tác dụng to lớn trong việc phát triển nhận thức của
học sinh, giúp các em quen dần với phương pháp nghiên cứu khoa học, vì qua đó các
em được tập quan sát, đo đạc, được rèn luyện tính cẩn thận, kiên trì, điều đó rất cần cho
việc giáo dục kỹ thuật tổng hợp, chuẩn bị cho học sinh tham gia hoạt động thực tế. Do
được tận mắt, tự tay tháo lắp các dụng cụ, thiết bị và đo lường các đại lượng, , các em
có thể nhanh chóng làm quen với những dụng cụ và thiết bị dùng trong đời sống và sản
xuất sau này.
Đặc biệt, việc thực hiện các thí nghiệm Vật lí là rất phù hợp với đặc điểm tâm –
sinh lí và khả năng nhận thức của học sinh, đồng thời tạo điều kiện rèn luyện cho học
sinh các kỹ năng thực hành và thái độ ứng xử trong thực hành, cần thiết cho việc học tập
Vật lí ở các cấp học trên.
Từ năm học 2003 – 2004, Bộ giáo dục đã triển khai thay sách giáo khoa với mục
tiêu là để giảm tải những kiến thức mang tính hàn lâm, tăng tính chủ động cho học sinh.
Cụ thể, phần lớn các kiến thức mới đều được rút ra từ các kinh nghiệm, nhiều tiết thực
Thí nghiệm biểu diễn là thí nghiệm do giáo viên trình bày ở trên lớp.
Căn cứ vào mục đích, có thể chia thí nghiệm biểu diễn thành 3 loại:
1. Thí nghiệm nêu vấn đề
- Thí nghiệm này nhằm nêu lên vấn đề cần nghiên cứu tạo ra tình huống có vấn
đề làm tăng hiệu quả của dạy học.
+ Ví dụ: Trước khi dạy bài áp suất khí quyển giáo viên có thể làm thí nghiệm: Đổ
đầy một cốc nước rồi đậy lên miệng cốc một mảnh giấy, giữ và lật ngược cốc lại rồi
buông tay ra sẽ thấy tờ giấy không rơi. Giáo viên nêu vấn đề cho bài học: “Tại sao lại có
hiện tượng đó? Để giải thích được, chúng ta đi vào nghiên cứu bài mới.”
2. Thí nghiệm giải quyết vấn đề:
- Thí nghiệm thuộc bài này được thực hiện giải quyết vấn đề đặt ra sau phần nêu
vấn đề. Bao gồm hai loại thí nghiệm:
a. Thí nghiệm khảo sát
- Là thí nghiệm tiến hành nghiên cứu vấn đề đặt ra thông qua đó giáo viên hướng
dẫn học sinh đi đến khái niệm cần thiết.
+ Ví dụ: Thí nghiệm về sự sinh ra lực của chất rắn khi dãn nở gặp vật cản.
b. Thí nghiệm kiểm chứng
- Là thí nghiệm dùng để kiểm tra lại những kết luận được suy ra từ lí thuyết.
+ Ví dụ: Thí nghiệm kiểm tra lại hiện tượng suy ra từ lí thuyết ở bài tập 1 – Bài
30: Bài tập vận dụng quy tắc nắm tay phải và quy tắc bàn tay trái - Vật lí 9.
3. Thí nghiệm củng cố:
Giáo viên: Bùi Thị Kim Oanh - Trường THCS Kim Đồng
3
Sáng kiến kinh nghiệm môn vật lí – Năm học 2007 - 2008
- Thí nghiệm thuộc loại này dùng để củng cố kiến thức đã nghiên cứu bao gồm cả
những thí nghiệm nói lên ứng dụng của kiến thức Vật lí trong đời sống và trong kỹ
thuật.
+ Ví dụ: Khi nghiên cứu về áp suất khí quyển giáo viên có thể làm thí nghiệm
ứng dụng để chế tạo ra áp kế như hình vẽ:
Hoặc: Khi học về chương âm học (Vật lí 7) có thể cho học sinh làm những chiếc
Sáng kiến kinh nghiệm môn vật lí – Năm học 2007 - 2008
- Loại thí nghiệm này học sinh chưa biết kết quả thí nghiệm, phải thông qua thí
nghiệm mới tìm ra được các kết luận cần thiết. Loại thí nghiệm này được tiến hành
trong khi nghiên cứu kiến thức mới.
