Hoàn thiện công tác Kế toán tập hợp chi phí sửa chữa & tính giá thành dịch vụ sửa chữa ở Công ty Cổ phần vận tải ô tô Nam Định - Pdf 16

Nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà
nớc đã đem lại những biến chuyển tích cực cho tất cả các thành phần kinh tế, nền
kinh tế này không những khuyến khích các thành phần kinh tế tăng trởng và phát
triển, thu hút các nguồn vốn trong và ngoài nớc, tạo công ăn việc làm, ... mà còn góp
phần đa nền kinh tế nớc ta hoà nhập với nền kinh tế thế giới và khu vực. Từ khi nớc
ta chuyển sang nền kinh tế thị trờng thì các doanh nghiệp đã thực hiện hạch toán
kinh tế độc lập, do đó mối quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp là bảo toàn và
phát triển vốn kinh doanh đồng thời có lợi nhuận. Với đặc điểm của nền kinh tế thị
trờng thì các doanh nghiệp muốn tìm đợc cho mình chỗ đứng vững chắc trên thị tr-
ờng thì phải luôn cạnh tranh gay gắt với các doanh nghiệp khác. Lúc này, sản phẩm
với chất lợng tốt là chìa khoá cho các doanh nghiệp đẩy mạnh sản xuất, tăng nhanh
vòng quay vốn, đem lại nhiều lợi nhuận từ đó tích luỹ cho doanh nghiệp và nâng cao
đời sống cho cán bộ công nhân viên. Do đó, để có thể điều hành và chỉ đạo sản xuất
kinh doanh trong điều kiện cơ chế thị trờng, các doanh nghiệp bên cạnh việc tăng c-
ờng đổi mới công nghệ sản xuất, áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nhằm nâng
cao năng suất lao động và chất lợng sản phẩm thì công tác quản lý sản xuất, quản lý
kinh tế đảm bảo thúc đẩy quá trình sản xuất kinh doanh là một yêu cầu cấp bách
không kém phần quan trọng. Điều này buộc các doanh nghiệp phải tự nghiên cứu và
tìm cho mình con đờng đi để tồn tại và phát triển. Đứng trớc yêu cầu cấp bách đó,
mỗi doanh nghiệp khi lựa chọn bất kỳ một phơng án kinh doanh nào cũng phải đặt
vấn đề hiệu quả lên hàng đầu, tức là đạt đợc lợi nhuận cao nhất. Đó là một yêu cầu
bức xúc đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào và để thực hiện đợc yêu cầu đó đòi hỏi
các doanh nghiệp phải có các biện pháp quản lý chặt chẽ việc sử dụng lao động, vật
t, tiền vốn tức là phải quản lý chặt chẽ các chi phí sản xuất từ đó tiết kiệm chi phí
sản xuất và hạ giá thành sản phẩm.
Nh vậy, công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm luôn giữ vai
trò quan trọng trong công tác quản lý kinh doanh của các doanh nghiệp. Công tác
này cung cấp các thông tin về chi phí sản xuất, giúp các nhà lãnh đạo có thể phân
tích đợc và ra các quyết định quản trị kịp thời.
1
Nhận thức đợc tầm quan trọng này và với mong muốn tìm ra những biện pháp cụ

