Hoàn thiện công tác Kế toán chi phí sản xuất & tính giá thành sản phẩm trong Công ty xây dựng & PTNT thuộc Tổng Công ty xây dựng & PTNT - Pdf 16

Lời nói đầu
Hiện nay, trong xu thế đổi mới của đất nớc, nên kinh tế thị ttrờng đã và đang
mở ra nhiều cơ hội cũng nh nhiều thách thức lớn đối với các doanh nghiệp. Để
có thể đứng vững và không ngừng lớn mạnh, phát triển, đòi hỏi các doanh
nghiệp phải chú trọng đến tất cả các khâu trong quá trình sản xuất, từ khi bỏ
ra vốn cho đến khi thu đợc vốn về, tiết kiệm chi phí và thu đợc lợi nhuận cao để
đảm bảo bù đắp đợc chi phí bỏ ra, thực hiện nghĩa vụ với nhà nớc, cải thiện
đời sống cho ngời lao động và thực hiện tái sản xuất mở rộng, không ngừng
phát triển.
Xây dựng là một trong những ngành kinh tế lớn của nền kinh tế quốc dân,
đóng vai trò chủ chốt ở khâu cuối cùng của quá trình sáng tạo nên cơ sở vật
chất kỹ thuật và tài sản cố định. Sản phẩm của ngành xây dựng có tính chất
kinh tế, kỹ thuật, văn hóa, nghệ thuật và xã hội tổng hợp. Do đó các công trình
xây dựng có tác động quan trọng đối với tốc độ tăng trởng kinh tế và đẩy mạnh
phát triển khoa học kỹ thuật, góp phần phát triển văn hóa và nghệ thuật kiến
trúc, môi trờng sinh thái.
Hàng năm ngành xây dựng cơ bản thu hút gần 30% tổng vốn đầu t của cả n-
ớc. Với nguồn vốn đầu t lớn nh vậy cùng với đặc điểm sản xuất của ngành là
thời gian thi công kéo dài và thờng trên quy mô lớn. Vấn đề đặt ra ở đây là làm
sao quản lý vốn tốt, có hiệu quả khắc phục tình trạng thất thoát và lãng phí
trong quá trình thi công, giảm chi phí giá thành, tăng tính canh tranh cho
doanh nghiệp.
Mặc khác trong ngành xây dựng cơ bản, việc hạ giá thành sản phẩm còn tạo
tiền đề cho các ngành khác trong nền kinh tế quốc dân cùng hạ giá thành sản
phẩm. Muốn hạ giá thành, doanh nghiệp cần phải tiết kiệm tối đa các chi phí
phục vụ cho sản xuất sản phẩm đó. Song yêu cầu đặt ra là cũng phải thỏa mãn
chất lợng. Để đạt đợc điều đó, có rất nhiều biện pháp giảm chi phí đợc thực
hiện một cách đồng bộ trong doanh nghiệp. Một trong những biện pháp đợc
các nhà sản xuất quan tâm là công tác kế toán nói chung và kế toán chi phí sản
xuất, giá thành sản phẩm nói riêng.
Chi phí sản xuất chính là cơ sở tạo nên giá thành sản phẩm. Vì vậy, nếu

