LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân, nội dung nghiên
cứu xuất phát từ yêu cầu thực tế trong công tác quản lý nhà nước về tài nguyên và
môi trường.
Kết quả trình bày trong luận án là trung thực, chưa từng được công bố trước
đây./.
Hà Nội, ngày 18 tháng 6 năm 2013
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Lê Văn Hữu
1
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận án tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của cơ quan,
thầy cô giáo, gia đình, đồng nghiệp và bạn bè.
Tôi xin trân trọng cảm ơn PGS.TS. Lê Xuân Cảnh, Viện trưởng Viện Sinh
thái và Tài nguyên sinh vật, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam và
TS. Nguyễn Danh Sơn, nguyên Viện trưởng Viện Phát triển bền vững vùng Bắc Bộ,
Viện Hàn Lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, các thầy giáo đã trực tiếp hướng dẫn tôi
trong thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án tiến sỹ.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật thuộc Viện
Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Tổng Cục thống kê và Văn phòng Phát
triển bền vững thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Sở Tài nguyên và Môi trường Bình
Thuận đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu, thực hiện luận án tiến sỹ.
Tôi xin trân trọng cám ơn Quỹ Hỗ trợ Sáng tạo Kỹ thuật Việt Nam
(VIFOTEC), Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam và Vụ Kế hoạch, Bộ
Tài nguyên và Môi trường, nơi tôi đã và đang công tác tạo mọi điều kiện thuận lợi,
giúp đỡ tôi hoàn thành khóa đào tạo tiến sỹ.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn của mình tới cơ quan, thầy cô giáo, gia đình,
đồng nghiệp và bạn bè những người luôn bên cạnh động viên, khích lệ, giúp đỡ tôi
trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Tôi xin gửi lời cảm ơn trân trọng tới sự giúp đỡ quý báu đó./.
Hà Nội, ngày 18 tháng 6 năm 2013
24
3.1. Thế giới 24
3.2. Các nước trong khu vực 26
4. Tổng quan về phương pháp tổng hợp, phân tích và kinh
nghiệm xây dựng các chỉ tiêu, chi số phát triển bền vững,
trong đó có liên quan đến lĩnh vực sinh thái và tài nguyên
sinh vật
30
4.1. Thế giới 30
4.2. Nhóm các nước phát triển 32
4.3. Nhóm các nước đang phát triển lân cận 34
5. Tổng quan nghiên cứu về phát triển bền vững về sinh thái
và tài nguyên sinh vật ở Việt Nam
34
Chương II
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
1. Đối tượng nghiên cứu 36
2. Nội dung nghiên cứu 36
3. Phương pháp nghiên cứu 36
3
3.1. Phương pháp thu thập, phân tích các tài liệu và số liệu đã có
liên quan đến PTBV ở Việt Nam
36
3.2. Phương pháp thu thập, phân tích các tài liệu và số liệu thực
địa tại tỉnh Bình Thuận
38
3.3. Phương pháp lựa chọn các chỉ tiêu PTBV về sinh thái và tài
nguyên sinh vật
38
66
2.3.2. Xây dựng phương pháp tính toán các chỉ số đánh giá tính bền
vững về sinh thái và tài nguyên sinh vật (ISDEBR)
68
2.4. Ứng dụng phương pháp xử lý thống kê hiện đại để tính toán
chỉ tiêu và chỉ số phát triển bền vững
76
2.5. So sánh các ưu và nhược điểm giữa phương pháp xử lý thống
kê cổ điển và phương pháp xử lý thống kê hiện đại trong việc
78
4
tính toán chỉ tiêu, chỉ số đánh giá tính bền vững về sinh thái và
tài nguyên sinh vật
3. Kết quả thử nghiệm hệ thống chỉ tiêu phát triển bền vững
về sinh thái và tài nguyên sinh vật tại tỉnh Bình Thuận
80
4. Kết quả nghiên cứu và đề xuất giải pháp thực hiện phát
triển bền vững về sinh thái và tài nguyên sinh vật ở Việt
Nam
91
4.1. Hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về tài nguyên và
môi trường
91
4.2. Tăng cường đầu tư nguồn lực 91
4.3. Hợp tác quốc tế 92