- Ví dụ: Các thí nghiệm nghiên cứu về đặc điểm chung của nguồn âm của bài
“nguồn âm” - Vật lí 7.
b. Thí nghiệm kiểm nghiệm
- Loại thí nghiệm này được tiến hành kiểm nghiệm lại những kết luận đã được
khẳng định cả về lí thuyết và thực nghiệm nhằm đào sâu vấn đề hơn.
+ Ví dụ: Thí nghiệm “Kiểm nghiệm mối quan hệ Q ~ I
2
trong định luật Jun
-Lenxơ” - Vật lí 9.
3. Căn cứ vào hình thức tổ chức thí nghiệm:
Có thể chia thí nghiệm thực hành thành 3 loại:
a. Thí nghiệm thực hành đồng loạt.
-Loại thí nghiệm này tất cả các nhóm học sinh đều cùng làm một thí nghiệm,
cùng thời gian và cùng một kết quả. Đây là thí nghiệm được sử dụng nhiều nhất hiện
nay vì có nhiều ưu điểm. Đó là:
+ Trong khi làm thí nghiệm các nhóm trao đổi giúp đỡ nhau và kết quả trung bình
đáng tin cậy hơn.
+ Việc chỉ đạo của giáo viên tương đối đơn giản vì mọi việc uốn nắn hướng dẫn,
sai sót, tổng kết thí nghiệm đều được hướng dẫn đến tất cả học sinh.
Bên cạnh những ưu điểm, còn một số hạn chế:
+ Do trình độ các nhóm không đồng đều nên có nhóm vội vàng trong khi thao tác
dẫn đến hạn chế kết quả.
+ Đòi hỏi nhiều bộ thí nghiệm giống nhau gây khó khăn về thiết bị.
b. Thí nghiệm thực hành loại phối hợp:
-Trong hình thức tổ chức này học sinh được chia thành nhiều nhóm khác nhau,
mỗi nhóm chỉ làm thí nghiệm một phần đề tài trong thời gian như nhau, sau đó phối hợp
lực cao nên chỉ thích hợp cho các lớp trên.
B. CÁC LOẠI BÀI HỌC THÍ NGHIỆM THỰC HÀNH VẬT LÍ:
1. Thí nghiệm thực hành khảo sát đồng loạt lớp:
-Trong kiểu bài này tất cả các nhóm học sinh cùng làm thí nghiệm khảo sát trong
giờ học thay cho thí nghiệm biểu diễn của giáo viên để nhận thức kiến thức mới. Nội
dung có thể là định tính hay định lượng.
2. Thí nghiệm thực hành kiểm nghiệm đồng loạt lớp:
-Loại thí nghiệm này thường sử dụng cho thí nghiệm định lượng.
-Ví dụ: Thí nghiệm kiểm nghiệm độ lớn của lực đẩy acsimét - Vật lí 8
3. Thí nghiệm thực hành ở ngoài lớp:
-Giáo viên hướng dẫn học sinh làm thí nghiệm ở nhà với mục đích chuẩn bị bài
sau hoặc củng cố bài học.
-Ví dụ: Thí nghiệm làm dàn của học sinh ở bài tập 10.4, 10.5 – Bài tập Vật lí 7.
Thí nghiệm nghiên cứu hiện tượng khuếch tán với dung dịch đồng sunfát (CuSO
4
) - Vật
lí 8.
Giáo viên: Bùi Thị Kim Oanh - Trường THCS Kim Đồng
6
Sáng kiến kinh nghiệm môn vật lí – Năm học 2007 - 2008
PHẦN II: MỘT SỐ BIỆN PHÁP THỰC HIỆN.