tác động đến công tác hạch toán kế toán.
Xây dựng cơ bản là ngành sản xuất vật chất quan trọng mang tính công nghiệp
nhằm tạo ra cơ sở vật chất cho nền kinh tế quốc dân. Cũng nh các ngành khác, sau
những năm thực hiện chuyển đổi cơ chế quản lý ngành xây dựng cơ bản ngày một
thích nghi và phát triển đợc Đảng, nhà nớc quan tâm hơn.
Là một ngành sản xuất vật chất nhng sản phẩm ngành xây dựng cơ bản lại
mang những đặc điểm riêng biệt so với sản phẩm của các ngành sản xuất khác.
Chính vì vậy mà tổ chức hạch toán ở doanh nghiệp kinh doanh xây lắp phải dựa
trên những đặc điểm đó.
1. Đặc điểm sản phẩm xây lắp:
- Sản phẩm xây lắp là các công trình, vật kiến trúc có quy mô lớn, kết cấu
phức tạp, mang tính đơn chiếc, thời gian sản xuất kéo dài và phân tán Do vậy, tr -
ớc khi tiến hành xây lắp, sản phẩm dự định đều phải qua các khâu từ dự án đến dự
toán công trình. Trong suốt quá trình xây lắp phải lấy giá dự toán làm thớc đo kể cả
về mặt giá trị lẫn kỹ thuật.
- Sản phẩm xây lắp hoàn thành không thể nhập kho mà đợc tiêu thụ ngay theo
giá dự toán hay giá thỏa thuận với chủ đầu t (giá đấu thầu), do vậy tính toán chất l-
ợng hàng hóa của sản phẩm xây lắp không đợc thể hiện rõ.
- Sản phẩm xây lắp cố định tại nơi sản xuất và phân bố trên nhiều vùng lãnh
thổ, còn các điều kiện sản xuất nh máy móc, lao động, vật t, đều phải chuyển
theo địa điểm của công trình xây lắp. đặc điểm này đòi hỏi công tác sản xuất có
tính lu động cao và thiếu ổn định, đồng thời gây nhiều khó khăn phức tạp cho công
tác quản lý chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.
- Thời gian sử dụng sản phẩm lâu dài đòi hỏi chất lợng công trình phải đảm
bảo. Đặc điểm này đòi hỏi công tác kế toán phải đợc tổ chức tốt, cho chất lợng sản
phẩm đạt nh dự toán thiết kế, tạo điều kiện cho việc bàn giao công trình, ghi nhận
doanh thu và hồi vốn.
3
2. Đặc điểm tổ chức sản xuất xây lắp
Hoạt động xây lắp đợc diễn ra diễn ra dới điều kiện sản xuất thiếu tính ổn

trong đơn vị kinh doanh xây dựng cơ bản
1. Chi phí sản xuất trong đơn vị kinh doanh sản xuất cơ bản.
4
1.1- Khái niệm và bản chất.
Cũng nh các nghành sản xuất vật chất khác, doanh nghiệp xây lắp xây dựng
muốn tiến hành hoạt động sản xuất ra sản phẩm xây lắp thì tất yếu phải có ba yếu
tố cơ bản đó là:
- T liệu lao động (Nhà xởng, máy móc, thiết bị và những tài sản cố định khác).
- Đối tợng lao động (nguyên vật liệu, nhiên liệu ).
- Sức lao động: lao động của con ngời.
Các yếu tố này tham gia vào quá trình sản xuất, hình thành nên ba loại chi phí
tơng ứng. Đó là chi phí về sử dụng t liệu lao động, chi phí về đối tợng lao động và
chi phí về sức lao động. Trong điều kiện về sản xuất hàng hóa, các chi phí này đ ợc
biểu hiện dới dạng giá trị gọi là chi phí sản xuất.
Nh vậy, chi phí sản xuất của đơn vị kinh doanh xây lắp xây dựng cơ bản là
toàn bộ chi phí về lao động và lao động vật hóa phát sinh trong quá trình sản xuất
và cấu thành nên giá thành sản phẩm xây lắp.
Tuy nhiên, để hiểu đúng chi phí sản xuất cần phân biệt giữa chi phí và chi
tiêu. Chi phí là khái niệm có phạm vi rộng hơn chi tiêu. Khái niệm chi phí gắn liền
với kỳ hạch toán, là những chi phí về lao động sống và lao động vật hóa có liên
quan đến khối lợng sản xuất trong kỳ chứ không phải mọi khoản chi ra trong kỳ
hạch toán nó không đồng nhất hoàn toàn với chỉ tiêu.
Chi tiêu là sự giảm đi đơn thuần của các loại vật t tài sản, tiền vốn của doanh
nghiệp, bất kể nó đợc dùng vào mục đích gì. Chi tiêu có thể là chi phí nếu nh khi
mua nguyên vật liệu sử dụng ngay vào sản xuất kinh doanh nhng sẽ là không phải
là chi phí nếu mua về nhập kho cha sử dụng ngay trong kỳ.
Chi phí sản xuất xây lắp phát sinh thờng xuyên trong suốt quá trình tồn tại và
sản xuất của doanh nghiệp nhng để phục vụ cho quản lý và hạch toán, chi phí sản
xuất phải đợc tính toán, tập hợp theo từng kỳ tính toán, tập hợp theo từng thời kỳ
hàng tháng, hàng quý, hàng năm phù hợp với kỳ báo cáo. Trong đơn vị xây lắp , chi