4.4. Tăng cường sự tham gia của cộng đồng vào việc đưa ra quyết
định, quản lý và cung cấp tài chính
93
4.5. Giải pháp thực hiện có hiệu quả phát triển bền vững về sinh
thái và tài nguyên sinh vật
OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
PPP Sức mua tương đương (về tiền tệ)
RESI Chỉ số phát triển bền vững về tài nguyên
RESIVN Chỉ số phát triển bền vững về tài nguyên của Việt Nam
REESI Chỉ số phát triển bền vững về tài nguyên và môi trường
REESIVN Chỉ số phát triển bền vững về tài nguyên và môi trường của
Việt Nam
ISDEBRVN Chỉ số phát triển bền vững về sinh thái và tài nguyên sinh vật
ở Việt Nam
SS Chất rắn lơ lửng
UN Liên Hợp Quốc (LHQ)
UNDP Uỷ ban phát triển Liên Hợp Quốc
6
UNEP Uỷ ban môi trường Liên Hợp Quốc
UNESCO Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hoá của thuộc Liên Hợp
Quốc
VOC Chất hữu cơ bay hơi
Tiếng Việt:
ANQP An ninh quốc phòng
BOD
5
Nhu cầu oxy sinh hoá đo ở 20
0
C, trong 5 ngày
BVMT Bảo vệ môi trường
CNH Công nghiệp hóa
COD Nhu cầu oxy hóa học
ĐTH Đô thị hóa
GTVT Giao thông vận tải
HĐH Hiện đại hóa
phía Nam đến các đặc điểm mang tính chất cận nhiệt đới ở các vùng núi cao phía
Bắc. Thêm vào đó, Việt Nam có nhiều dạng địa hình khác nhau tạo điều kiện cho sự
đa dạng sinh vật và phong phú tài nguyên [45]. Vì vậy, để đánh giá một vùng, một
khu vực hay toàn bộ lãnh thổ Việt Nam có phát triển bền vững hay không là rất khó
khăn và phức tạp.
Mặt khác, việc đánh giá sự phát triển bền vững về lĩnh vực sinh thái và tài
nguyên sinh vật ở Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung đang là vấn đề rất mới.
Có thể khẳng định rằng, hiện nay ở Việt Nam, trong khu vực và thế giới chưa có
8
công trình nào đi sâu nghiên cứu, xây dựng hệ thống chỉ tiêu phát triển bền vững về
lĩnh vực sinh thái và tài nguyên sinh vật [9,10,12,13,23,24,30,32,33,34,42,45,
46,50]. Xuất phát từ yêu cầu thực tế hiện nay trong công tác quản lý nhà nước về tài
nguyên và môi trường hiện nay, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Xây dựng hệ thống
chỉ tiêu phát triển bền vững về sinh thái và tài nguyên sinh vật ở Việt Nam”.
2. Mục tiêu của đề tài
- Xây dựng mới hệ thống chỉ tiêu phát triển bền vững về sinh thái và tài
nguyên sinh vật ở Việt Nam.
- Đề xuất giải pháp tổ chức thực hiện phát triển bền vững về sinh thái và tài
nguyên sinh vật ở Việt Nam.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Đây là công trình khoa học đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu xây dựng hệ
thống chỉ tiêu phát triển bền vững về lĩnh vực sinh thái và tài nguyên sinh vật. Kết
quả của công trình là cơ sở khoa học, có tính thực tiễn cho việc đánh giá mức độ
phát triển bền vững của các vùng, các tỉnh và toàn lãnh thổ Việt Nam phục vụ công
tác quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường.
9
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1. Một số khái niệm, quan điểm liên quan đến phát triển bền vững và hệ thống
chỉ tiêu phát triển bền vững
Trong khi đã nhận được sự đồng thuận và nhất trí cao tại Hội nghị LHQ Rio
De Janeiro năm 1992 về Môi trường và Phát triển, thì triết lý tư tưởng “Phát triển
bền vững” vẫn còn đang gây tranh cãi, vì còn có những nhận định cho rằng tư tưởng
ấy rất hay nhưng trong thực tế khó thực hiện, thậm chí chỉ là một ảo tưởng. Cách
nhìn bi quan về ngưỡng phát triển và PTBV này phần nào được củng cố thêm, bởi
những kết quả không mấy khả quan trong việc thực hiện Chương trình Nghị sự 21
tính cho đến thời điểm hiện nay [46]. Trong thực tế của nhiều quốc gia cái vòng
luẩn quẩn “nghèo khó - suy thoái môi trường” vẫn còn là một hạn chế rất lớn trên
con đường phát triển.
