Các ngày lễ kỷ niệm và lịch sử
6-1-1946 Tổng tuyển cử quốc hội khóa đầu tiên của nước Việt Nam
Ngày 6 tháng 1 năm 1946, báo chí xuất bản hôm đó đều dành vị trí trang trọng nhất, giới thiệu
cuộc tổng tuyển cử đầu tiên trong lịch sử dân tộc. Báo Sự Thật ghi lên đầu trang nhất dòng chữ
đậm nét: "Tất cả hãy đến thùng phiếu". Báo Quốc hội in hình Hồ Chủ tịch với lời khuyên của
Người: "Khuyên đồng bào nam nữ 18 tuổi trở lên, hôm nay tất cả đều đi bỏ phiếu để bầu những
đại biểu xứng đáng vào hội đầu tiên của nước ta
Chỉ hơn 4 tháng sau ngày Độc Lập, toàn thể nhân dân ta đón chào ngày hội lớn - ngày Tổng
tuyển cử. Dưới ách thống trị tàn bạo của đế quốc và phong kiến, người dân Việt Nam bị tước
đoạt mọi quyền dân chủ. Cách mạng tháng Tám đã thổi một luồng gió mới vào mọi mặt của đời
sống xã hội, đem lại quyền làm chủ cho mỗi công dân. Lần đầu tiên, mọi người được tự do thảo
luận, bàn bạc và chọn lựa những đại biểu xứng đáng vào Quốc hội của nước Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa.
Nhưng cuộc bầu cử diễn ra trong một hoàn cảnh chính trị rất phức tạp. ở Nam Bộ và Nam
Trung Bộ, thực dân Pháp đã mở rộng cuộc chiến tranh xâm lược. Chúng âm mưu chia cắt lâu
dài đất nước ta, dựng lên chế độ "Nam Kỳ tự trị" với một chính phủ bù nhìn tay sai. ở phía Bắc,
18 vạn quân Tưởng lấy danh nghĩa đồng minh tràn vào tước vũ khí quân Nhật. Chúng kéo theo
bè lũ tay sai Việt Nam quốc dân đảng, Việt Nam cách mệnh đồng minh hội về nước, hòng
chiếm lấy chính quyền. ỷ thế bọn Tưởng, những tên Việt gian hoành hành dữ dội, nói xấu chính
phủ lâm thời, phá hoại tổng tuyển cử và gây ra nhiều vụ cướp của, giết người rất dã man. Mặc
dầu bọn chúng dùng nhiều thủ đoạn bỉ ổi để đe dọa và xuyên tạc, nhân dân các nơi vẫn phân
biệt được trắng đen, bày tỏ niềm tin tưởng vào những đại biểu Việt Minh và những người yêu
nước chân chính. Nhân dân Hà Nội rất phấn khởi khi được tin Hồ Chủ tịch ứng cử ở Thủ đô;
118 vị đại biểu các tầng lớp ở ngoại thành Hoàng Diệu (tức là Hà Nội) đã gửi thư "đề nghị cụ
Hồ Chí Minh không phải ứng cử trong cuộc tổng tuyển cử này và suy tôn cụ là Chủ tịch vĩnh
viễn của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa". Hồ Chủ tịch đã gửi lời cảm tạ và nói: "Tôi là một
công dân nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nên không thể vượt qua thể lệ tổng tuyển cử đã
định". Trong lời phát biểu ngày 5 tháng 1, Người kêu gọi "Ngày mai là một ngày sẽ đưa quốc
dân ta đến con đường mới mẻ. Ngày mai là một ngày vui sướng của đồng bào ta, vì ngày mai
là ngày Tổng tuyển cử, vì ngày mai là ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân bắt
đầu được hưởng quyền dân chủ của mình".
tổ chức bầu cử theo đúng nhiệm kỳ 4 năm một lần), Quốc hội đã thông qua hiến pháp đầu tiên
của nước ta, đã ban hành sắc lệnh cải cách ruộng đất và phê chuẩn hiệp định Giơ-ne-vơ về
Việt Nam. Quốc hội đã thông qua luật công đoàn, xác định địa vị lãnh đạo của giai cấp công
nhân; ban hành các đạo luật bảo đảm quyền tự do dân chủ của nhân dân, luật hôn nhân và gia
đình. Quốc hội đã ra các nghị quyết cải tạo và xây dựng miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội và
cuối năm 1959, thông qua bản Hiến pháp xã hội chủ nghĩa của nước ta.