Một trong những thông tin quan trọng đối với các nhà quản lý doanh nghiệp là
các thông tin về chi phí, vì mỗi khi chi phí tăng thêm sẽ có ảnh hởng trực tiếp tới lợi
nhuận. Để quản lý đợc chi phí cần thiết phải làm rõ các cách phân loại chi phí khác
nhau trong kế toán quản trị, vì mỗi cách phân loại chi phí đều cung cấp những thông
tin ở những góc độ khác nhau cho các nhà quản trị ra các quyết định thích hợp.
Trong kế toán tài chính, chi phí đợc định nghĩa nh là một khoản hao phí bỏ ra để
thu đợc một số sản phẩm hoặc dịch vụ nào đó. Bản chất của chi phí phải mất đi để
đổi lấy một khoản thu về.
Sự phát sinh và phát triển của xã hội loài ngời gắn liền với quá trình sản xuất.
Nền sản xuất xã hội của bất kỳ phơng thức sản xuất nào cũng gắn liền với sự vận
động và tiêu hao các yếu tố cơ bản tạo nên quá trình sản xuất. Nói cách khác, quá
trình sản xuất là quá trình kết hợp giữa sức lao động với t liệu lao động và đối tợng
lao động để tạo ra sản phẩm.
Nh vậy, chi phí sản xuất là toàn bộ chi phí có liên quan đến việc chế tạo sản
phẩm trong một kỳ nhất định. Còn chi phí sản xuất kinh doanh là biểu hiện bằng
tiền của toàn bộ các hao phí về lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp
đã bỏ ra có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất
định. Nói cách khác, chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí mà
doanh nghiệp phải tiêu dùng trong một thời kỳ để thực hiện quá trình sản xuất và
tiêu thụ sản phẩm. Thực chất chi phí là sự dịch chuyển vốn - chuyển dịch giá trị của
các yếu tố sản xuất vào các đối tợng tính giá.
3
Chi phí sản xuất gồm 3 khoản mục chi phí sau:
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Là chi phí của những loại nguyên vật liệu
cấu thành thực thể của sản phẩm, có giá trị lớn và có thê xác định đợc một cách tách
biệt, rõ ràng và cụ thể cho từng sản phẩm.
Chi phí lao động trực tiếp: Là chi phí tiền lơng của những lao động trực tiếp
chế tạo sản phẩm.
Chi phí sản xuất chung: Là những chi phí cần thiết khác để sản xuất sản phẩm,
ngoài chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí lao động trực tiếp. Chi phí sản xuất

Tổng chi phí trong kỳ của doanh nghiệp bao gồm toàn bộ giá trị tài sản hao phí
hoặc tiêu dùng cho quá trình sản xuất trong kỳ đó. Ngoài sự khác nhau về lợng, chi
phí và chi tiêu còn khác nhau về thời gian, có những khoản chi tiêu kỳ này nhng cha
đợc tính vào chi phí (chi mua nguyên vật liệu về nhâp kho cha đa vào sử dụng,...)
hay có những khoản tính vào chi phí kỳ này nhng thực tế cha chi tiêu (chi phí trích
trớc). Sở dĩ có sự khác nhau này là do đặc điểm, tính chất vận động và phơng thức
dịch chuyển giá trị của từng loại tài sản vào quá trình sản xuất và yêu cầu kỹ thuật
hạch toán chúng.
1.2) Phân loại chi phí sản xuất:
Chi phí sản xuất của doanh nghiệp bao gồm nhiều loại có nội dụng kinh tế khác
nhau, mục đích và công dụng của chúng trong quá trình sản xuất cũng khác nhau.
Vì vậy, để thuận lợi cho công tác quản lý chi phí sản xuất và kế toán tập hợp chi phí
sản xuất cần phải tiến hành phân loại chi phí sản xuất. Tuỳ vào mục đích và yêu cầu
quản lý mà chi phí sản xuất đợc phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau. Tuy
nhiên, về mặt hạch toán, chi phí sản xuất thờng đợc phân theo các tiêu thức sau:
a) Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung và tính chất kinh tế:
Để phục vụ cho việc tập hợp, quản lý chi phí theo nội dung kinh tế ban đầu đồng
nhất của nó mà không xét đến công dụng cụ thể, địa điểm phát sinh, chi phí đợc
phân theo nội dung và tính chất kinh tế. Theo cách phân loại này, những chi phí sản
xuất nào giống nhau về tính chất và nội dung kinh tế thì đợc xếp vào một yếu tố chi
phí, không phân biệt chi phí đó phát sinh ở lĩnh vực hoạt động sản xuất nào, ở đâu
và mục đích hoặc tác dụng của chi phí đó là gì. Vì vậy, cách phân loại này còn gọi
5
là phân loại chi phí sản xuất theo yếu tố. Toàn bộ chi phí sản xuất trong kỳ của
doanh nghiệp đợc chia thành các yếu tố chi phí sau:
- Yếu tố nguyên liệu, vật liệu: Bao gồm toàn bộ giá trị nguyên, vật liệu chính,
vật liệu phụ, phụ tùng thay thế, công cụ, dụng cụ,... sử dụng vào sản xuất - kinh
doanh (loại trừ giá trị dùng không hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi cùng với
nhiên liệu, động lực).
- Yếu tố nhiên liệu, động lực sử dụng vào quá trình sản xuất - kinh doanh trong