Năm 1992, Hội nghị thượng đỉnh Trái đất, gọi tắt là Rio - 92 tại Rio de
Janeiro đã thông qua Tuyên bố Rio de Janeiro về môi trường và phát triển và
Chương trình nghị sự 21, đây là một kế hoạch chi tiết về tăng trưởng kinh tế, thúc
đẩy công bằng xã hội và bảo vệ môi trường [45].
Năm 2012, Hội nghị thượng đỉnh Trái đất, gọi tắt là Rio + 20 cũng tổ chức
tại Rio de Janeiro, Tổng thư lý LHQ Ban ki - moon đã tuyên bố “đặt thế giới vào
con đường phát triển bền vững và phổ quát, trong đó các yếu tố kinh tế, xã hội, môi
trường và phúc lợi được cân bằng” [46].
Nhìn chung, quan điểm chủ đạo của các quốc gia thành viên LHQ là bất chấp
những hạn chế, cản trở và trở ngại còn tồn tại hoặc mức độ thành công còn khá
khiêm tốn trong việc triển khai thực hiện Chương trình Nghị sự 21, thì các quốc gia
vẫn lựa chọn con đường phát triển bền vững, bởi đó là con đường có tính nguyên
tắc duy nhất nếu các quốc gia thực sự muốn phát triển lâu bền để đạt tới các ngưỡng
phát triển tiến bộ và văn minh nhân loại mới. Vấn đề còn lại là tìm kiếm được các
phương tiện và công cụ thật hiệu quả cho việc tổ chức thực hiện nó.
1.3. Bối cảnh thực tiễn phát triển bền vững trên thế giới
Bối cảnh PTBV đặc thù trên thế giới là sự phát triển không đồng đều giữa
các nước, khu vực và đó là một nguyên nhân chính đang cản trở việc thực hiện
11
thành công các mục tiêu PTBV và Chương trình Nghị sự 21 của Thế giới một cách
hiệu quả cao, cho nên vấn đề PTBV cần được xem xét trên góc độ các nước phát
- 75% tổng lượng CO
2
.
- 75% tổng lượng chất thải rắn.
(b). Tính theo đầu người, một người dân của các NPT so với một người dân
của các NĐPT, thì tính theo hàng năm có số liệu so sánh ở mức trung bình như sau:
- Tiêu thụ giấy gấp 14 - 16 lần.
- Tiêu thụ thịt gấp 6 - 52 lần.
- Tiêu thụ năng lượng gấp 10 - 35 lần.
- Tạo ra chất thải gấp 10 lần.
(c). Trong khi các NĐPT với trên 4 tỷ dân, chiếm 75% dân số thế giới, vẫn
nằm ở tình trạng đói nghèo và lạc hậu, với các con số thống kê như sau:
- Hơn 1 tỷ người sống dưới mức nghèo khổ.
- 1,75 tỷ người lớn mù chữ.
- Hơn 150 triệu trẻ em thiếu dinh dưỡng.
- Khoảng 1,5 tỷ người không được chăm sóc sức khoẻ.
- 2,8 tỷ người không có điều kiện vệ sinh.
Ngay như đến cuối thập kỷ 90, tức là đã trong những năm cuối cùng của Thế
kỷ 20, thì tình hình này cũng chưa có biến chuyển gì tốt hơn và chưa có sự thay đổi
đáng kể, bởi vì các mức chênh lệch nêu trên vẫn còn rất lớn. Thí dụ:
- Về tiêu thụ năng lượng tính theo theo đầu người, thì mức tiêu thụ thấp nhất
(năm 1997) của Ê-tiôpia là 0,294 TOE (tấn dầu quy đổi) và nếu so với mức trung
bình của thế giới thì chưa bằng 1/5. Còn nếu lấy mức cao nhất của Hoa Kỳ (Châu
Mỹ) là 7,96 TOE, thì mức này gấp 27 lần so với Ê-tiôpia (Châu Phi).
- Về tiêu thụ thịt tính theo đầu người (năm 1998), thì mức trung bình thế giới
là 37 kg cũng gấp mức thấp nhất của Băng-ladet (3 kg) là 12 lần; còn mức cao nhất
của Niu - Dilân (137 kg) cũng cao gấp hơn 45 lần so với con số của Băng-ladet.
