Đánh giá hoạt động logistics và một số biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động logistics của công ty TNHH MTV Gemadept Hải Phòng - Pdf 16

   LuËn v¨n tèt nghiÖp   

Lời mở đầu
Có thể nói nền kinh tế Việt Nam đang có những chuyển biến tích cực, chúng ta
đang ngày càng hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Điều đó tạo cho
các doanh nghiệp Việt Nam rất nhiều cơ hội nhưng nó cũng tạo ra không ít khó khăn
cho các doanh nghiệp như là đối mặt với một môi trường cạnh tranh khốc liệt hơn. Vì
vậy để tồn tại và phát triển các doanh nghiệp cần phải nâng cao khả năng cạnh tranh
của mình và đó cũng là lý do tại sao logistics trong hoạt động kinh doanh ngày càng
được quan tâm và phát triển.
Trong thời gian thực tập tại công ty TNHH MTV Gemadept Hải Phòng emi thấy
thực trạng cũng như vai trò phát triển logistics trong hoạt động kinh doanh trong việc
nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Với mục đích tìm hiểu sâu hơn về
logistics trong công ty cũng như qua đó tìm ra điểm mạnh và các giải pháp tối ưu giải
quyết những vấn đề còn hạn chế, từ đó có thể nâng cao khả năng cạnh tranh và đạt hiệu
quả trong hoạt động kinh doanh của công ty.
Với việc vận dụng tổng hợp nhiều phương pháp trong quá trình nghiên cứu.
Trước hết là nắm bắt đối tượng nghiên cứu, các quy luật, bản chất của hoạt động kinh
doanh, có căn cứ khoa học thực tiễn, không chủ quan, duy ý chí. Vì vậy tôi quyết định
chọn đề tài: “Đánh giá hoạt động logistics và một số biện pháp nâng cao hiệu quả
hoạt động logistics của công ty TNHH MTV Gemadept Hải Phòng” làm đề tài
nghiên cứu của mình.
Kết cấu của đề tài gồm 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận về logistics.
Chương II: Đánh giá chất lượng dịch vụ logistics tại công ty TNHH MTV
Gemadept Hải Phòng.
Chương III: Một số biện pháp nâng cao chất lượng dịch vụ logistics của
công ty TNHH MTV Gemadept Hải Phòng.
1
Sinh viên: Nguyễn Thị Minh Châu Trường Đại học Ngoại Thương
Lớp: Kinh tế Đối ngoại K49

2.3 Kết quả kinh doanh logistics của doanh nghiệp
2.4 Kết cáu đội tàu của công ty
2.5 Lịch tàu của công ty
2.6 Kết cấu nhân sự của công ty
2.7 Chi tiết nhân sự phòng logistics
3.1 Kế hoạch phát triển của bộ phận logistics
3
Sinh viên: Nguyễn Thị Minh Châu Trường Đại học Ngoại Thương
Lớp: Kinh tế Đối ngoại K49
CFS Container freight station
CY Container yard
C/O Certificate of origin
D/O Delivery oder
ECOSOC Hội đồng Kinh tế xã hội Liên Hợp Quốc
FCL Full container load
FIATA Liên đoàn quốc tế các hiệp hội giao nhận
H.B/L House bill of lading
ICD Inland container depot
IATA Internatonal air transport association
LCL Less than container load
M.B/L Master bill of lading
MR Master receipt
NOA Notice of arrival
POD Port of discharge
POL Port of loading
UNCTAD Hội nghị Liên hợp quốc về thương mại và phát triển
WCA Word cargo alliance
   LuËn v¨n tèt nghiÖp   