mục này số tiền lơng, phụ cấp lơng và tiền trích BHXH, BHYT, KPCĐ của nhân
viên quản lý phân xởng, nhân viên bán hàng và nhân viên quản lý doanh nghiệp).
- Chi phí sản xuất chung: Là những chi phí phát sinh trong phạm vi phân xởng
(trừ chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp), chi phí sản xuất
chung gồm có:
+Chi phí nhân viên phân xởng
+Chi phí vật liệu, công cụ, dụng cụ dùng chung cho hoạt động sản xuất của
phân xởng.
+Chi phí khấu hao TSCĐ sử dụng tại phân xởng.
+Chi phí dịch vụ mua ngoài dùng chung cho phân xởng.
+Chi phí bằng tiền khác phục vụ cho yêu cầu sản xuất chung ở phân xởng.
Ngoài ra, để thuận tiện cho việc tính giá thành toàn bộ thì theo quy định hiện
hành, giá thành sản phẩm bao gồm năm khoản mục :
- Ba khoản mục nêu trên: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công
trực tiếp, chi phí sản xuất chung.
-Chi phí bán hàng: Là những chi phí mà doạnh nghiệp bỏ ra có liên quan đến
hoạt động tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, lao vụ, dịch vụ trong kỳ nh chi phí nhân viên
bán hàng, chi phí dụng cụ bán hàng, chi phí quảng cáo,...
-Chi phí quản lý doanh nghiệp: Là những khoản chi phí phát sinh có liên quan
chung đến toàn bộ hoạt động của cả doanh nghiệp mà không tách riêng ra đợc cho
bất kỳ hoạt động nào, bao gồm chi phí quản lý kinh doanh, quản lý hành chính và
chi phí chung khác.
Phân loại chi phí sản xuất theo mục đích và công dụng có tác dụng phục vụ cho
yêu cầu quản lý chi phí sản xuất theo định mức, cung cấp số liệu cho công tác tính
7
giá thành sản phẩm, phân tích tình hình thực hiện kế hoạch giá thành sản phẩm cho
kỳ sau.
c) Phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ với khối lợng sản phẩm
hoàn thành:
Để thuận lợi cho việc lập kế hoạch và kiểm tra chi phí, đồng thời làm căn cứ để

Quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là quá trình tiêu tốn các chi phí
sản xuất. Kết thúc quá trình sản xuất, doanh nghiệp thu đợc các sản phẩm, lao vụ,
dịch vụ hoàn thành. Các sản phẩm, lao vụ, dịch vụ này đợc sản xuất ra là để tiêu thụ
với mục đích thu đợc một khoản tiền mà sau khi bù đắp các chi phí sản xuất hình
thành nên sản phẩm, lao vụ, dịch vụ đó doanh nghiệp vẫn có lãi.
Nh vậy, giá thành sản phẩm là chi phí sản xuất tính cho một khối lợng sản phẩm
hoặc đơn vị sản phẩm, dịch vụ do doanh nghiệp đã sản xuất hoàn thành. Hay giá
thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản hao phí về lao động
sống và lao động vật hoá có liên quan đến khối lợng công tác, sản phẩm, lao vụ,
dịch vụ đã hoàn thành.
Trong giá thành sản phẩm chỉ bao gồm những chi phí tham gia trực tiếp hoặc
gián tiếp vào quá trình sản xuất, tiêu thụ phải đợc bồi hoàn để tái sản xuất ở doanh
nghiệp mà không bao gồm những chi phí phát sinh trong kỳ kinh doanh của doanh
nghiệp. Nh vậy, giá thành là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh chất lợng hoạt
động sản xuất, phản ánh kết quả sử dụng các loại tài sản, vật t, lao động, tiền vốn
trong quá trình sản xuất. Nó còn là căn cứ để xác định mức bù đắp những gì mà
doanh nghiệp đã bỏ ra để tạo nên sản phẩm, lao vụ, dịch vụ và là căn cứ để xây
dựng, để đánh giá hiệu quả của các biện pháp kinh tế kỹ thuật doanh nghiệp áp dụng
trong quá trình sản xuất kinh doanh. Hiệu quả kinh tế của các hoạt động sản xuất
của doanh nghiệp cũng đợc phản ánh qua chỉ tiêu giá thành sản phẩm.
2.2) Phân loại giá thành sản phẩm :
Để đáp ứng các yêu cầu của quản lý, hạch toán và kế toán hoá giá thành cũng
nh yêu cầu xây dựng giá cả hàng hoá, giá thành đợc xem xét dới nhiều góc độ,
nhiều phạm vi tính toán khác nhau. Nhng có hai cách phân loại giá thành chủ yếu
sau:
9
a) Phân theo thời điểm tính và nguồn số liệu để tính giá thành:
Theo cách phân loại này, giá thành đợc chia làm ba loại:
- Giá thành kế hoạch:
Giá thành kế hoạch là giá thành sản phẩm đợc tính trên cơ sở chi phí sản xuất kế