- Chi phí gián tiếp: Là những chi phí cho hoạt động tổ chức phục vụ quản lý,
do đó không tác động trực tiếp cho từng đối tợng cụ thể. Chi phí gián tiếp là chi phí
có liên quan về quản lý của doanh nghiệp nh trả lơng cho bộ máy doanh nghiệp,
khấu hao tài sản cố định phục vụ cho quản lý doanh nghiệp.
- Do mỗi loại chi phí trên có tác động khác nhau đến khối lợng, chất lợng
công trình nên việc hạch toán chi phí theo hớng phân tích định rõ chi phí trực tiếp,
chi phí gián tiếp có ý nghĩa thực tiễn rất lớn trong việc đánh giá tính hợp lý của chi
phí nhằm tìm ra biện pháp không ngừng giảm chi phí gián tiếp nâng cao hiệu quả
sử dụng vốn đầu t của doanh nghiệp.
6
1.2.3- Phân tích chi phí theo khoản mục phí:
Theo cách phân tích này, căn cứ vào mục đích và công dụng của chi phí trong
sản xuất để chia ra các khoản mục chi phí khác nhau, mỗi khoản mục chi phí chỉ
bao gồm những chi phí có cùng mục đích và công dụng, không phân biệt chi phí
nội dung kinh tế nh thế nào.
Đối tợng hạch toán chi phí của đơn vị xây lắp có thể là các hạng mục công
trình, các giai đoạn công việc của hạng mục công trình. Phơng pháp lập dự toán
xây dựng cơ bản, dự toán đợc lập theo từng hạng mục công trình, hạng mục chi phí.
Vì vậy, trong đơn vị xây lắp chủ yếu sử dụng phân loại chi phí theo khoản mục.
Theo cách phân loại này, chi phí bao gồm những khoản mục sau:
Theo cách phân loại này mỗi loại chi phí thể hiện điều kiện khác nhau của chi
phí sản xuất, thể hiện nơi phát sinh chi phí, đối tợng gánh chịu chi phí. Đồng thời là
điều kiện để xác định mức độ ảnh hởng của các nhân tố khác nhau vào giá thành
sản phẩm, phục vụ công tác kế hoạch hóa và tính giá thành sản phẩm.
Ngoài ra, trong các doanh nghiệp xây dựng còn phát sinh các khoản chi phí
thuộc sản xuất kinh doanh phụ, các chi phí thuộc quỹ xí nghiệp và các nguồn kinh
phí khác nhau. Các chi phí này sẽ đợc tập hợp lại và phục vụ cho đối tợng nào, mục
đích nào sẽ đợc phân bổ cho đối tợng đó, mục đích đó.
Xuất phát từ đặc điểm của sản phẩm xây lắp, phơng pháp lập dự toán trong
xây dựng cơ bản là dự toán đợc lập cho từng đối tợng xây lắp nên phơng pháp phân

sản trong quá trình sản xuất cũng nh các giải pháp kinh tế kỹ thuật mà doanh
nghiệp thực hiện nhằm đạt mục đích sản xuất ra khối lợng sản phẩm nhiều nhất với
mức chi phí thấp nhất. Giá thành sản phẩm còn là căn cứ để tính toán, xác định
hiệu quả kinh tế các hoạt động sản xuất của doanh nghiệp.
2.2.Phân loại giá thành sản phẩm xây lắp:
Để đáp ứng nhu cầu quản lý, hạch toán và kế hoạch hóa giá thành cũng nh yêu
cầu xây dựng giá, giá thành đợc xem xét dới nhiều góc độ, nhiều phạm vi tính toán
khác nhau. Về lý luận cũng nh thực tế giá thành đợc chia thành nhiều loại khác
nhau.
2.2.1.Căn cứ vào cơ sở tính số liệu và thời điểm tính giá thành:
Theo cách phân loại này, giá thành sản phẩm xây lắp đợc chia thành: Giá
thành dự toán, giá thành kế hoạch và giá thành thực tế.
- Giá thành dự toán(Z
dt
): Là tổng số chi phí dự toán, để hình thành khối lợng
xây lắp công trình, đợc xác định theo định mức và theo khung giá quy định áp dụng
theo từng vùng lãnh thổ, từng địa phơng do cấp có thẩm quyền ban hành.
Z
dt
= Giá trị dự toán của công trình Lợi nhuận định mức
Trong đó:
+ Giá trị dự toán của công trình là chỉ tiêu dùng làm căn cứ cho các doanh
nghiệp xây lắp xây dựng kế hoạch sản xuất của đơn vị. Đồng thời cũng làm căn cứ
để các cơ quan quản lý nhà nớc giám sát hoạt động sản xuất kinh doanh của các
8
doanh nghiệp xây lắp. Đây là chi phí cho công tác xây dựng, lắp ráp các cấu kiện,
lắp đặt các máy móc thiết bị, nó bao gồm các chi phí trực tiếp, chi phí chung và lợi
nhuận định mức.
+ Lợi nhuận định mức là chỉ tiêu nhà nớc quy định để tích luỹ cho xã hội do
ngành xây dựng cơ bản tạo ra.