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Logistics là quá trình quản trị chiến lược thu mua, di chuyển và dự trữ nguyên
liệu, bán thành phẩm, thành phẩm (và dòng thông tin tương ứng) trong một công ty và
qua các kênh phân phối của công ty để tối đa hoá lợi nhuận hiện tại và tương lai thông
qua việc hoàn tất các đơn hàng với chi phí thấp nhất (theo Giáo sư người Anh Martin
Christopher).
Logistics là quá trình tối ưu hoá về vị trí, lưu trữ và chu chuyển các tài
nguyên/yếu tố đầu vào từ điểm xuất phát đầu tiên là nhà cung cấp, qua nhà sản xuất,
người bán buôn, người bán lẻ, đến tay người tiêu dùng cuối cùng, thông qua hàng loạt
các hoạt động kinh tế (Theo Ma Shuo, tác giả cuốn “Logistics and supply chain
management).
Theo quan điểm “5 đúng” (“5 Right”) thì: “Logistics là quá trình cung cấp đúng sản
phẩm đến đúng vị trí, vào đúng thời điểm với điều kiện và chi phí phù hợp cho khách
hàng tiêu dùng sản phẩm
Như vậy, các tác giả đều cho rằng logistics chính là hoạt động quản lý dòng lưu
chuyển của nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm và dòng thông tin từ khâu
mua sắm qua quá trình lưu kho, sản xuất ra sản phẩm và phân phối tới tay người tiêu
dùng. Mục đích giảm tối đa chi phí phát sinh hoặc sẽ phát sinh với thời gian ngắn nhất
trong quá trình vận động của nguyên vật liệu phục vụ sản xuất cũng như phân phối
hàng hoá một cách kịp thời
Tóm lại, logistics liên quan đến việc quản lý chuỗi cung cấp hoàn chỉnh một sản
phẩm hàng hóa, bao gồm vận tải nguyên liệu đầu vào và sản phẩm đầu ra, lưu kho,
phân phối và các dịch vụ khác, đó chính là quá trình tối ưu hoá về vị trí và thời gian,
vận chuyển và dự trữ nguồn tài nguyên từ điểm đầu cung ứng nguyên vật liệu cho sản
xuất đến khi chế tạo ra sản phẩm và chuyển đến tận nơi tiêu dùng, thông qua hàng loạt
các hoạt động kinh tế.”
5
Sinh viên: Nguyễn Thị Minh Châu Trường Đại học Ngoại Thương
Lớp: Kinh tế Đối ngoại K49
   LuËn v¨n tèt nghiÖp   


Lớp: Kinh tế Đối ngoại K49
   LuËn v¨n tèt nghiÖp   

Logistics dịch vụ (service logistics) là thu thập, lập kế hoạch, và quản lý các
trang thiết bị, tài sản, con người, và vật tư để hỗ trợ và duy trì một hoạt động dịch vụ.
Logistics theo quá trình
Nghiên cứu quá trình logistics ta sẽ có các dòng logistics như sau:
- Dòng logistics đầu vào (inbound logistics)
Dòng này bao gồm toàn bộ quá trình dịch chuyển vật tư, nguyên vật liệu & các bộ
phận cấu thành nên sản phẩm của các nhà phân phối khác nhau qua nhiều cung đoạn
khác nhau. Nhà sản xuất cần phải kiểm soát dòng dịch chuyển này không chỉ đảm bảo
cung cấp đầy đủ các yếu tố nhập lượng hữu hình cho quá trình sản xuất được tiến hành
trôi chảy mà còn đảm bảo sử dụng số vốn ít nhất và chi phí thấp nhất để tạo các xuất
lượng (thành phẩm) với giá thành rẻ nhằm đáp ứng đầy đủ các & kịp thời nhu cầu của
khách hàng. Kiểm soát dòng dịch chuyển này còn gọi là logistics đầu vào (inbound
logistics).
- Dòng logistics đầu ra (outbound logistics)
Dòng logistics đi ra (outboud logistics) liên quan đến việc dịch chuyển hàng hoá
từ điểm cuối cùng của dây chuyền sản xuất đến khách hàng. Sự chu chuyển của hàng
hoá từ nhà máy thông qua các kênh phân phối (trực tiếp hoặc gián tiếp ) rồi đến tay
người tiêu dùng. Ngày nay, một số lượng hàng hoá được lưu thông qua khâu trung
gian. Một trong những trung gian đó là trung tâm phân phối, trong đó có các họat động
như gom hàng, chia tách hàng và trộn hàng.
- Dòng logistics ngược (reverse logistics)
Dòng logistics do phải thu hồi các sản phẩm không bán được để nâng cấp, hoặc
các sản phẩm có những khuyết tật để sửa chữa; thu hồi sản phẩm đã sử dụng tháo dỡ ;
thu hồi và tái sử dụng bao bì, các sản phẩm không bán được. Các sản phẩm được đưa
vào thụ trường nào đó khá lâu nhưng không bán được vì không có nhu cầu hoặc nhu
cầu đã bão hoà có thể thu hồi được để chuyển sang bán hàng ở thị trường khác đang có
nhu cầu. Các sản phẩm khi đưa thị trường chưa đáp ứng được nhu cầu của khách hàng