I. Đối với thí nghiệm biểu diễn:
Để nâng cao chất lượng và hiệu quả của các thí nghiệm biểu diễn, bản thân tôi
luôn có gắng thực hiện tốt các nội dung sau:
1. Thí nghiệm phải đảm bảo thành công: Nếu thí nghiệm thất bại học sinh sẽ
mất tin tưởng vào bài học và ảnh hưởng xấu đến uy tín của giáo viên. Muốn làm tốt
được điều này, giáo viên phải:
-Am hiểu bản chất của các hiện tượng vật lí xảy ra trong thí nghiệm.
-Nắm vững cấu tạo, tính năng, đặc điểm của từng dụng cụ thí nghiệm cùng với
những trục trặc có thể xảy ra để biết cách kịp thời khi phải sửa chữa. Muốn vậy, giáo
năng, cách bảo quản dụng cụ để không làm hỏng dụng cụ.
6. Phải phát huy được tác dụng của thí nghiệm biểu diễn. Điều đó đòi hỏi thì:
-Thí nghiệm phải được tiến hành hữu cơ với bài học, tuỳ vào mục đích của bài
học mà đưa thí nghiệm đúng lúc.
-Thí nghiệm phải tiến hành kết hợp với phương pháp giảng dạy khác nhất là
phương pháp đàm thoại và vẽ hình.
-Thí nghiệm chỉ có hiệu quả tốt khi có sự tham gia tích cực, có ý thức của học
sinh. Vì vậy giáo viên phải làm cho học sinh hiểu rõ mục đích của thí nghiệm, cách bố
trí thí nghiệm và các dụng cụ của thí nghiệm. Học sinh trực tiếp quan sát và rút ra kết
luận cần thiết.
II. Đối với thí nghiệm thực hành:
Để nâng cao chất lượng và hiệu quả của thí nghiệm thực hành, bản thân tôi luôn
cố gắng thực hiện tốt các nội dung sau:
1. Chuẩn bị tốt dụng cụ thí nghiệm thực hành, đảm bảo đủ vể số lượng, chất
lượng. Điều này đòi hỏi giáo viên cần nghiên cứu kĩ chương trình thực hành ngay từ
đầu năm học, xác định cần dụng cụ gì, số lượng bao nhiêu, còn thiếu những gì để có kế
hoạch giải quyết trong năm bằng cách mua thêm hoặc tự làm hoặc hướng dẫn học sinh
tự làm.
2. Trình tự tổ chức một thí nghiệm thựe hành. Tôi thường tiến hành theo các
bước sau:
a. Chuẩn bị
-Giáo viên cần đặt vấn đề vào bài, gợi ý để học sinh phát hiện được nội dung kiến
thức cần nghiên cứư, từ đó tiếp tục gợi ý đê học sinh nêu rõ mục đích của thí nghiệm là
gì.
-Giáo viên có thể dùng phương pháp đàm thoại kết hợp vẽ hình để học sinh lập kế
hoạch tiến hành thí nghiệm.
-Giáo viên giới thiệu dụng cụ thí nghiệm và các thao tác mẫu.
b. Tiến hành thí nghiệm
Giáo viên: Bùi Thị Kim Oanh - Trường THCS Kim Đồng
8
II. Chuẩn bị:
1. Nhóm HS
- 1 nguốn điện 6V, 1 công tắc, 1 ampe kế và 1 vôn kế có GHĐ và ĐCNN phù
hợp, 1 bóng đèn pin 2,5V - 1W, 1 quạt điện nhỏ có HĐT định mức 2,5V, 1 biến trở con
chạy loại 20Ω – 2A.
2. Lớp
- Mỗi HS chuẩn bị một báo cáo TH đã làm phần trả lời câu hỏi.
- Bảng phụ ghi tóm tắt các bước tiến hành TN xác định công suất của bóng đèn ở
các hiệu điện thế khác nhau và công suất của quạt điện.