Quốc hội khóa II (1960 - 1964) có 453 đại biểu. Vì điều kiện đất nước tạm thời bị chia làm 2
miền, 91 đại biểu miền Nam của khóa I vẫn tiếp tục tham gia khóa II, không phải thông qua bầu
cử. Quốc hội khóa II không ngừng tăng cường và củng cố chuyên chính vô sản, động viên toàn
dân đẩy mạnh cải tạo xã hội chủ nghĩa, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, đưa miền Bắc tiến
nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội làm cơ sở cho cuộc đấu tranh thống
nhất nước nhà.
Quốc hội khóa II (1964-1971) và khóa IV (1971-1975) đã hoàn thành thắng lợi sự nghiệp chống
Mỹ cứu nước, đế quốc Mỹ buộc phải ký hiệp định Paris, quân Mỹ buộc phải cút khỏi Việt Nam,
chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược hai miền đất nước ta.
Quốc hội khóa V được bầu ra ngày 6-4-1975. Không đầy một tháng sau, chiến dịch Hồ Chí
Minh đại thắng, cả miền Nam được hoàn toàn giải phóng. Quốc hội ra sức chuẩn bị cho công
tác thống nhất nước nhà về mặt nhà nước. Một năm sau, tháng 4-1976, nhân dân cả nước đã
sôi nổi đi bầu một Quốc hội chung của nước Việt Nam thống nhất. Trong ngày hội lịch sử của
non sông, ý chí của toàn dân tộc thể hiện trên những lá phiếu thiêng liêng; 98,77% số cử tri đi
bầu đã chọn lựa 492 đại biểu ưu tú của toàn dân. Ngày 24 tháng 6 năm 1976, Quốc hội chung
cả nước đã khai mạc kỳ họp đầu tiên tại Hà Nội.
Trên suốt chặng đường 30 năm đấu tranh anh dũng của toàn dân tộc, Quốc hội đã hoàn thành
sứ mệnh thiêng liêng là người đại biểu đáng tin cậy của nhân dân, là cơ quan quyền lực cao
nhất của đất nước, là nơi tập trung trí tuệ của giai cấp công nhân và các tầng lớp nhân dân lao
động. Quốc hội đã thể hiện tinh thần đại đoàn kết, ý chí thống nhất đất nước và lòng quyết tâm
xây dựng Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Những thành tựu rực rỡ, những trang sử vẻ
vang của Quốc hội nước ta gắn liền với từng bước đi của dân tộc được bắt đầu từ ngày 6
tháng 1 năm 1946, ngày tổng tuyển cử đầu tiên của nhân dân Việt Nam.
27-1-1973 Ký hiệp định Paris, chấm dứt chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ
thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của chúng. Từ đó, nhân dân ta đã phải đương đầu chống
lại tên đế quốc đầu sỏ, giàu mạnh nhất trong phe đế quốc chủ nghĩa, đã lần lượt đánh bại mọi
chiến lược chiến tranh cực kỳ tàn bạo và xảo quyệt của kẻ thù - chiến lược thống trị miền Nam
bằng những thủ đoạn điển hình của chủ nghĩa thực dân kiểu mới, chiến lược chiến tranh "đặc
biệt" chiến lược "chiến tranh cục bộ" và chiến lược chiến tranh "Việt Nam hóa".