này coi trọng việc phát triển các quan hệ với đối tác, kết hợp chặt chẽ giữa người sản
xuất với người cung ứng, với người tiêu dùng và các bên có liên quan tới hệ thống quản
lý như các công ty vận tải, kho bãi và những người cung cấp công nghệ thông tin.
8
Sinh viên: Nguyễn Thị Minh Châu Trường Đại học Ngoại Thương
Lớp: Kinh tế Đối ngoại K49
   LuËn v¨n tèt nghiÖp   

Như vậy logistics được phát triển từ việc áp dụng các kỹ năng “tiếp vận”, “hậu
cần” để giải quyết những vấn đề phát sinh của thực tế sản xuất - kinh doanh. Hiện nay
được hoàn thiện trở thành hệ thống quản lý mang lại hiệu quả kinh tế cao
1.1.4 Vai trò của logistics
1.1.4.1 Vai trò của logistics đối với nền kinh tế
Logistics là một hoạt động tổng hợp mang tính dây chuyền, hiệu quả của quá
trình này có tầm quan trọng quyết định đến tính cạnh tranh của ngành công nghiệp và
thương mại mỗi quốc gia. Logistics đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế thể hiển
trên nhiều phương diện.
Hoạt động logistics có phạm vi rộng khắp trong mọi lĩnh vực của sản xuất kinh
doanh, tác động qua lại với nhiều hoạt động kinh tế khác. Đối với những nước phát
triển như Nhật và Mỹ logistics đóng góp khoảng 10% GDP. Đối với những nước kém
phát triển thì tỷ lệ này có thể tới 20-30% GDP. Chi phí sản xuất kinh doanh lớn khiến
người tiêu dùng phải mua hàng hoá, dịch vụ với mức giá cao còn lợi nhuận của doanh
nghiệp giảm sút. Nếu chi phí cho hoạt động logistics tăng cao trong một thời gian dài
thì có thể kéo theo sự phát triển thụt lùi của toàn bộ nền kinh tế, chất lượng cuộc sống
của người dân suy giảm và ngân sách nhà nước được hình thành chủ yếu từ khoản thu
thuế cũng bị ảnh hưởng. Như vậy, logistics phát triển tốt sẽ không chỉ mang lại khả
năng tiết giảm thời gian, chi phí và nâng cao chất lượng hàng hoá, dịch vụ mà logistics
còn là một động lực quan trọng thúc đầy nền kinh tế phát triển.
Hoạt động logistics đóng vai trò là nhân tố hỗ trợ cho dòng lưu chuyển của nhiều
giao dịch trong nền kinh tế, nó đồng thời cũng là một hoạt động quan trọng tạo thuận

Trong hoạt động sản xuất, logistics giúp cho doanh nghiệp có thể rút ngắn thời
gian hoạt động của dây chuyền sản xuất mà vẫn đạt được hiệu quả kinh tế cao. Trên
thực tế, nhiều doanh nghiệp quan niệm rằng phải khai thác hết công suất của máy móc
để đạt mức sản lượng tối đa. Kết quả là họ phải bỏ ra chi phí lưu kho rất cao vì tiêu thụ
không hết sản phẩm. Vì vậy, vai trò của logistics ở đây là bộ phận sử dụng các thông
tin nghiên cứu thị trường để giúp doanh nghiệp nhận định được nhu cầu trong từng giai
đoạn trước khi bắt tay vào sản xuất, tránh lưu kho nhiều, giảm chi phí vận hành máy
móc liên tục. Vai trò thứ hai của logistics là giúp các doanh nghiệp đảm bảo nguồn
nguyên liệu đầu vào tuân thủ kế hoạch sản xuất và đặc biệt tránh tình trạng sản xuất bị
10
Sinh viên: Nguyễn Thị Minh Châu Trường Đại học Ngoại Thương
Lớp: Kinh tế Đối ngoại K49
   LuËn v¨n tèt nghiÖp   