III. Tiến trình bài giảng:
1. Ổn định tổ chức (1 phút):
- Lớp trưởng báo cáo sĩ số lớp:
2. Nội dung tiết học
Trợ giúp của GV Hoạt động của HS Ghi bảng
Hoạt động 1: Kiểm tra bài cũ, tổ chức tình huống học tập
(7 phút)
O: Lớp phó học tập báo cáo
tình hình chuẩn bị bài của các
- Cá nhân thực hiện theo yêu
cầu của GV:
Giáo viên: Bùi Thị Kim Oanh - Trường THCS Kim Đồng
10
Sáng kiến kinh nghiệm môn vật lí – Năm học 2007 - 2008
bạn trong lớp?
O: Cho cô biết: Công suất
của một dụng cụ điện hoặc
một đoạn mạch liên hệ với
hiệu điện thế và cường độ
dòng điện bằng hệ thức nào?
(HS trả lời – GV ghi vào phần
+ Đo hiệu điện thế bằng vôn
kế. Mắc vôn kế song song
với đoạn mạch cần đo hiệu
điện thế, sao cho chốt (+)
của vôn kế được mắc về phía
cực dương của nguồn điện.
+ Đo cường độ dòng điện
bằng ampe kế. Mắc ampe kế
nối tiếp với đoạn mạch cần
đo cường độ dòng điện sao
cho chốt (+) của ampe kế
được mắc về phía cực dương
của nguồn điện.
+ 1 HS lên bảng vẽ sơ đồ
mạch điện theo yêu cầu của
GV, HS dưới lớp vẽ vào vở,
nêu nhận xét.
+ Vôn kế đo hiệu điện thế
giữa hai đầu bóng đèn, ampe
Giáo viên: Bùi Thị Kim Oanh - Trường THCS Kim Đồng
11
Sáng kiến kinh nghiệm môn vật lí – Năm học 2007 - 2008
O: Muốn xác định công suất
của bóng đèn điện ở những
hiệu điện thế khác nhau ta cần
dùng thêm bộ phận nào? Cách
mắc bộ phận đó vào mạch
điện?
GV: Đặt 1 biến trở vào sơ đồ
trên bảng và hỏi:
lời theo yêu cầu của GV,
nhận xét câu trả lời của bạn.
-Cá nhân nắm vấn đề cần
nghiên cứu của tiết học, ghi
tên bài học vào vở.
Bài 15:
THỰC HÀNH XÁC
ĐỊNH CÔNG SUẤT
CỦA CÁC DỤNG CỤ
ĐIỆN
Giáo viên: Bùi Thị Kim Oanh - Trường THCS Kim Đồng
12
Sáng kiến kinh nghiệm môn vật lí – Năm học 2007 - 2008
Hoạt động 2: Tìm hiểu sự chuẩn bị dụng cụ, làm quen dụng cụ cho tiết thực hành
(5phút)
GV: Thông báo nội dung của
tiết thực hành:
- Xác định công suất của
bóng đèn với các hiệu điện
thế khác nhau.
- Xác định công suất của quạt
điện khi mắc vào hiệu điện
thế bằng hiệu điện thế định
mức của quạt.
O: Để thực hiện những nội
dung đó cần phải chuẩn bị
những dụng cụ gì?
GV: Đưa ra các dụng cụ giới
thiệu để HS quan sát và chốt
cách sử dụng một số dụng cụ.
- Nhóm đọc SGK, thảo luận,
nêu các bước tiến hành của
TN.
- Cá nhân đọc lại một lần
nữa các bước tiến hành.
- Nhóm trưởng nhận dụng cụ
điều khiển nhóm thực hiện
theo yêu cầu của GV.
- Cá nhân trả lời:
1. Xác định công suất
của bóng đèn với các
hiệu điện thế khác
nhau:
Bước 1: Mắc mạch điện
theo sơ đồ, đặt biến trở ở
giá trị lớn nhất.
Bước 2: Điều chỉnh biến
trở để:
U
1
= U
v
= 1V
=>I
1
= I
a
= ?
Bước 3: Lặp lại bước 2
Giáo viên: Bùi Thị Kim Oanh - Trường THCS Kim Đồng
= 2,0V => I
3
= ?
Bước 4: Thảo luận
nhóm hoàn thành ý a, b
của phần 2 trong báo
cáo.
Nhận xét: ?