dự toán
Z
Kế hoạch
Z
Thực tế
.
Việc so sánh Z
tt
với Z
dự toán
cho phép ta đánh giá trình độ quản lý của doanh
nghiệp trong mối quan hệ với các doanh nghiệp xây lắp khác. Việc so sánh Z
tt
với
Z
kh
cho phép ta đánh giá tiến bộ hay sự non yếu của doanh nghiệp xây lắp trong
điều kiện cụ thể về cơ sở vật chất, trình độ tổ chức quản lý bản thân của nó.
2.2.2- Căn cứ vào phạm vi tính giá thành.
Do dặc điểm của đơn vị kinh doanh xây lắp xây dựng cơ bản thì thời gian sản
xuất sản phẩm kéo dài, khối lợng sản phẩm lớn nên để tiện cho việc theo dõi
những chi phí phát sinh ta phân chia giá thành làm hai loại: giá thành hoàn chỉnh và
giá thành không hoàn chỉnh.
- Giá thành hoàn chỉnh: Là giá thành của những công trình, hạng mục công
trình đã hoàn chỉnh đảm bảo kỹ thuật chất lợng, đúng thiết kế và hợp đồng bàn
giao, đợc bên chủ đầu t nghiệm thu và chấp nhận thanh toán. Chỉ tiêu này cho phép
chúng ta đánh giá một cách chính xác và toàn diện hiệu quả sản xuất thi công trọn
vẹn một công trình, hạng mục công trình nhng lại không đáp ứng kịp thời các số
9
liệu cần thiết cho việc quản lý chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong suốt

- Về lợng: Trong giá thành bao gồm cả chi phí phát sinh ở kỳ trớc và loại trừ
chi phí ở kỳ này chuyển sang giá thành kỳ sau.
- Về thời gian: Trong giá thành, các khoản chi phí phát sinh ở kỳ trớc lại đợc
tính vào giá thành kỳ này, có những chi phí ở kỳ này nhng không đợc tính vào giá
10
B
A
C
D
CPSX dở dang ĐK CPSX phát sinh trong kỳ
Tổng giá thành sản phẩm xây lắp
CPSX dở dang CK
Tổng giá
thành sản
phẩm xây
lắp
Chi phí
sản xuất
dở dang
Chi phí
sản xuất
phát sinh
trong kỳ
Chi phí
sản xuất
dở dang
cuối kỳ

=


giá thành càng trở nên quan trọng và có tính quyết định bởi sự tác động của những
đặc điểm nh giá cả biến động trong những thời điểm khác nhau của xây dựng, nhu
cầu công nhân khác nhau, nhu cầu xây dựng cơ bản không nh nhau. Thông qua chỉ
tiêu giá thành ta có thể xác định đợc kết quả của quá trình sản xuất kinh doanh,
thúc đẩy sự sáng tạo, tìm tòi phơng án giải quyết công việc có hiệu quả.
4.2.Nhiệm vụ.
Để phát huy hết vai trò của mình, việc tổ chức hạch toán kinh tế chi phí sản
xuất và tính giá thành sản phẩm phải đạt đợc những yêu cầu:
- Phản ánh kịp thời, chính xác toàn bộ chi phí thực tế phát sinh trong quá
trình sản xuất . Tính toán chính xác, phân bổ kịp thời giá thành xây lắp theo đối t-
ợng tính giá thành .
- Phân bổ hợp lý các chi phí sản xuất theo từng khoản mục vào các đối tợng
tập hợp chi phí, áp dụng phơng pháp tính giá thành thích hợp.
- Kiểm tra tình hình thực hiện các định mức về chi phí vật liệu, lao động sử
dụng máy, kiểm tra dự toán chi phí gián tiếp, phát hiện kịp thời các khoản mục chi
phí chênh lệch ngoài định mức, ngoài kế hoạch, đề ra các biện pháp ngăn ngừa kịp
thời.
- Kiểm tra việc thực hiện giá thành theo từng khoản mục chi phí, theo từng
hạng mục công trình, vạch ra các khả năng tiềm tàng và đề ra các biện pháp hạ giá
thành sản phẩm.
- Thông qua ghi chép, phản ánh tính toán để đánh giá có hiệu quả sản xuất
kinh doanh của từng doanh nghiệp. Kịp thời lập báo cáo kế toán về chi phí và lập
giá thành theo quy định của cơ quan chủ quản cấp trên.
- Với các yêu cầu trên, nhiệm vụ hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm là:
- Xác định đúng đối tợng tập hợp chi phí sản xuất, lựa chọn phơng pháp tập
hợp chi phí sản xuất và phân bổ chi phí sản xuất thích hợp
- Xác định đúng đối tợng tính giá thành và lựa chọn phơng pháp tính giá
thành thích hợp.
12