gián đoạn. Nhà quản trị logistics sẽ khó khăn hơn khi trong dây chuyền sản xuất của
doanh nghiệp sử dụng các nguyên liệu mang tính thời vụ hoặc doanh nghiệp là nhà sản
xuất, lắp ráp thành phẩm cuối cùng trong một chuỗi nối tiếp các hoạt động sản xuất.
Đối với doanh nghiệp sử dụng nguyên liệu mang tính thời vụ, ví dụ như các công ty
chế biến lương thực thực phẩm, khi nguyên vật liệu không thể lưu kho trong thời gian
dài nhà quản trị logistics cần tìm ra nguồn nguyên liệu thay thế, có thể phải chấp nhận
nhập khẩu nguyên liệu. Đối với các công ty hoạt động trong chuỗi sản xuất, ví dụ
ngành sản xuất ô tô, logistics thực hiện chức năng liên lạc với các đơn vị đồng sản xuất
đảm bảo hợp tác sản xuất hiệu quả không bị gián đoạn.
Bên cạnh hoạt động sản xuất, logistics hỗ trợ đắc lực cho hoạt động marketing
đặc biệt là marketing hỗn hợp. Trong quá trình xây dựng chính sách marketing, nhà
quản lý phải biết đâu là thị trường của doanh nghiệp, thực hiện các dịch vụ khách hàng
như thế nào để đem lại hiệu quả từ đó có thể xác lập một kênh phân phối có thể tối đa
lượng hàng hoá bán ra với mức giá hợp lý. Logistics giúp doanh nghiệp dự đoán chính
xác nhu cầu của thị trường, có vai trò quan trọng trong quá trình tiếp cận, tin tưởng và
chấp nhận sản phẩm của khách hàng.

Sinh viên: Nguyễn Thị Minh Châu Trường Đại học Ngoại Thương
Lớp: Kinh tế Đối ngoại K49
   LuËn v¨n tèt nghiÖp   

1.2 . DỊCH VỤ LOGISTICS
1.2.1 Dịch vụ
Logistics
Từ những năm 1990 trở lại đây, sự xuất hiện của các nhà cung cấp dịch vụlogistics
tại Việt Nam ngày càng nhiều cùng với sự chuyển đổi của các hãng giao nhận, doanh
nghiệp kinh doanh kho hàng, doanh nghiệp vận tải sang doanh nghiệp cung cấp dịch
vụ logistics. Cụm từ dịch vụ logistics đã trở nên phổ biến, tuy nhiên nhiều người vẫn
nhầm lẫn giữa logistics và dịch vụ logistics. Trong phần này chúng ta sẽ tìm hiểu kỹ
hơn về dịch vụ logistics và hệ thống pháp lý điều chỉnh hoạt động kinh doanh dịch vụ
logistics tại Việt Nam hiện nay.
1.2.1.1. Khái niệm dịch vụ Logistics
Nếu hiểu theo những khái niệm logistics mà chúng ta đã nghiên cứu ở đầu chương
1 thì dịch vụ logistics có phạm vi rộng, có tác động từ giai đoạn tiền sản xuất cho tới
khi hàng hóa tới tay của người tiêu dùng cuối cùng. Theo đó, dịch vụ logistics gắn liền
cả quá trình nhập nguyên, nhiên vật liệu làm đầu vào cho quá trình sản xuất, sản xuất
ra hàng hóa và đưa vào các kênh lưu thông, phân phối để đến tay người tiêu dùng cuối
cùng.
Tại Việt Nam, điều 233 Luật Thương mại 2005 đã quy định rõ khái niệm dịch vụ
logistics như sau: “Dịch vụ logistics được phiên âm theo tiếng Việt là dịch vụ lô-gi-
stíc.
Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện
một hoặc nhiều công việc bao gồm: nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ
tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã
hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với
khách hàng để hưởng thù lao.”
Theo khái niệm mà Luật Thương mại 2005 đưa ra, dịch vụ logistics được xem là

Điểm khác biệt rõ nhất logistics và dịch vụ logistics thể hiện ở chỗ dịch vụ
logistics là những hoạt động chức năng rất nhỏ trong toàn bộ quá trình lập kế hoạch,
thực hiện và quản lý logistics.
1.2.2 Các loại hình dịch vụ logistics
Theo Hiệp định thương mại chung về lĩnh vực dịch vụ GATS – The General
13
Sinh viên: Nguyễn Thị Minh Châu Trường Đại học Ngoại Thương
Lớp: Kinh tế Đối ngoại K49
   LuËn v¨n tèt nghiÖp   