Năm 1968, sau những thất bại nặng nề của chiến lược chiến tranh cục bộ và chiến tranh phá
hoại ở miền Bắc, ngày 31-3-1968, tổng thống Mỹ Giôn-xơn đã phải tuyên bố ném bom hạn chế
từ vĩ tuyến 20 trở vào; ngày 1-11, Mỹ phải chấm dứt không điều kiện chiến tranh phá hoại miền
Bắc. Vì vậy, từ ngày 13-5-1968 ta đồng ý ngồi nói chuyện với Mỹ ở Pa-ri. Sau đó, khi Mỹ đã
phải chấp nhận đại biểu Mặt trận Dân tộc Giải phóng (từ 6-1969 là Chính phủ Cách mạng lâm
thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam), hội nghị bốn bên đã được bắt đầu tư ngày 18-1-1969.
Những cuộc thương lượng đã kéo dài với cuộc đấu tranh hết sức gay go phức tạp, do phía Mỹ
luôn luôn theo đuổi chính sách "đàm phán trên thế mạnh", đòi ta phải chấp nhận những điều
kiện do Mỹ đặt ra. Năm 1969, sau khi lên cầm quyền, Ních-xơn đã thi hành chiến lược chiến
tranh "Việt Nam hóa", mở rộng và đẩy mạnh cuộc chiến tranh lên tới mức ác liệt nhất, hòng cứu
vãn tình thế nguy ngập của Mỹ và tay sai. Nhưng Mỹ vẫn thất bại và bọn tay sai ngày càng suy
sụp nghiêm trọng.
Tháng 10-1972, Mỹ đã phải chấp nhận bản dự thảo Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại
hòa bình ở Việt Nam, do ta chủ động đưa ra. Ngày 22-10-1972, văn bản Hiệp định đã được
hoàn thành giữa ta và Mỹ. Nhưng, ngày ngày hôm sau, Mỹ lại tráo trở, lật lọng. Đầu tháng 12-
1972, Mỹ lại ngang ngược đòi sửa đổi nhiều điểm quan trọng trong nội dung Hiệp định, đồng
thời tính toán bước leo thang mới, hòng gây áp lực đối với ta trên bàn thương lượng.
Cuối tháng 12-1972, Ních-xơn tàn bạo và tráo trở đã huy động một lực lượng lớn không quân
chiến lược và chiến thuật mở cuộc tập kích đánh phá có tính chất hủy diệt dã man thủ đô Hà
Nội, thành phố cảng Hải Phòng và nhiều địa phương khác trên miền Bắc. Trong mười hai ngày
đêm đọ sức quyết liệt của trận "Điện Biên Phủ trên không" ấy, quân và dân ta đã bắn rơi 81
máy bay, trong đó có 34 chiếc B.52 và 5 chiếc F.111 - những con chủ bài cuối cùng của Mỹ.
Trước những thất bại hết sức nặng nề trong cuộc tập kích chiến lược ấy, bị lên án và cô lập
hơn bao giờ hết về chính trị trên thế giới và ngay cả trong nước Mỹ, tập đoàn Ních-xơn đã phải
từ bỏ thái độ "thương lượng trên thế mạnh", cuối cùng phải ký Hiệp định Pa-ri về Việt Nam vào
Đó cũng là thắng lợi có ý nghĩa thời đại của phong trào cách mạng thế giới, của các lực lượng
xã hội chủ nghĩa, độc lập dân tộc, dân chủ và hòa bình, của nhân dân yêu chuộng tự do, công
lý trên toàn thế giới.