Hoạt động 4: Thực hành xác định công suất của quạt điện
(9 phút)
O: Đê thực hiện nội dung này
cần những dụng cụ nào?
O: hãy đọc thông tin hướng
dẫn thực hành của mục 2
phần II trong SGK để cùng
nhau thảo luận nêu lên các
bước tiến hành TN?
GV: Cho 2 HS nêu, chốt các
bước bằng bảng phụ, yêu cầu
HS đọc lại.
GV: Yêu cầu nhóm trưởng
điều khiển nhóm để các thành
viên trong nhóm đều được
tiến hành và hoàn thành TN
trong 6 phút. Chú ý trong thao
tác: thực hiện đúng quy tắc
mắc biến trở trước khi bật
nguồn và đóng công tắc.
O: Côn suất của quạt điện đo
được trong TN được gọi là
= 2,5 V
=>I
1
= I
a
= ?
Bước 3: Lặp lại bước 2
với:
U
2
= U
v
= 2,5V=> = ?
U
3
= U
v
= 2,5V = =?
Bước 4: Thảo luận
nhóm hoàn thành ý a, b
của phần 3 trong báo
cáo.
Giáo viên: Bùi Thị Kim Oanh - Trường THCS Kim Đồng
14
Sáng kiến kinh nghiệm môn vật lí – Năm học 2007 - 2008
mức của quạt.
Hoạt động 5: Tổng kết đánh giá thái độ học tập của học sinh
(8 phút)
GV: Cho cá nhân hoàn thành
báo cáo, nhóm bình bầu chấm
cáo thực hành.
- Nhóm bình bầu chấm
điểm về ý thức thực hành của
từng thành viên trong nhóm.
- Cá nhân trả lời:
Nếu tăng hoặc giảm hiệu
điện thế giữa hai đầu dụng
cụ điện đi n lần thì công suất
tiêu thụ điện của dụng cụ sẽ
tăng hoặc giảm đi n
2
.
+ Khi dụng cụ được dùng ở
hiệu điện thế định mức thì
công suất tiêu thụ điện của
dụng cụ bằng công suất định
mức.
Giáo viên: Bùi Thị Kim Oanh - Trường THCS Kim Đồng
15
Sáng kiến kinh nghiệm môn vật lí – Năm học 2007 - 2008
- Ý thức kỉ luật.
Hoạt động 6: Hướng dẫn về nhà
(1 phút)
GV: Về nhà xem lại nội dung
bài TH.
- Trình bày vào vở nội dung
trả lời của câu hỏi “Muốn có
công suất tiêu thụ của một
bóng đèn ta cần phải có
những dụng cụ gì? hãy nêu
nghiệm.
3. Thái độ
- Cẩn thận, tích cực, trung thực trong thí nghiệm.
II. Chuẩn bị đồ dùng:
1. Cho mỗi nhóm HS:
- 1 thấu kính hội tụ có tiêu cự cần đo.
- 1 vật sáng hình chữ F khoét trên màn chắn sáng.
- 1 nguồn sáng.
- 1 màn hứng nhỏ (màu trắng).
- 1 giá quang học có thước đo.
2. Lớp
- Máy chiếu.
- Giấy trong ghi tóm tắt các bước thí nghiệm.
Các bước tiến hành:
Bước 1: Đo chiều cao của vật : h = mm.
Bước 2: Đo vật và màn ảnh ở khá gần thấu kính, cách thấu kính những
khoảng bằng nhau. Dịch chuyển đồng thời vật và màn ảnh ra xa thấu kính những
khoảng bằng nhau => dừng khi thu được ảnh rõ nét.
Bước 3: Kiểm tra điều kiện d’ = d, h’ = h có thoả mãn không.
Bước 4: Khi 2 điều kiện trên đã thoả mãn thì đo khoảng cách từ vật tới màn
ảnh và tính tiêu cự của thấu kính theo công thức : f = (d’ + d) / 4.