đợc dùng để ghi sổ cho sản phẩm đã hoàn thành nhập kho hoặc giao cho khách
hàng. Giá thành sản xuất của sản phẩm cũng là căn cứ để tính giá vốn hàng bán và
lãi gộp của doanh nghiệp sản xuất.
- Giá thành toàn bộ (Giá thành tiêu thụ):
Giá thành toàn bộ của sản phẩm bao gồm giá thành sản xuất của sản phẩm cộng
thêm chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp tính cho sản phẩm hoàn
thành và đã đợc tiêu thụ. Chỉ khi nào sản phẩm, lao vụ, dịch vụ đợc tiêu thụ thì mới
xác định đợc giá thành toàn bộ. Giá thành toàn bộ của sản phẩm là căn cứ để tính
toán, xác định lãi trớc thuế lợi tức của doanh nghiệp.
Cách phân loại này giúp cho nhà quản lý biết đợc kết quả kinh doanh (lãi, lỗ)
của từng mặt hàng, từng loại dịch vụ mà doanh nghiệp kinh doanh.
3) Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm :
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm không phải là hai khái niệm đồng nhất
nhau, nhng chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau. Chúng là hai mặt của quá trình sản
xuất, chi phí sản xuất phản ánh mặt hao phí sản xuất, còn giá thành sản phẩm phản
ánh mặt kết quả sản xuất.
Về chất, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai khái niệm giống nhau, tức
là đều tiêu hao yếu tố lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp bỏ ra cho
hoạt động sản xuất, chế tạo sản phẩm. Chi phí sản xuất trong kỳ là cơ sở để tính giá
thành sản phẩm, lao vụ, dịch vụ hoàn thành, sự tiết kiệm hay lãng phí về chi phí sản
xuất có ảnh hởng tực tiếp đến giá thành sản phẩm hạ hay tăng.
Tuy nhiên, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có những mặt khác nhau:
- Về mặt phạm vi: Chi phí sản xuất gắn với một thời kỳ nhất đinh, còn giá thành
sản phẩm lại gắn với khối lợng sản phẩm, lao vụ, dịch vụ hoàn thành trong kỳ.
- Về mặt lợng: Chi phí sản xuất bao gồm toàn bộ chi phí sản xuất sản phẩm
hoàn thành, sản phẩm dở dang và sản phẩm hỏng mà không có chi phí sản xuất đã
phát sinh ở kỳ trớc và chi phí cha phát sinh ở kỳ này, còn giá thành sản phẩm chỉ
bao gồm các chi phí liên quan đến sản phẩm hoàn thành, nó chứa cả một phần chi
11
phí sản xuất kỳ trớc chuyển sang (chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ) mà không có chi