- Tuy nhiên, do những nguyên nhân trong lịch sử phát triển và nhất là do tình
trạng phát triển không đồng đều, sự bất bình đẳng và bất công xã hội trong trật tự
kinh tế thế giới cũ và mới, các quốc gia nhìn chung có thái độ và trách nhiệm khác
nên vòng luẩn quẩn cho sự phát triển với rất ít tiến bộ và văn minh xã hội, tuy có
thể đạt được một mức độ bền vững động (nguyên thuỷ hoặc biến đổi tự nhiên) nào
14
đó. Bởi vì, trong điều kiện đó các nước sẽ phải sống dựa nhiều vào vốn thiên nhiên
và bị hạn chế bởi thiếu tri thức kỹ thuật, thiếu vốn, thiếu công nghệ, cho nên năng
suất và hiệu quả lao động thấp, dẫn đến tình trạng sử dụng năng lượng và nguyên
liệu với hiệu quả rất thấp, nên sẽ càng tốn nhiều tài nguyên cho sinh nhai và phát
triển, trong khi đó nếu phát sinh các vấn đề môi trường cấp bách sẽ có nhiều vấn đề
không tự xử lý được và phần lớn đều là sự phó thác vô trách nhiệm cho “khả năng
tự làm sạch” của môi trường tự nhiên, mà điều đó có thể gây ra các mức quá tải
khác nhau cho hệ thống TN&MT, .v.v Thậm chí, tại nhiều nơi người dân sẽ phải
tìm mọi cách để sinh nhai và sinh sống được, nhất là tìm đến phương thức đơn
thuần là khai thác tài nguyên và môi trường một cách sơ khai và rất kém hiệu quả,
dẫn đến khả năng tàn phá tài nguyên và môi trường như một kết cục có tính tất yếu.
Vì vậy, con đường phát triển thoát nghèo duy nhất là phải tăng trưởng kinh
tế gắn liền với thực hiện quá trình CNH, HĐH và ĐTH, gây ra các vấn nạn ô nhiễm
môi trường cấp bách, cho nên xét cho cùng vấn đề ở đây là cần phải tăng trưởng
KT-XH và bảo đảm ANQP sao cho phù hợp với các khả năng có thể dành cho việc
bảo vệ môi trường và bảo tồn thiên nhiên, không gây nên các ảnh hưởng có tính
chất “sốc và đột biến” đối với môi trường, tức là mức độ ảnh hưởng tới môi trường
là có thể chấp nhận được, có khả năng phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường
một cách dễ dàng [20]. Đây thực chất chỉ là một giải pháp có tính chất cuối cùng,
buộc phải áp dụng khi không còn phương sách nào khác và giống như một sự chấp
nhận được cái giá phải trả cho phát triển KT-XH ở một khuôn khổ khá hài hòa,
trong đó ý tưởng của việc xác định “mức độ chấp nhận được” sẽ được đề xuất ở
những phần sau.
Tại các NPT, cũng không thể chỉ nói một cách đơn giản là: “Vì vấn đề môi
trường sẽ phải giảm tốc tăng trưởng”, mà ngược lại sẽ vẫn cần tiếp tục tăng trưởng
như đầu tàu của nền kinh tế thế giới. Nếu không, điều này sẽ hạn chế chính sự phát
triển của các nước nghèo do tính chất ngày càng phụ thuộc lẫn nhau của các nền
- Dù ở các mức độ, điều kiện và khả năng quá độ khác nhau, các nước đều
phải hướng tới việc sử dụng các công nghệ thân thiện môi trường. Vì có rất nhiều
lĩnh vực sản xuất và dịch vụ, cho nên công nghệ sử dụng hết sức đa dạng, nhưng
yếu tố cơ bản và tiêu biểu nhất cho mọi công nghệ chính là khả năng sử dụng năng
16
lượng, nước và nguyên vật liệu thô như thế nào? Vì nó liên quan đến các chu trình
sản xuất sản phẩm và phát sinh các chất thải khép kín. Ví dụ như: việc sử dụng khí
thiên nhiên, công nghệ sạch về đốt than, xăng không pha chì và các bộ biến đổi xúc
tác, có thể giảm tới 99% sự phát thải các hạt bụi gây ô nhiễm không khí; hoặc việc
sử dụng nước theo chu trình khép kín từ chỗ sử dụng tuần hoàn trong công nghệ sẵn
có, đến việc tái sử dụng nước thải thông qua quá trình xử lý hợp tiêu chuẩn, sẽ làm
giảm đến 90% tình trạng ô nhiễm các nguồn tiếp nhận; hoặc như việc áp dụng công
nghệ sinh thái công nghiệp sẽ tiết kiệm rất lớn các nguyên vật liệu thô và giảm thiểu
chất thải gây ô nhiễm.