ợng hạch toán, tập hợp chính xác các khoản chi phí phát sinh phù hợp với đặc điểm
tổ chức và sản xuất của doanh nghiệp mới giúp cho tổ chức tốt công tác chi phí. Từ
13
khâu hạch toán ban đầu đến tổ chức tài khoản, tổng hợp số liệu và ghi sổ chi tiết, sổ
tổng hợp đều phải luôn luôn bám sát đối tợng tập hợp chi phí xác định.
1.2 Phơng pháp tập hợp chi phí sản xuất:
Phơng pháp hạch toán chi phí sản xuất là một phơng pháp hay một hệ thống
các phơng pháp đợc sử dụng để tập hợp và phân loại chi phí trong phạm vi giới hạn
của đối tợng hạch toán chi phí.
Trên cơ sở đối tợng hạch toán chi phí kế toán sẽ lựa chọn phơng pháp hạch
toán chi phí thích ứng. Trong doanh nghiệp kinh doanh xây lắp có những ph ơng
pháp hạch toán (tập hợp) chi phí sản xuất sau:
- Phơng pháp hạch toán chi phí sản xuất theo công trình hay hạng mục công
trình: Hàng tháng chi phí sản xuất phát sinh liên quan đến công trình, hạng mục
công trình nào thì tập hợp cho công trình hay hạng mục công trình đó. Các khoản
chi phí đó đợc phân chia theo tổng số khoản mục tính giá thành. Giá thành thực tế
của đối tợng đó chính là tổng số chi phí đợc tập hợp cho từng đối tợng kể từ khi
khởi công đến hoàn thành.
- Phơng pháp tập hợp chi phí sản xuất theo từng đơn đặt hàng: Chi phí phát
sinh hàng tháng sẽ đợc phân loại theo đơn đặt hàng riêng biệt. Khi đơn đặt hàng
hoàn thành thì tổng chi phí đợc tập hợp theo đơn đặt hàng đó chính là giá thành
thực tế. Phơng pháp này đợc sử dụng trong trờng hợp doanh nghiệp xác định đối t-
ợng tập hợp chi phí là đơn đặt hàng riêng biệt.
- Phơng pháp tập hợp chi phí sản xuất theo đơn vị thi công (công trình, đội
thi công). Theo phơng pháp này các chi phí phát sinh đợc tập hợp theo từng đơn vị
thi công công trình.Trong từng đơn vị đó, chi phí lại đợc tập hợp theo từng đối tợng
chịu phí nh hạng mục công trình, nhóm hạng mục công trình. Trên thực tế có
những chi phí phát sinh liên quan đến nhiều công trình, hạng mục công trình, do
vậy cần phải phân bổ chi phí theo tiêu thức thích hợp (phơng pháp phân bổ trực tiếp
hoặc gián tiếp).