- Hạch toán chi phí sản xuất theo địa điểm phát sinh chi phí hay theo phân xởng.
- Hạch toán chi phí sản xuất theo đơn đặt hàng - mỗi đơn đặt hàng là một đối t-
ợng hạch toán chi phí sản xuất.
- Hạch toán chi phí sản xuất theo giai đoạn công nghệ.
12
Mỗi phơng pháp hạch toán chi phí sản xuất chỉ thích ứng với một loại đối tợng
hạch toán chi phí sản xuất nên tên gọi của các phơng pháp này là biểu hiện đối tợng
mà nó cần tập hợp và phân loại chi phí.
2) Hạch toán chi phí sản xuất :
2.1) Hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
a) Theo phơng pháp kê khai thờng xuyên:
Khái niệm:
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là những chi phí về nguyên vật liệu chính, vật
liệu phụ, nhiên liệu, ... đợc sử dụng trực tiếp để sản xuất ra sản phẩm. Đối với chi
phí nguyên vật liệu có liên quan trực tiếp đến từng đối tợng tập hợp chi phí riêng
biệt (phân xởng, bộ phận sản xuất hoặc sản phẩm, loại sản phẩm, ...) thì hạch toán
trực tiếp cho đối tợng đó. Trong trờng hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp có liên
quan đến nhiều đối tợng tập hợp chi phí, không thể hạch toán riêng đợc thì phải tiến
hành phân bổ chi phí cho các đối tợng liên quan. Tiêu thức phân bổ thờng đợc sử
dụng là phân bổ theo định mức tiêu hao, theo hệ số, theo trọng lợng, theo số lợng
sản phẩm,... và phân bổ theo công thức sau:
Chi phí nguyên vật liệu phân
bổ cho từng đối tợng
=
Tổng chi phí vật liệu
cần phân bổ
x
Tỷ lệ (hay hệ số)
phân bổ
Trong đó:

Sơ đồ 1.1: Sơ đồ hạch toán tổng hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp theo phư
ơng pháp kê khai thường xuyên
b) Hạch toán tổng hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp theo phơng pháp
kiểm kê định kỳ:
Đặc điểm của phơng pháp kiểm kê định kỳ là không theo dõi sự biến động của
nguyên vật liệu một cách thờng xuyên liên tục mà cuối kỳ mới thực hiện kiểm kê và
xác định giá trị của hàng tồn kho. Từ đó xác định giá trị của nguyên vật liệu xuất
dùng trong kỳ theo công thức:
Giá trị nguyên vật
liệu xuất dùng
trong kỳ
=
Giá trị nguyên
vật liệu tồn đầu
kỳ
+
Giá trị nguyên
vật liệu nhập trong
kỳ
-
Giá trị nguyên
vật liệu tồn cuối
kỳ
Để phản ánh chi phí vật liệu đã xuất dùng cho sản xuất sản phẩm, thực hiện
lao vụ, dịch vụ, kế toán cũng sử dụng TK621 - "Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp",
nhng các chi phí phản ánh trên tài khoản này không ghi theo từng chứng từ xuất
dùng nguyên vật liệu mà đợc ghi một lần vào cuối kỳ hạch toán sau khi tiến hành
kiểm kê và xác định đợc giá trị nguyên vật liệu tồn kho và đang đi đờng. Do đó, kết
cấu của TK621 trong trờng hợp này là:
- Bên Nợ: Giá trị nguyên vật liệu đã xuất dùng cho các hoạt động sản xuất kinh

ơng pháp kiểm kê định kỳ
2.2) Hạch toán chi phí nhân công trực tiếp:
a) Khái niệm:
Chi phí nhân công trực tiếp là những khoản tiền phải trả, phải thanh toán cho
công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm, trực tiếp thực hiện các lao vụ, dịch vụ, bao
gồm: tiền lơng chính, tiền lơng phụ, các khoản phụ cấp có tính chất lơng và các
khoản trích theo lơng (BHXH, BHYT, KPCĐ) của công nhân trực tiếp sản xuất.
Chi phí nhân công trực tiếp thờng đợc tính trực tiếp cho từng đối tợng chịu chi
phí có liên quan. Tuy nhiên cũng có trờng hợp chi phí này không thể hạch toán đợc.
Trong trờng hợp đó cần tiến hành phân bổ chi phí nhân công trực tiếp cho các đối t-
ợng chịu chi phí liên quan theo một trong những tiêu thức sau: Chi phí tiền công
định mức (hoặc kế hoạch), giờ công định mức (hoặc thực tế), khối lợng sản phẩm
sản xuất.
b) Tài khoản sử dụng:
Để theo dõi chi phí nhân công trực tiếp, kế toán sử dụng TK622 - " Chi phí nhân
công trực tiếp ". Tài khoản này cuối kỳ không có số d và đợc mở chi tiết theo từng
đối tợng hạch toán chi phí.
TK622 có kết cấu nh sau:
- Bên Nợ: Chi phí nhân công trực tiếp thực tế phát sinh.
- Bên Có: Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp.
c) Phơng pháp hạch toán:
15
TK334
TK335
TK338
TK622 TK154
TK631
Tiền lương và phụ cấp lương phải
trả cho công nhân trực tiêp sản xuất
Trích trước tiền lương phép vào chi phí