Giáo viên: Bùi Thị Kim Oanh - Trường THCS Kim Đồng
17
Sáng kiến kinh nghiệm môn vật lí – Năm học 2007 - 2008
Làm thí nghiệm thêm 2 lần, hoàn thành các kết quả đo vào báo cáo thí
nghiệm. Tính giá trị trung bình của tiêu cự thấu kính đo được.
- Mỗi HS chuẩn bị một mẫu báo cáo thí nghiệm đã trả lời sẵn các câu hỏi.
III. Tiến trình bài giảng
1. Ổn định tổ chức (1 phút):
Sĩ số: Lớp trưởng báo cáo sĩ số.
nghiên cứu của tiết học.
- Cá nhân ghi tên bài học
vào vở.
Bài 46:
THỰC HÀNH ĐO
TIÊU CỰ CỦA
THẤU KÍNH HỘI
TỤ
Giáo viên: Bùi Thị Kim Oanh - Trường THCS Kim Đồng
18
Sáng kiến kinh nghiệm môn vật lí – Năm học 2007 - 2008
2 điểm ý thức do nhóm bình bầu
vào cuối giờ. Tổng điểm là 10.
Vì vậy cô mong các em cùng cố
gắng.
Hoạt động 2: Trình bày việc chuẩn bị báo cáo thực hành, đó là việc trả lời câu hỏi về
cơ sở lí thuyết của bài thực hành (10 phút)
GV: Giờ trước cô đã dặn các em
về nhà chuẩn bị báo cáo TN
trong đó trả lời sẵn các câu hỏi.
O: Lớp phó học tập báo cáo kết
quả chuẩn bị bài của lớp?
GV: Vẽ hình lên bảng.
O: 1 em lên bảng dựng hình ảnh
A’B’ của vật AB khi d = 2f,
AB
∆
, A
∈
∆
chính ta có ảnh A’ của A.
- Cá nhân HS trả lời theo
yêu cầu của GV:
+ Chứng minh:
Tứ giác ABIO là hcn =>
OF’ là đường trung bình của
∆
BIB’.
=>
∆
ABO =
∆
A’B’O.
=> AO = A’O (d = d’).
AB = A’B’ (h = h’).
1. Dụng cụ:
(sgk T 124)
2. Lí thuyết
AB
∆
, A
∈
∆
AO = d = 2f
+ Ảnh thật ngược
chiều với vật.
+ d’ = d
Giáo viên: Bùi Thị Kim Oanh - Trường THCS Kim Đồng
19
Sáng kiến kinh nghiệm môn vật lí – Năm học 2007 - 2008
- Cá nhân HS trả lời theo
yêu cầu của GV:
+ Dụng cụ: 1 thấu kính hội
tụ có tiêu cực cần đo, 1 vật
sáng có dạng chữ F, 1 màn
ảnh, 1 giá quang học có các
giá đỡ vật và có gắn thước
đo.
- Cá nhân HS quan sát các
dụng cụ GV giới thiệu và
nắm cách sử dụng chúng.
- Cá nhân HS nêu cách bố
trí và tiến hành TN. Trả lời
theo yêu cầu của GV.
+ Khi có ảnh rõ nét thì vị trí
của màn ảnh là vị trí của
ảnh.
+ Vì cảm nhận độ rõ nét của
ảnh ở mỗi người khác nhau
nên phải kiểm tra lại hai
điều kiện.
+ h’ = h
f = (d + d’) / 4
3. Báo cáo thực
hành:
Giáo viên: Bùi Thị Kim Oanh - Trường THCS Kim Đồng
20
Sáng kiến kinh nghiệm môn vật lí – Năm học 2007 - 2008
GV: Chốt các bước làm thí
nghiệm trên máy chiếu, yêu cầu
hành:
1. Lắp ráp thí nghiệm
2. Tiến hành thí
nghiệm.
Hoạt động 4: Hoàn thành báo cáo, củng cố bài học
(8 phút)
GV: yêu cầu các cá nhân dựa
trên kết quả TH của nhóm, hoàn
thành báo cáo của mình.
O: Báo cáo kết quả TN của
nhóm?
O: Tại sao các nhóm lại có kết
quả khác nhau đến như vậy?