Phơng pháp kiểm kê định kỳ là phơng pháp không theo dõi một cách thờng
xuyên, liên tục về tình hình biến động của các loại hàng tồn kho trên các loại tài
khoản tơng ứng mà chỉ phản ánh giá trị tồn kho đầu kỳ và cuối kỳ trên cơ sở kiểm
tra cuối kỳ, xác định lọng tồn kho thực tế và lợng xuất dùng cho sản xuất kinh
doanh và mục đích khác.
Hiện nay, theo quy định hiện hành để hạch toán hàng tồn kho trong doanh
nghiệp xây lắp, kế toán chỉ áp dụng phơng pháp kiểm kê định kỳ.
3.1- Tài khoản sử dụng.
Để theo dõi tình hình chi phí thi công công trình theo phơng pháp kê khai th-
ờng xuyên, kế toán trong các đơn vị xây lắp thờng xuyên dùng những tài khoản 6
(Chi phí sản xuất kinh doanh: TK621, TK622, TK623, TK627 ) và TK sản xuất
kinh doanh dở dang TK154.
- Tài khoản 621 Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp :
15
Tài khoản này dùng để phản ánh các chi phí nguyên vật liệu, vật liệu sử dụng
trực tiếp cho hoạt động xây, lắp, sản xuất sản phẩm công nghiệp, thực hiện dịch vụ,
lao vụ của doanh nghiệp xây lắp.
- TK622 Chi phí nhân công trực tiếp :
Tài khoản này dùng để phản ánh chi phí lao động trực tiếp tham gia vào quá
trình xây lắp, sản xuất sản phẩm công nghiệp, cung cấp dịch vụ. Chi phí lao động
trực tiếp bao gồm các khoản phải trả cho ngời lao động thuộc quản lý của doanh
nghiệp và lao động thuê ngoài theo từng công việc.
Không hạch toán vào tài khoản này những khoản phải trả về lơng và các khoản
trích theo lơng của nhân viên quản lý, nhân viên văn phòng, của bộ máy quản lý
doanh nghiệp hoặc của bộ phận bán hàng. Riêng đối với hoạt động xây lắp không
hạch toán vào tài khoản này khoản tính bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí
công đoàn tính trên quỹ lơng nhân công trực tiếp của hoạt động xây lắp.
- Tài khoản 623 Chi phí sử dụng máy thi công
Tài khoản này dùng để tập hợp và phân bổ chi phí sử dụng xe, máy thi công
phục vụ trực tiếp cho hoạt động xây lắp công trình. Tài khoản này chỉ sử dụng để

quản lý doanh nghiệp, chi phí hoạt động tài chính, chi phí bất thờng, chi phí sự
nghiệp.
Tài khoản 154 đợc hạch toán chi tiết cho từng đối tợng tập hợp chi phí sản
xuất và có 4 tài khoản cấp 2 sau :
- TK 1541 : Xây lắp.
- TK 1542 : Sản phẩm khác.
- TK 1543 : Dịch vụ.
- TK 1544 : Chi phí bảo hành xây lắp.
3.2. Trình tự hạch toán.
3.2.1. Hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp thờng chiếm tỷ trọng lớn (70% ữ 80%) trong
chi phí sản xuất sản phẩm xây lắp và bao gồm nhiều loại nh : giá trị thực tế của vật
liệu chính,vật liệu kết cấu, vật liệu phụ, nhiên liệu, bảo hộ lao động và phụ tùng lao
động khác cần thiết để tạo nên sản phẩm. Chi phí nguyên vật liệu không bao
gồm các chi phí đã tính vào máy thi công hoặc đã tính vào chi phí sản xuất chung.
Giá trị thực tế đợc hạch toán vào khoản mục này ngoài giá trị thực tế còn có cả chi
phí thu mua vận chuyển từ nơi mua về nơi nhập kho vật liệu hoặc xuất thẳng đến
nơi công trình.
Trong XDCB cũng nh các ngành khác vật liệu sử dụng cho công trình, hạng
mục công trình nào đợc tập hợp trực tiếp cho công trình, hạng mục công trình đó
trên cơ sở các chứng từ gốc và số lợng thực tế đã sử dụng. Trờng hợp vật liệu liên
quan đến nhiều đối tợng tập hợp chi phí không thể tổ chức kế toán riêng đợc thì
17
phải áp dụng phơng pháp phân bổ để phân bổ chi phí cho các đối tợng liên quan
theo các tiêu thức thích hợp.
Chi phí vật liệu phân bổ
cho từng đối tợng
=
Tiêu thức phân bổ của
từng đối tợng