- Đặc biệt có chỉ tiêu rất đáng chú ý, là lượng năng lượng sử dụng cho một
đơn vị sản phẩm. Thí dụ, để sản xuất ra 100 USD của GNP, thì Nhật Bản cần 15 kg
dầu quy đổi, trong khi đó ở Đức là 29, Mỹ là 38, Canada là 54 kg. Nếu tất cả các
NPT đều đạt hiệu suất sử dụng năng lượng như Nhật Bản, thì tổng năng lượng sử
dụng trên thế giới sẽ giảm 2.343 triệu tấn dầu quy đổi, tức là bằng 36% tổng năng
lượng tiêu thụ. Như vậy, có thể tư duy được ý nghĩa của vấn đề kèm theo, đó là sự
giảm bớt sử dụng tài nguyên, hạ giá thành sản phẩm và giảm bớt các tác động tiêu
cực đến môi trường, cũng như các đầu tư cần thiết cho BVMT [39].
- Trong các quyết định, nhất là đối với các chủ trương đầu tư quan trọng
hoặc các chính sách chủ yếu về sử dụng tài nguyên, phải tìm cách phản ánh được
các giá trị của môi trường, kể cả cái giá phải trả cho sự bồi hoàn, khắc phục và cải
thiện chất lượng môi trường. Thông thường, các nhà kinh doanh và quản lý không
mấy chú ý đến các giá trị của tài nguyên và môi trường, mà trong đó có những dạng
tài nguyên và môi trường thậm chí được coi như của “trời cho”, tự do sử dụng và
khai thác một cách vô tội vạ. Hành động này có thể mang lại nhiều lợi ích nhất thời
cho một số nhóm người, hoặc thậm chí cho vài mươi thế hệ, song sẽ mang đến
như vậy sẽ đóng góp rất thiết thực cho PTBV.
- Các mối quan hệ đa phương hay song phương giữa các NPT và NĐPT cũng
phải thay đổi một cách căn bản, nếu như muốn bảo đảm PTBV cho mỗi quốc gia và
cho toàn cầu. Bởi, như trên đã trình bày, có những vấn đề lớn về môi trường mang
tính toàn cầu và đòi hỏi phải có sự cộng tác chặt chẽ giữa mọi quốc gia mới có thể
giải quyết được. Cần phải làm rõ khái niệm: “Trái Đất này không thể trở thành
18
trong lành và an toàn cho mỗi người, nếu không có ý chí hợp tác của tất cả mọi
người”. Cuộc đấu tranh cho một trật tự thế giới công bằng hơn, không chỉ có ý
nghĩa chính trị, mà gắn kết mật thiết với xu thế PTBV trên thế giới. Nếu không chấp
nhận cuộc cải cách này, thì cũng sẽ làm cho PTBV khó trở thành hiện thực.
- Ngoài ra, các NPT cũng cần có nhận thức cao hơn về trách nhiệm, thực
hiện nghiêm chỉnh những nguyên tắc đã ghi trong Tuyên ngôn Rio De Janeiro năm
1992, cũng như phải tăng cường giúp đỡ các NĐPT, ít nhất là về mặt tài chính và
công nghệ. Song, đáng tiếc là gần mười năm sau Hội nghị LHQ Rio De Janeiro năm
1992, mọi sự tiến triển chưa đáng kể.