Agreement on Trade in Services) của tổ chức thương mại thế giới WTO thể hiện dịch
vụ logistics được chia thành 3 nhóm như sau:
Các dịch vụ logistics chủ yếu;
Các dịch vụ logistics liên quan đến vận tải;
Các dịch vụ thứ yếu hoặc hỗ trợ.
Các dịch vụ logistics chủ yếu
Dịch vụ logistics chủ yếu chiếm phần lớn trong tổng chi phí logistics và mang tính
quyết định đối với các dịch vụ khác. Dịch vụ logistics chủ yếu bao gồm:
Dịch vụ bốc xếp hàng hóa, bao gồm cả hoạt động bốc xếp container;
Dịch vụ kho bãi và lưu giữ hàng hóa, bao gồm cả hoạt động kinh doanh kho bãi
container và kho xử lý nguyên liệu, thiết bị;
Dịch vụ đại lý vận tải, bao gồm cả hoạt động đại lý làm thủ tục hải quan và lập
kế hoạch bốc dỡ hàng hoá;
Dịch vụ khác, bao gồm cả hoạt động tiếp nhận, lưu kho và quản lý thông tin liên
quan đến vận chuyển và lưu kho hàng hoá trong suốt cả chuỗi logistics; hoạt động xử lý
lại hàng hoá bị khách hàng trả lại, hàng hoá tồn kho, hàng hoá quá hạn, lỗi mốt và tái
phân phối hàng hoá đó; hoạt động cho thuê và thuê mua container.
Các dịch vụ logistics liên quan đến vận tải
Dịch vụ vận tải hàng hải;
Dịch vụ vận tải thuỷ nội địa;

Dịch vụ khách hàng: Đây là một trong những nhu cầu thực tế của hoạt động cung
cấp dịch vụ logistics quốc tế. Ở mỗi địa phương, mỗi nước các khách hàng có các yêu
cầu riêng đối với hàng hóa. Các nhu cầu này được cung cấp theo yêu cầu riêng của chủ
hàng, của các khách hàng.
Lắp đặt và hướng dẫn: Gần đây, các dịch vụ lắp đặt và hướng dẫn đã xuất hiện
như một trong những chức năng quan trọng. Khi nhận hàng hóa từ nhà cung cấp, các
chủ hàng có yêu cầu lắp đặt hàng hóa tại kho bãi. Ngoài ra, còn có cả chức năng hướng
dẫn sử dụng, tương tự như các trung tâm dịch vụ khách hàng để phục vụ yêu cầu của
người sử dụng hàng hóa. Nhu cầu hướng dẫn sản phẩm tại cơ sở của khách hàng ngày
càng gia tăng, các khách hàng yêu cầu cung cấp dịch vụ hướng dẫn sản phẩm tại cơ sở
của họ. Xu hướng này rất đáng chú ý trong trường hợp các khách hàng mua sắm hàng
15
Sinh viên: Nguyễn Thị Minh Châu Trường Đại học Ngoại Thương
Lớp: Kinh tế Đối ngoại K49
   LuËn v¨n tèt nghiÖp   

điện tử. Vì vậy, cần nắm bắt nhu cầu này và ngày càng cung cấp các dịch vụ linh hoạt
hơn.
Quản lý chất lượng và kiểm tra sản phẩm: Gần đây, có cung cấp các dịch vụ
quản lý chất lượng và kiểm tra sản phẩm ngoài các dịch vụ hợp nhất. Các dịch vụ quản
lý chất lượng và kiểm tra sản phẩm được mong đợi là sẽ thành công trên cả phạm vi
trong nước và toàn cầu.
Trưng bày sản phẩm: để tăng chức năng phân phối, đặc biệt với các sản phẩm
trong kho, các nhà quản lý đã tăng cường khả năng trang bị để có thể trưng bày.
Tuy nhiên, việc trưng bày nên được sắp xếp một cách hệ thống để tránh nhầm
lẫn với các thiết bị kho.
1.2.3 Mối quan hệ của các bên liên quan
Các bên tham gia vào chuỗi logistics có thể chia thành 4 nhóm:
Các cơ quan nhà nước;
Các chủ hàng, các nhà kinh doanh thương mại;