vào được khấu
trừ
Sơ đồ 1.1 . Hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
Thông qua kết quả hạch toán chi phí nguyên vật liệu hao phí thực tế theo từng
nơi phát sinh, cho từng đối tợng chịu phí thờng xuyên kiểm tra đối chứng với định
mức và dự toán để kịp thời phát hiện những lãng phí mất mát hoặc khả năng tiết
kiệm vật liệu, xác định nguyên nhân, ngời chịu trách nhiệm để xử lý hoặc khen th-
ởng kịp thời nhằm phấn đấu tiết kiệm chi phí vật liệu, hạ giá thành sản phẩm xây
lắp.
3.2.2. Hạch toán chi phí nhân công trực tiếp.
Chi phí nhân công trực tiếp là những khoản tiền lơng phải trả cho nhân công
trực tiếp sản xuất thi công công trình. Chi phí nhân công trực tiếp bao gồm cả
khoản phải trả cho ngời lao động trong và ngoài biên chế và lao động thuê ngoài.
Trong khoản mục chi phí nhân công trực tiếp không bao gồm tiền lơng công
nhân điều khiển và phục vụ máy thi công, tiền lơng công nhân xây lắp và vận
chuyển ngoài cự ly thi công không bao gồm các khoản BHXH, BHYT, KPCĐ tính
trên quỹ lơng công nhân trực tiếp sản xuất.
Hạch toán thời gian lao động: Việc hạch toán thời gian lao động đợc tiến hành
theo từng loại công nhân viên, theo từng công việc đợc giao và cho từng đối tợng
hạch toán chi phí và tính giá thành.
19
TK622 TK154
Tiền lương phải trả CNV Kết chuyển chi phí NC
trực tiếp
TK111,112,334
TK141
Duyệt tạm ứng lương đội nhận
ơng
khoán, quyết toán lương tạm
ứng cho đội

bị, tiền thuê máy, nhiên liệu, lơng chính của công nhân điều khiển máy).
Trong chi phí sử dụng máy thi công không bao gồm các khoản sau: các khoản
tính theo lơng của công nhân sử dụng máy, lơng công nhân vận chuyển, phân phối
vật liệu cho máy, chi phí trong thời gian máy ngừng sản xuất, chi phí lắp đặt lần
đầu máy thi công, chi phí sử dụng máy trong sản xuất phụ.
Để hạch toán và xác định chi phí sử dụng máy chính xác, kịp thời cho các đối
tợng sử dụng chi phí, trớc hết phải tổ chức tốt khâu hạch toán công việc hàng ngày
của máy trên phiếu hoạt động của xe, máy thi công. Phiếu này áp dụng cho tất cả
các loại xe làm nhiệm vụ thi công. Định kỳ mỗi xe đợc phát một nhật trình máy,
ghi rõ tên máy, đối tợng phục vụ, khối lợng hoàn thành, số ca lao động thực tế
Cuối tháng chuyển về phòng kế toán làm căn cứ để kiểm tra, phân tích chi phí sử
dụng máy và làm căn cứ tính, xác định chi phí sử dụng máy và các đối t ợng xây lắp
có liên quan.
Việc hạch toán chi phí máy thi công phụ thuộc vào hình thức sử dụng máy thi
công. Có thể tổ chức đội máy hoặc giao máy thi công chuyên thực hiện các khối l -
ợng thi công bằng máy hoặc giao máy thi công cho các đối tợng xây lắp hoặc đi
làm thuê ngoài máy thi công.
- Trờng hợp đơn vị có tổ chức đội máy thi công riêng và phân cấp hạch toán
cho đội máy và tổ chức hạch toán kế toán riêng:
Trờng hợp này máy thi công thuộc tài sản của bản thân doanh nghiệp, doanh
nghiệp có thể tổ chức đội, tổ chức thi công cơ giới chuyên trách thi công, khối l ợng
xây lắp bằng máy trực tiếp thuộc doanh nghiệp, công trờng hoặc đội xây lắp. Hạch
toán chi phí sử dụng máy trong trờng hợp này phản ánh toàn bộ chi phí máy phát
sinh trong quá trình sử dụng máy thi công. Hoạt động của đội thi công cơ giới
chuyên trách có thể là đơn vị hạch toán nội bộ. Nếu đơn vị này có tính toán lãi, lỗ
riêng thì có thể tiến hành phơng thức bán lao vụ cho các bộ phận thi công khác
của doanh nghiệp.
21
TK152,153,142,111,11
2