Đối với định phí sản xuất chung, trong trờng hợp mức sản phẩm thực tế sản
xuất cao hơn mức công suất bình thờng (mức công suất bình thờng là mức sản phẩm
16
đạt đợc ở trung bình trong điều kiện bình thờng) thì định phí sản xuất chung đợc
phân bổ hết cho số sản phẩm sản xuất.
Trờng hợp mức sản phẩm thực tế sản xuất ra nhỏ hơn mức công suất bình th-
ờng thì phần định phí sản xuất chung phải phân bổ theo công suất bình thờng, trong
đó, số định phí sản xuất chung tính cho lợng sản phẩm chênh lệch giữa thực tế so
với mức bình thờng đợc tính vào giá vốn hàng tiêu thụ (còn gọi là định phí sản xuất
chung không phân bổ).
b) Tài khoản sử dụng:
Để theo dõi các khoản chi phí sản xuất chung kế toán sử dụng TK627 - "Chi phí
sản xuất chung ", mở chi tiết theo từng phân xởng, bộ phận sản xuất, dịch vụ. Bên
cạnh đó, chi phí sản xuất chung còn đợc chi tiết theo định phí (gồm những chi phí
sản xuất gián tiếp, không thay đổi theo số lợng sản phẩm hoàn thành).
TK 627 có kết cấu:
- Bên Nợ: Tập hợp chi phí sản xuất chung thực tế phát sinh trong kỳ
- Bên Có: + Các khoản ghi giảm chi phí sản xuất chung
+ Kết chuyển (hay phân bổ) chi phí sản xuất chung .
TK627 cuối kỳ không có số d và đợc chi tiết thành 6 tiểu khoản.
Ngoài ra, tuỳ vào yêu cầu quản lý của từng doanh nghiệp, từng ngành, TK627
có thể mở thêm một số tiểu khoản khác để phản ánh một số nội dung hoặc yếu tố
chi phí.
c) Phơng pháp hạch toán:
17
TK111,112,152,...
TK331,111,112
TK334,338
TK154
TK632

pháp kê khai thờng xuyên hay kiểm kê định kỳ mà kế toán sử dụng tài khoản khác
nhau để tổng hợp chi phí sản xuất của doanh nghiệp.
1.1) Đối với doanh nghiệp áp dụng phơng pháp kê khai thờng xuyên:
Các chi phí sản xuất kể trên cuối cùng đợc tổng hợp vào bên Nợ TK154 - "Chi
phí sản xuất kinh doanh dở dang". Tài khoản này đợc mở chi tiết cho từng hợp đối t-
ợng tập hợp chi phí.
Kết cấu của TK154:
- Bên Nợ: Tổng hợp các chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ.
- Bên Có: + Các khoản ghi giảm chi phí sản phẩm.
+ Tổng giá thành sản xuất thực tế hay chi phí thực tế của sản phẩm,
lao vụ, dịch vụ đã hoàn thành.
- D Nợ: Chi phí thực tế của sản phẩm, lao vụ, dịch vụ dở dang, cha hoàn thành.
Quá trình tổng hợp chi phí sản xuất đợc tiến hành nh sau:
18
DCK:xxx
TK621
TK154
TK622
TK627
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Chi phí nhân công trực tiếp
Chi phí sản xuất chung
Tiêu thụ thẳng
Gửi bán
TK632
TK157
TK155,152
Nhập kho vật
tư, sản phẩm
Các khoản ghi giảm