GV: Cho các nhóm kiểm tra kích
thước, độ dày của các nhóm để
tìm ra nguyên nhân, rút ra nhận
xét: Với các thấu kính cùng loại
- Cá nhân hoàn thành báo
cáo TN dựa trên kết quả TN
của nhóm.
- Đại diện nhóm báo cáo kết
quả TN của nhóm.
- Các nhóm thảo luận rút ra
nhận xét.
III. Hoàn thành báo
cáo.
Giáo viên: Bùi Thị Kim Oanh - Trường THCS Kim Đồng
21
Sáng kiến kinh nghiệm môn vật lí – Năm học 2007 - 2008
có cùng kích thước, thấu kính
Hoạt động 4: Hướng dẫn về nhà
(1 phút)
- Xem lại nội dung bài TH.
- Quan sát một số máy ảnh trong
thực tế và tìm hiểu cách sử dụng
chung của các máy ảnh đó.
- Đọc bài mới: “Sự tạo ảnh trên
phim trong máy ảnh”.
- Cá nhân ghi nhớ nội dung
về nhà.
IV: Về nhà
IV: Rút kinh nghiệm
o0o
Giáo viên: Bùi Thị Kim Oanh - Trường THCS Kim Đồng
22
Sáng kiến kinh nghiệm môn vật lí – Năm học 2007 - 2008
PHẦN III: ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC QUA QUÁ TRÌNH
GIẢNG DẠY.
Năm học 2007 – 2008 là năm học thứ 6 thực hiện theo chương trình sách giáo
khoa mới trên toàn quốc. Với sự trang bị tương đối đầy đủ các thiết bị đồ dùng dạy học,
cùng với sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi đã đạt được một số kết quả trong quá trình
giảng dạy của mình. Cụ thể:
1. Về kiến thức
Học sinh nắm chắc những kiến thức cơ bản của các bài học dựa trên cơ sở tái hiện
lại được các thí nghiệm của bài học. Có mở rộng và nâng cao một số kiến thức phù hợp
cho đối tượng học sinh giỏi.
8A5 44 17 38.6 19 43.2 7 15.9 1 2.3 0 0
9A1 35 14 40.0 15 42.9 6 17.1 0 0 0 0
9A2 32 5 15.6 9 28.1 14 43.8 4 12.5 0 0
9A3 36 8 22.2 19 52.8 9 25 0 0 0 0
9A4 35 12 34.2 10 28.6 13 37.2 0 0 0 0
9A5 44 31 70.5 11 25.0 2 4.5 0 0 0 0
Giáo viên: Bùi Thị Kim Oanh - Trường THCS Kim Đồng
24
Sáng kiến kinh nghiệm môn vật lí – Năm học 2007 - 2008
KẾT LUẬN
Thực hiện đề tài này, bản thân tôi nhận thấy đề tài đã đạt được ở mức độ nhất
định về nhiều mặt. Cụ thể:
1. Về phương pháp nghiên cứu
Tôi đã rút ra được một số kinh nghiệm cho bản thân về lí luận phương pháp giảng
dạy thí nghiệm Vật lí trên cơ sở đó có thể vận dụng vào công việc giảng dạy của mình.
2. Về nội dung:
Đề tài đã giúp tôi có kiến thức cơ bản về cách thức tổ chức và tiến hành một thí
nghiệm Vật lí – dù là thí nghiệm biểu diễn hay thí nghiệm thực hành, từ đó góp phần
nâng cao chất lượng học cho học sinh.
Bên cạnh những kết quả đạt được đó, trong đề tài này còn bộ lộ một số hạn chế
như nội dung chưa thật đầy đủ, trình bày chưa thật khoa học Bởi vậy tôi luôn đặt cho
mình nhiệm vụ không ngừng học hỏi, nghiên cứu để hoàn thành tốt đẹp mục đích đã đề
ra trong đề tài này
Hạ Long, ngày 15 tháng 1 năm 2008
Người viết
Bùi Thị Kim Oanh
Giáo viên: Bùi Thị Kim Oanh - Trường THCS Kim Đồng
25