Có thể nêu ra một số ví dụ điển hình nhất như [46]:
- Việc tăng cường ODA được thực hiện chậm chạp và nhiều NPT chưa đạt
mức 0,7% GDP như yêu cầu của LHQ. Tổng số ODA hàng năm đã từ mức 41,7 tỷ
USD trong giai đoạn 1985 - 1987 tăng lên 63,1 tỷ USD trong giai đoạn 1995 - 1997,
nhưng so với nhu cầu thì còn cách rất xa. Theo OECD, năm 2000 giá trị ODA của
22 NPT cho các nước nghèo tăng 5,6% so với 1999, đưa tổng số ODA lên tới 56,4
tỷ USD. Tuy nhiên, tỷ trọng viện trợ phát triển của các nước OECD so với GDP
cũng chỉ tăng lên chút ít, từ 0,23 lên 0,24%.
- Theo số liệu thống kê, thì có 04 nước cung cấp ODA nhiều nhất (về giá trị
tuyệt đối và so với tổng ODA) là Nhật, Mỹ, Pháp và Đức với tổng số là 55,2 tỷ
USD, đạt mức tỷ trọng ODA chiếm trung bình 0,26% so với GDP. Nhật Bản tuy
cung cấp ODA nhiều nhất, đạt 15,3 tỷ USD, nhưng cũng chỉ bằng 0,35% GDP, tuy
đã tăng khá so với trước (0,28%). ODA của Mỹ tuy đạt 9,1 tỷ USD, song ODA
cũng chỉ bằng 0,1% GDP và là tỷ trọng thấp nhất so với các nước khác. Trong các
tế - xã hội, lồng ghép chặt chẽ với bảo vệ môi trường và khôi phục môi trường.
(5). Phát triển kinh tế - xã hội phải gắn liền với lợi ích, trách nhiệm của cộng
đồng địa phương.
(6). Phát triển kinh tế - xã hội phải gắn với việc đào tạo nâng cao nhận thức
môi trường.
(7). Phát triển kinh tế - xã hội phải gắn liền với công tác nghiên cứu khoa học
và công nghệ.
20
1.5. Khái niệm về ngưỡng phát triển trên con đường tiến tới phát triển bền vững
Triết lý và thực tế về quá trình vận động phát triển không ngừng trong tự
nhiên và xã hội, đều cho thấy bản chất tích lũy, gia tăng, hoặc trầm tích, tồn tích
một cách đều đều hay đột biến thăng - trầm phát triển, chứng tỏ sự tồn tại của các
ngưỡng phát triển có thể được nhận biết và phát hiện khá dễ dàng. Nhìn chung
“ngưỡng phát triển” sẽ cho thấy rằng các tích lũy, gia tăng hoặc trầm tích, tồn tích
phát triển thường xảy ra một cách đều đều ở quy mô “sâu lắng hoặc âm thầm”
thường rất khó phát hiện và nhận biết, song khi đã tự diễn biến tới một giới hạn
chuyển biến hoặc chuyển pha đột biến thăng - trầm nhất định, thì sẽ tự xuất hiện sản
sinh có tính chất nhảy vọt hoặc bùng nổ và trở thành một sự kiện được ghi nhận,
hay một hiện tượng tồn tại thực tiễn khách quan khó có thể chối cãi được.
Vì vậy, người ta có thể hiểu “ngưỡng phát triển” là một điểm, một mức và
một giá trị không gian, hoặc một thời điểm thời gian, mà ở trên hoặc sau đó sẽ có
thể xảy ra một sự kiện, một hiện tượng nhất định, còn ở dưới hoặc ở trước đó thì các
sự kiện, hiện tượng nhận thức và phát hiện được chưa xảy ra. Do “ngưỡng phát
triển” có giá trị nhận thức triết lý khách quan, cho nên có thể phát hiện trong bất kỳ
một lĩnh vực phát triển tự nhiên hay xã hội nào, đồng thời có thể vận dụng khái
niệm này vào việc nghiên cứu, thiết lập các nhóm mối quan hệ KT – XH và môi
trường (hoặc như sau này đã bổ sung thêm nhóm quan hệ chỉ số về thể chế) theo các
chuẩn mực của triết lý PTBV. Ngoài ra, việc nhận thức và phát hiện về “ngưỡng
phát triển” có thể giúp cho nhận thức về “mức độ chấp nhận được” trong PTBV đã
nêu ở trên, mặc dù hầu như chúng ta không mong muốn chấp nhận bất kỳ một sự
quan tới nhau theo nhiều chiều.
(5). Chỉ số: là mật độ đo tổng hợp ở mức cao, được tính từ các chỉ tiêu và hệ
thống chỉ tiêu.