TK621
TK622
TK631
TK627
TK632
Phần giá vốn sản phẩm tiêu thụ
bị trả lại nhập kho hoặc gửi tại
kho ngời mua
Kết chuyển chi phí sản xuất
chung
Kết chuyển chi phí nhân công
trực tiếp
Kết chuyển chi phí nguyên vật
liệu trực tiếp
Kết chuyển giá trị sản phẩm, dịch
vụ dở dang đầu kỳ
TK154
TK111,112,138,...
TK632
Tổng giá thành sản xuất của
sản phẩm, dịch vụ hoàn thành
nhập kho, gửi bán hay tiêu thụ
trực tiếp
Các khoản thu hồi ghi giảm
chi phí (nếu có)
Giá trị sản phẩm, dịch vụ dở
dang cuốikỳ
Sơ đồ 1.6: Sơ đồ hạch toán chi phí sản xuất theo phơng pháp kiểm kê định kỳ
2) Xác định giá trị sản phẩm dở dang:
Sản phẩm dở dang là những sản phẩm cha kết thúc giai đoạn chế biến, còn đang

chuẩn quy đổi thờng dựa vào giờ công hoặc tiền lơng định mức. Phơng pháp này chỉ
nên áp dụng để tính chi phí chế biến, còn các chi phí nguyên vật liệu chính phải xác
định theo số thực tế đã dùng để đảm bảo tính chính xác.
Giá trị vật liệu
chính nằm trong
sản phẩm dở dang
=
Số lợng sản phẩm dở dang cuối kỳ
(không quy đổi)
x
Toàn bộ giá trị vật
liệu chính xuất
dùng
20
Số lợng
thành phẩm
+
Số lợng sản phẩm dở
dang không quy đổi
Chi phí chế biến
nằm trong sản
phẩm dở dang
=
Số lợng sản phẩm dở dang cuối kỳ quy đổi ra
thành phẩm
x
Tổng chi phí chế
biến từng loại
Số lợng
thành phẩm

Phơng pháp này chỉ áp dụng thích hợp với những doanh nghiệp mà sản phẩm đ-
ợc xây dựng định mức chi phí sản xuất.
Ngoài những phơng pháp trên, trong thực tế ngời ta còn áp dụng các phơng pháp
khác để xác định giá trị sản phẩm dở dang nh phơng pháp thống kê kinh nghiệm,
21
phơng pháp tính theo chi phí vật liệu chínhh và vật liệu phụ nằm trong sản phẩm dở
dang v.v...
IV) Tính giá thành sản phẩm
1) Đối tợng tính giá thành và kỳ tính giá thành
Xác định đối tợng tính giá là công việc cần thiết đầu tiên trong toàn bộ công
việc tính giá thành sản phẩm của kế toán. Bộ phận kế toán giá thành phải căn cứ vào
đặc điểm sản xuất của doanh nghiệp mình, tính chất sản phẩm, lao vụ, dịch vụ mà
doanh nghiệp sản xuất, đặc điểm quy trình công nghệ kỹ thuật sản xuất sản phẩm,
trình độ hạch toán kế toán và quản lý của doanh nghiệp để xác định đối tợng tính giá
thành cho phù hợp.
Nếu doanh nghiệp tổ chức sản xuất theo hình thức sản xuất đơn chiếc thì đối t-
ợng tính giá thành là từng sản phẩm. Đối với những doanh nghiệp tổ chức sản xuất
hàng loạt thì từng loại sản phẩm là đối tợng tính giá thành.
Ngoài ra, việc xác định đối tợng tính giá thành còn tuỳ thuộc vào quy trình công
nghệ sản xuất mà doanh nghiệp đang áp dụng. Nếu quy trình công nghệ sản xuất
giản đơn thì đối tợng tính giá thành chỉ có thể là sản phẩm hoàn thành. Nếu quy
trình sản xuất phức tạp theo kiểu liên tục thì đối tợng tính giá thành có thể là thành
phẩm ở giai đoạn sản xuất cuối cùng, cũng có thể là bán thành phẩm hoàn thành ở
từng giai đoạn sản xuất. Nếu quy trình sản xuất phức tạp theo kiểu song song thì đối
tợng tính giá thành là sản phẩm đợc lắp ráp hoàn chỉnh hoặc là từng chi tiết, bộ phận
sản phẩm hoàn thành.
Đơn vị tính giá thành phải là đơn vị tính đợc thừa nhận phổ biến trong nền kinh
tế quốc dân và phải phù hợp với tính chất lý hoá của sản phẩm.
Trên cơ sở đối tợng tính giá thành đã đợc xác định, căn cứ vào đặc điểm tổ chức
sản xuất sản phẩm và chu kỳ sản xuất của chúng để xác định kỳ tính giá thành cho