Đó là điều quan trọng, là cái giá phải trả cho sự tiện ích. Những người tiêu dùng chịu
ảnh hưởng của vấn đề liên quan đến thủ tục trong thương mại, tác động của tắc nghẽn
giao thông, ô nhiễm môi trường không khí và tiếng ồn.
Nhà cung cấp dịch vụ vận tải và logistics:
Các nhà cung cấp dịch vụ vận tải rất đa dạng, có thể phân loại thành một số
nhóm chính như
Các hãng vận tải;
Các Công ty vận tải biển;
Các hãng hàng không;
Các Công ty vận tải đường bộ;
Các Công ty vận tải đường sắt;
Các chủ kho bãi;
Các đại lý giao nhận;
Các nhà chuyên cung c p d ch v VT PT và logistics. ấ ị ụ Đ
M c đ tham gia vào chu i cung ng c a các ch th nêu trên là khác nhau. Có thứ ộ ỗ ứ ủ ủ ể ể
h không ph i là ng i ch v n t i, không ph i là ng i ký h p đ ng và ch u tráchọ ả ườ ủ ậ ả ả ườ ợ ồ ị
17
Sinh viên: Nguyễn Thị Minh Châu Trường Đại học Ngoại Thương
Lớp: Kinh tế Đối ngoại K49
   LuËn v¨n tèt nghiÖp   

nhi m, mà ch là ng i thay m t cho ng i v n chuy n, tham gia vào chu i cungệ ỉ ườ ặ ườ ậ ể ỗ
ng d ch v v n t i và v n t i đa ph ng th c.ứ ị ụ ậ ả ậ ả ươ ứ
Các hãng vận tải biển có thể chỉ tham gia vào một công đoạn của quá trình cung
ứng trong trường hợp họ được công ty chuyên cung cấp dịch vụ vận tải đa phương thức
MTO và logistics (LSP) thuê chở hàng chặng trên biển “từ cảng - đến cảng” thông qua
các hợp đồng phụ.
Các công ty vận tải đường bộ, các hãng hàng không, các công ty vận tải đường
sắt, có thể chỉ là người tham gia vào một công đoạn của dịch vụ cung ứng, các LSP ký
hợp đồng phụ thuê họ chở hàng “từ cảng - đến nơi nhận hàng trong nội địa” hoặc

là những doanh nghiệp nhỏ và rất nhỏ. Do vốn ít nên cơ cấu tổ chức doanh nghiệp cũng
đơn giản, không thật sự chuyên sâu, không tổ chức được các văn phòng đại diện ở nước
ngoài nên nguồn thông tin bị hạn chế, các công việc ở nước ngoài đều phải thông qua
các đại lý của các công ty đa quốc gia. Điều này dẫn đến đa số các doanh nghiệp chỉ
dừng lại ở việc làm đại lý cấp 2, cấp 3, thậm chí cấp 4 cho các đối tác nước ngoài có
mạng lưới toàn cầu mà chưa tổ chức kết nối được các hoạt động vận tải đa phương
thức. Tuy có số lượng lớn, các công ty logistics Việt Nam mới đáp ứng được 25% nhu
cầu nội địa và mới chỉ tập trung vào một vài ngành dịch vụ trong chuỗi giá trị dịch vụ
có doanh số hàng tỉ đô la Mỹ này.
Hiện nay có nhiều công ty logistics lớn trên thế giới đã vào Việt Nam nhưng theo
cam kết gia nhập WTO thì sau 5 đến 7 năm các doanh nghiệp này mới có thể thiết lập
doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.Đây là thời gian quý báu để các doanh nghiệp Việt
Nam liên kết dành thị phần. Tuy nhiên, dù chỉ mới là liên doanh liên kết, nhưng hiện
thời các doanh nghiệp nước ngoài đã chia sẻ thị phần khá lớn; do đó khi được quyền
thiết lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài thì cánh cửa mở cho các doanh nghiệp
Việt Nam sẽ còn hẹp hơn nữa. Hiện tại, APL, Mitsui OSK, Maersk Logistics, NYK
Logistics là những tập đoàn hùng mạnh với khả năng cạnh tranh lớn, bề dày kinh
nghiệm và nguồn tài chính khổng lồ, hệ thống mạng lưới đại lý dày đặc, hệ thống kho
hàng chuyên dụng, dịch vụ khép kín trên toàn thế giới, mạng lưới thông tin rộng khắp,
trình độ tổ chức quản lý cao, đã và đang từng bước xâm nhập, củng cố, chiếm lĩnh thị
trường trong nước.
Về phạm vi hoạt động của các công ty logistics của Việt Nam
19
Sinh viên: Nguyễn Thị Minh Châu Trường Đại học Ngoại Thương
Lớp: Kinh tế Đối ngoại K49
   LuËn v¨n tèt nghiÖp   