- Trờng hợp đơn vị không tổ chức đội máy thi công riêng biệt hoặc có đội
máy thi công riêng biệt nhng không tổ chức kế toán riêng cho đội máy thi công thì
toàn bộ chi phí sử dụng máy thi công sẽ đợc tổ chức nh sau:
- Trờng hợp đơn vị đi thuê máy.
22
TK111,112,331
TK623 (6237) TK154
Thanh toán tiền thuê máy
Kết chuyển chi phí MTC
TK133
Thuế GTGT đầu vào
thuê ngoài
được khấu trừ
Trờng hợp này máy thi công không thuộc tài sản của doanh nghiệp. Có thể
xẩy ra các trờng hợp sau:
+ Chỉ thuê máy thi công không thuê nhân công điều khiển và phục vụ máy.
Đơn vị đi thuê máy phải trả cho đơn vị cho thuê một khoản tiền theo định mức quy
định kèm theo hợp đồng ( gồm có khấu hao theo đơn giá ca máy cộng với tỷ lệ dịnh
mức về chi phí quản lý xe máy). Đơn vị cũng tự hạch toán chi phí sử dụng máy.
+ Trờng hợp thuê máy theo khối lợng công việc. Bên thuê máy chỉ phải trả
tiền cho bên cho thuê theo đơn giá thỏa thuận với công việc đã hoàn thành. Nội
dung hạch toán phản ánh theo sơ đồ sau:
Sơ đồ1.5: Hạch toán chi phí máy thi công
(Trờng hợp đơn vị thuê máy)
3.2.4- Hạch toán chi phí sản xuất chung.
Chi phí sản xuất chung là những khoản mục chi phí trực tiếp phục vụ cho sản
xuất của đội công trình xây dựng nhng không đợc tính trực tiếp cho từng đối tợng
cụ thể. Chi phí này bao gồm lơng nhân viên quản lý đội và các khoản trích theo l-
ơng của nhân viên quản lý đội cùng với các khoản mục chi phí khác. Những chi phí
khác thờng không xác định đợc và có những chi phí không lờng trớc đợc nh chi phí

định phần chi phí sản xuất mà sản phẩm dở dang cuối kỳ phải chịu. Việc đánh giá
sản phẩm dở dang hợp lý là một trong những yếu tố quyết định đến tính trung thực,
hợp lý của giá thành sản phẩm xây lắp trong kỳ.
Muốn đánh giá sản phẩm dở dang hợp lý trớc hết phải tổ chức kiểm kê chính
xác khối lợng xây lắp hoàn thành trong kỳ, đồng thời xác định đúng đắn mức độ
hoàn thành của khối lợng xây lắp dở dang so với khối lợng hoàn thành theo qui ớc
ở từng giai đoạn thi công trong kỳ. Khi đánh giá sản phẩm dở dang càn phải có sự
kết hợp chặt chẽ với các bộ phận kỹ thuật, tổ chức lao động để xác định mức độ
hoàn thành của khối lợng xây lắp dở dang.
Việc đánh giá sản phẩm dở dang trong xây dựng cơ bản phụ thuộc vào ph ơng
thức thanh toán, khối lợng xây lắp hoàn thành giữa ngời nhận thầu và ngời giao
thầu.
Nếu quy định thanh toán sản phẩm xây dựng sau khi hoàn thành toàn bộ thì
sản phẩm dở dang là phần chi phí phát sinh từ lúc khởi công đến cuối kỳ đó.
24
Nếu quy định thanh toán theo điểm dừng kỹ thuật hợp lý thì sản phẩm dở dang
là khối lợng xây lắp cha đạt điểm dừng kỹ thuật hợp lý đã quy định và đợc đánh giá
theo chi phí thực tế.
Giá trị sản phẩm dở dang đợc đánh giá theo chi phí thực tế trên cơ sở phân bổ
chi phí thực tế của hạng mục công trình và giai đoạn còn dở dang theo giá thực tế
của chúng. Công thức nh sau:

Chi phí
thực tế
khối l-
ợng xây
lắp dở
=
Chi phí thực tế
khối lợng xây lắp

thực hiện kế hoạch giá thành sản phẩm, tính toán hiệu quả xác định chính xác thu
nhập.
25

Trích đoạn 1.096,5 2 Lấp đất chân đài tởng niệm cọc 1-5 m Hạch toán chi phí máy thi công. Đánh giá sản phẩm dở dang. Về vấn đề chi phí máy thi công.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status