xuất giản đơn, trong quy trình công nghệ chỉ sản xuất ra một loại sản phẩm, số lợng
sản phẩm dở dang không có hoặc không đáng kể, khối lợng sản phẩm sản xuất ra rất
lớn. Chẳng hạn nh các doanh nghiệp sản xuất điện, nớc, ...
Đúng nh tên gọi của nó, phơng pháp này giúp cho công việc tính toán đơn giản,
dễ làm. Tuy nhiên, khi đối tợng hạch toán chi phí sản xuất không trùng với đối tợng
tính giá thành thì không thể áp dụng phơng pháp này.
Phơng pháp tổng cộng chi phí
Phơng pháp này đợc áp dụng trong những doanh nghiệp mà sản phẩm hoàn
thành trong quy trình công nghệ bao gồm nhiều chi tiết, bộ phận cấu thành và từng
chi tiết, bộ phận này đợc sản xuất ra ở từng phân xởng khác nhau rồi cuối cùng
chúng đợc lắp ráp thành sản phẩm hoàn chỉnh. Đó là các doanh nghiệp chế tạo cơ
khí, doanh nghiệp đóng tàu, sản xuất ô tô, doanh nghiệp may mặc,...
Trong doanh nghiệp này, đối tợng hạch toán chi phí sản xuất là từng chi tiết, bộ
phận cấu thành, còn đối tợng tính giá thành là sản phẩm hoàn thành. Nh vậy, đối t-
ợng hạch toán chi phí sản xuất và đối tợng tính giá thành sản phẩm là không phù
23
hợp nhau. Do đó, để tính giá thành sản phẩm thì trớc hết phải tính giá thành của
từng chi tiết, bộ phận; sau đó tập hợp giá thành của từng chi tiết, bộ phận để tính giá
thành sản phẩm hoàn chỉnh.
Giá thành sản phẩm hoàn thành = Tổng giá thành chi tiết i
Phơng pháp hệ số:
Phơng pháp này thờng áp dụng cho những doanh nghiệp mà trong quy trình sản
xuất cùng sử dụng các yếu tố sản xuất đầu vào nh nhau (nguyên vật liệu, lao động,
máy móc thiết bị) nhng lại sản xuất ra nhiều sản phẩm khác nhau về chất lợng, về cỡ
số, về quy cách mà ngay từ đầu không thể hạch toán chi tiết chi phí cho từng sản
phẩm đợc. Ví dụ nh các doanh nghiệp sản xuất hoá chất, dợc phẩm, đồ nhựa, may
mặc, giầy,...
Đối với doanh nghiệp này, đối tợng hạch toán chi phí sản xuất là từng địa điểm
phát sinh chi phí hay phân xởng, còn đối tợng tính giá thành là từng loại sản phẩm
hoàn thành trong từng phân xởng.

i
:Hệ số quy đổi sản phẩm i (i=1,n).
Tổng giá thành
sản xuất của các
loại sản phẩm
=
Giá trị sản phẩm
dở dang đầu kỳ
+
Tổng chi phí sản
xuất phát sinh
trong kỳ
-
Giá trị sản
phẩm dở dang
cuối kỳ
Phơng pháp tỷ lệ:
Phơng pháp này đợc áp dụng cho những doanh nghiệp mà trong cùng một quy
trình sản xuất cùng sử dụng các yếu tồ đầu vào nh nhau (nguyên vật liệu, lao động,
mát móc thiết bị) nhng lại sản xuất ra các sản phẩm khác nhau nhng không thể quy
24
đổi về sản phẩm tiêu chuẩn bởi vì giá trị sử dụng của từng sản phẩm này khác nhau.
Đồng thời ngay từ đầu không thể hạch toán chi tiết chi phí sản xuất cho từng loại
sản phẩm.
Đối với doanh nghiệp này, đối tợng hạch toán chi phí sản xuất là phân xởng
hoặc điạ điểm phát sinh chi phí. Trong khi đó, đối tợng tính giá thành là sản phẩm
từng loại.
Theo phơng pháp này, trớc khi tiến hành sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp lập
giá thành kế hoạch cho từng loại sản phẩm. Cuối kỳ, căn cứ vào kết quả sản xuất
hoàn thành để tính tổng giá thành kế hoạch.

25

Trích đoạn Hoàn thiện việc xác định đối tợng hạch toán chi phí sửa chữa
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status