Hiện nay, các công ty logistics Việt Nam mới chỉ hoạt động trong phạm vị nội địa
hoặc một vài nước trong khu vực, trong khi phạm vi hoạt động của các công ty nước
ngoài như APL Logistics là gần 100 quốc gia, Maersk Logistics là 60 quốc gia, Exel

phòng quản lý logistics hoặc chuỗi cung ứng mà phòng này thường được hiểu là phòng
kinh doanh xuất nhập khẩu. Điều này tạo ra rào cản đối với các doanh nghiệp logistics
Việt Nam trong việc chào các dịch vụ logistics giá trị gia tăng.
Về cơ sở hạ tầng vận tải
Thực tế tiềm năng phát triển hàng hóa của Việt Nam rất lớn, với tỷ lệ tăng trưởng
trung bình 20%/năm và có thể tăng lên 25%/năm trong thời gian ngắn (năm 20011,
lượng hàng qua cảng Việt Nam là 320,17 triệu tấn hàng hóa, tăng 18% so với năm
2010, theo Công ty Tư vấn Sprite). Tuy nhiên, Việt Nam được xếp hạng thấp nhất về
cơ sở hạ tầng vận chuyển hàng hóa trong số các nền kinh tế trọng điểm ở khu vực Đông
Nam Á.
Phần lớn cảng biển tại Việt Nam không được thiết kế cho việc bốc dỡ hàng cho tàu
chuyên dùng, nhiều cảng nằm ngoài thành phố Hồ Chí Minh chỉ được thiết kế cho hàng
rời, không có trang thiết bị xếp dỡ container chuyên dụng. Các cảng không có dịch vụ
hàng hải trực tiếp kết nối Việt Nam với các cảng biển tại châu Âu hay Mỹ. Mặt khác,
các sân bay trong nước cũng thiếu các thiết bị phù hợp để bốc dỡ hàng hóa, thiếu sự
đầu tư các kho bãi mới trong khu vực gần các sân bay, bến cảng. Hệ thống kho bãi hiện
tại trên cả nước lại không phù hợp với hàng hóa bốc dỡ nhanh, trong đó có nhiều kho
bãi đã được khai thác hơn 30 năm qua và không đáp ứng được các tiêu chuẩn quốc tế.
Chưa kể đến tình trạng thiếu điện và dịch vụ hỗ trợ giao tiếp thông tin (viễn thông).
Ngay cả tại khu vực phía Nam, nơi kinh tế phát triển cao trong 10 năm qua, sự yếu kém
trong công tác lập kế hoạch và thiếu đầu tư đã dẫn đến tình trạng ùn tắc hàng hóa đang
gặp phải tại thành phố Hồ Chí Minh. Nguyên nhân chủ yếu là do quy hoạch cảng
không thống nhất, tại một số địa phương quy hoạch không hợp lý và không khoa học.
Về chi phí dịch vụ
Chi phí logistics của Việt Nam được dự đoán khoảng 25% GDP của Việt Nam, cao
hơn rất nhiều so với các nước phát triển như Mỹ và cao hơn các nước đang phát triển
như Trung Quốc hay Thái Lan. Chính chi phí logistis cao này làm giảm hiệu quả những
cố gắng của Việt Nam trong việc giới thiệu thị trường lao động giá rẻ và đẩy mạnh xuất
21
Sinh viên: Nguyễn Thị Minh Châu Trường Đại học Ngoại Thương

mình đã, đang và sẽ được thực hiện bởi các công ty trên. Điều này sẽ giúp Nike tính
22
Sinh viên: Nguyễn Thị Minh Châu Trường Đại học Ngoại Thương
Lớp: Kinh tế Đối ngoại K49
   LuËn v¨n tèt nghiÖp   