(6). Chỉ tiêu bền vững: các chỉ tiêu thường cung cấp các thông tin về xu thế,
mô tả một trạng thái. Các chỉ tiêu có thể giúp xác định các thành phần liên quan của
sự phát triển bền vững, làm tăng cường sự hiểu biết về trạng thái của sự bền vững.
Việc chỉ ra mối quan hệ giữa hai chỉ tiêu hoặc sự phát triển theo thời gian của một
chỉ tiêu nào đó sẽ giúp mọi người hiểu biết thế nào là phát triển bền vững.
22
2. Kết quả nghiên cứu về phân loại các chỉ tiêu phát triển bền vững
Hệ thống chỉ tiêu phát triển bền vững thường được phân loại theo lĩnh vực và
theo tính chất. Bốn lĩnh vực thường được xem xét là kinh tế, xã hội, môi trường và
thể chế. Tuy nhiên, một số nước đã xây dựng hệ thống chỉ tiêu phát triển bền vững
theo điều kiện thực tế của nước đó, bao gồm các lĩnh vực khác như tài nguyên, khí
hậu, theo lĩnh vực khoa học, theo vùng địa lý Ngoài ra, còn phân loại các chỉ tiêu
phát triển bền vững theo các tính chất như sau:
- Các chỉ tiêu trạng thái: chỉ rõ trạng thái của hệ thống tại một thời điểm cụ
thể, ký hiệu là nhóm S là chữ cái đầu của state.
- Các chỉ tiêu mục tiêu, mục đích: dự kiến trạng thái của hệ thống trong
tương lai, ký hiệu nhóm T là chữ cái đầu của target.
- Các chỉ tiêu áp lực: các chỉ tiêu trực tiếp tác động đến các vấn đề môi
trường, ký hiệu là nhóm P là chữ cái đầu của pressure.
- Các chỉ tiêu ảnh hưởng: chỉ rõ các tác động đến sự thay đổi trạng thái, ký
hiệu là nhóm I là chữ cái đầu của impact.
- Các chỉ tiêu hưởng ứng: chỉ rõ nỗ lực của xã hội giải quyết đến các vấn đề,
ký hiệu là nhóm R là chữ cái đầu của response.
Trong luận án này, khái niệm hệ thống chỉ tiêu PTBV về sinh thái và tài
nguyên sinh vật như sau “Là tập hợp những chỉ tiêu liên quan với nhau, cung cấp
các thông tin về xu thế, trạng thái giúp xác định sự phát triển bền vững về sinh thái
và tài nguyên sinh vật”.
(5). Phát thải CO
2
.
3.1.3. Hoa Kỳ
Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (hay Mỹ) là nước phát triển nằm ở Tây bán cầu, có
diện tích tự nhiên 9364 nghìn km
2
với dân số 291,5 triệu người vào năm 2003, tỷ lệ
dân số thành thị gần 80% dân số. Năm 1997, dựa vào ý kiến 500 công ty, các tổ
chức phi chính phủ và các nhóm nghiên cứu của sinh viên, đã lựa chọn ra một Bộ
chỉ tiêu phát triển bền vững gồm 32 chỉ tiêu, trong đó có 11 chỉ tiêu đề cập đến lĩnh
vực sinh thái và tài nguyên sinh vật [9,10,21,22,26,27,29,35]:
(1). Các chất hoá học ô nhiễm trong đất, cửa sông, biển.
(2). Tỷ lệ đánh bắt/sinh trưởng của cá.
(3). Chỉ số đáp ứng khí hậu nhà kính.
(4). Số loài ngoại lai thâm nhập vào lãnh thổ.
24
(5). Sử dụng đất, bao gồm cả đô thị.
(6). Các loại đất.
(7). Các loài bị đe doạ.
(8). Tỷ lệ khai thác/sinh trưởng của gỗ.
(9). Diện tích đất bị nhiễm độc.
(10). Tỷ lệ tiêu thụ/tái tạo nước.
(11). Chỉ số chất lượng nước.
3.2. Các nước trong khu vực
3.2.1. Inđônexia
Inđônexia là NĐPT nằm ở Đông nam Châu á. Diện tích 741.096 km
2
với
17.000 đảo có người ở, trong đó đảo lớn nhất là Sumatra và Java. Inđônexia nằm