toán tốt những dự báo, kiểm soát hàng tồn, đáp ứng kịp thời yêu cầu của khách hàng ở
chi phí tối ưu nhất.
Về tính liên kết
Cho tới nay, các doanh nghiệp logistics của Việt Nam hoạt động còn rất độc lập
thiếu hẳn sự liên kết cần thiết. Trong xu hướng thuê ngoài (outsourcing), mỗi doanh
nghiệp cần tập trung vào thế mạnh của mình và sẽ thuê ngoài các dịch vụ không phải là
thế mạnh. 80% các công ty kinh doanh dịch vụ logistics tại Việt Nam có tổng vốn pháp
định ít hơn 1,5 tỷ đồng (90.000 USD). Có thể thấy rằng việc kết hợp với các đối tác là
rất quan trọng và việc liên kết trở nên cần thiết hơn bao giờ hết. Trong xu thế hiện nay,
mô hình dịch vụ tổng thể, hay còn được gọi dưới cái tên One-stop Shop (tạm dịch: chỉ
dừng một lần có thể mua được tất cả những gì mình cần), đang là một xu thế phổ biến.
Tuy nhiên xu hướng này chưa được các doanh nghiệp Việt Nam tích cực triển khai,đặc
biệt là việc tham gia cộng đồng thương mại quốc tế đa phương.
Về nguồn nhân lực
Logistics vẫn chưa được đào tạo chuyên sâu tại các trường đại học. Hiện nay chỉ
duy nhất có trường Đại học Giao thông vận tải thành phố Hồ Chí Minh là có ngành
Logistics và Vận tải đa phương thức bắt đầu chiêu sinh được năm thứ 2. Còn lại sinh
viên các trường Đại học Hàng hải, Ngoại thương, Giao thông vận tải chỉ học chừng 20
tiết có liên quan. Với 20 tiết như vậy cho toàn bộ một chuỗi kinh doanh tương đối phức
tạp như logistics thì quả là khó khăn quá lớn cho thầy cô truyền đạt đầy đủ lượng kiến
thức cho sinh viên. Số chuyên gia được đào tạo chuyên sâu vẫn còn quá thiếu so với
nhu cầu.
Hiện nay Việt Nam có khoảng 6.000 nhân viên đang làm việc trong lĩnh vực
logistics, tuy vậy những người có kinh nghiệm và hiểu biết về luật pháp quốc tế còn

2.1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY TNHH MTV GEMADEPT HẢI PHÒNG
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty TNHH MTV Hải Phòng.
Tên công ty: Công ty TNHH MTV Gemadept Hải Phòng.
Địa chỉ: Phòng 619B+620+621 tầng 6, Lô 20A, tòa nhà Thùy Dương plaza, đường
Lê Hồng Phong, quận Ngô Quyền, TP. Hải Phòng.
Công ty TNHH MTV Gemadept Hải Phòng được thành lập vào năm 2007 và
là công ty con của Tập đoàn Gemadept – một tập đoàn tiên phong trong lĩnh vực hàng
hải tại Việt Nam. Do đó gắn liền với lịch sử phát triển của Công ty TNHH MTV
Gemadept Hải Phòng là lịch sử hơn 20 năm hình thành và phát triển của Tập đoàn
Gemadept.
1990 - Thành lập công ty, trực thuộc Liên Hiệp Hàng Hải Việt Nam.
1993 - Chuyển đổi thành Công ty Cổ phần với vốn điều lệ 6,2 tỷ đồng.
1995 – Thành lập ICD Phước Long, loại hình Cảng Cạn đầu tiên tại Việt Nam.
1997 – Áp dụng công nghệ vận tải Midstream, vận tải container bằng đường thủy.
2000 – Đứng vị trí thứ 2 trong cả nước về sản lượng xếp dỡ container.
2001 – Nâng vốn điều lệ lên 200 tỷ đồng.
2002 - Niêm yết cổ phiếu GMD trên thị trường chứng khoán.
2003 – Khai trương các tuyến vận tải container chuyên tuyến.
2004 - Thành lập 2 công ty 100% vốn Gemadept tại Singapore và Malaysia.
2006 – Phát hành cổ phiếu tăng vốn điều lệ lên 475 tỷ đồng.
25
Sinh viên: Nguyễn Thị Minh Châu Trường Đại học Ngoại Thương
Lớp: Kinh tế Đối ngoại K49

Trích đoạn Đánh giá về hệ thống thông tin. Nâng cấp và cải thiện hệ thống kho bãi hiện có. Đầu tư thêm vỏ contianer. Website công ty Xây dựng hệ thống cảng cạn ICD khu vưc phía Bắc.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status