Với việc ký kết Hiệp định Paris, đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai đã phải chấp nhận những thất bại
hết sức nặng nề, nhưng chúng vẫn chưa chịu từ bỏ những âm mưu duy trì chủ nghĩa thực dân
kiểu mới đối với miền Nam nước ta. Ngay từ khi Hiệp định Paris vừa được ký kết, Mỹ - ngụy đã
liên tiếp vi phạm, phá hoại trắng trợn các điều khoản chủ yếu của bản Hiệp định. Chúng đã tiếp
tục tiến hành cuộc chiến tranh thực dân kiểu mới trên qui mô lớn bằng các kế hoạch cực kỳ tàn
bạo. Đế quốc Mỹ đã tăng cường viện trợ quân sự cho ngụy quyền tay sai, vẫn duy trì bộ máy
chỉ huy chiến tranh với hàng vạn cố vấn và nhân viên quân sự Mỹ đội lốt dân sự. Chúng ôm ấp
hy vọng chỉ ba năm sau đó, đến năm 1976, sẽ có thể ung dung xây dựng và củng cố chế độ
thực dân kiểu mới ở miền Nam và thực hiện chia cắt lâu dài đất nước ta.
Rõ ràng nhân dân ta không có cách nào khác là phải dùng bạo lực cách mạng để chống lại bạo
lực phản cách mạng của chúng. Để bảo vệ và thi hành Hiệp định Paris, quân và dân ta đã
trừng trị đích đáng mọi hành động phá hoại đầy tội ác của chúng, không những ở các nơi
chúng lấn chiếm mà còn ở tất cả các căn cứ xuất phát của chúng.
Thắng lợi vĩ đại, trọn vẹn của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy long trời lở đất vào mùa Xuân
năm 1975 của quân dân ta đã đập tan mọi hành động phá hoại của Mỹ - ngụy, lật đổ toàn bộ
chế độ kìm kẹp thực dân kiểu mới của chúng, và đã giải phóng hoàn toàn miền Nam, kết thúc
vẻ vang cuộc kháng chiến vĩ đại nhất trong lịch sử 4000 năm của dân tộc.
3-2-1930 Thành lập Đảng cộng sản Việt Nam
Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, đế quốc Pháp lại đẩy mạnh khai thác thuộc địa Đông
Dương. Xã hội Việt Nam tiếp tục phân hóa sâu sắc. Giai cấp nông dân bị phá sản khốc liệt. Giai
cấp tư sản dân tộc sinh sau đẻ muộn, bộc lộ sự non yếu về mọi mặt. Một bộ phận giai cấp tiểu
tư sản toan phất ngọn cờ tư tưởng tư sản để tập hợp quần chúng xung quanh Việt Nam Quốc
dân Đảng (thành lập tháng 12-1927). Nhưng vì bất lực cho nên sau cuộc bạo động non ở Yên
Bái (đầu năm 1930) tổ chức đó tan rã, và ngọn cờ phản đế, phản phong, ngọn cờ giải phóng
dân tộc chuyển hẳn về tay gai cấp vô sản.
Yêu cầu khách quan lúc này là giai cấp công nhân phải được tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lê-nin để
trở thành giai cấp "Tự giác" vươn lên đảm nhiệm sứ mệnh lịch sử lãnh đạo cách mạng Việt
Nguyễn ái Quốc thành lập tổ chức Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội, trong đó hạt
nhân là Cộng sản Đoàn (lúc đầu có 7 người, cuối 1926 đã có 24 người, tiêu biểu như Hồ Tùng
Mậu, Lê Hồng Sơn, Lê Hồng Phong ) Nhiều lớp huấn luyện chính trị được mở tại Quảng Châu
để đào tạo cán bộ tung về nước hoạt động. Tuần báo Thanh niên từ tháng 6-1926 và đặc việt
cuốn Đường cách mạng (xuất bản năm 1927) đã đề cập đến những vấn đề chiến lược và sách
lược của cách mạng Việt Nam được bí mật đưa về nước góp phần tích cực vào việc truyền bá
tư tưởng xã hội chủ nghĩa ở trong nước.
Từ sau cuộc bãi công Ba Son (8-1925), phong trào công nhân đã vượt qua giai đoạn tự phát,
bước vào giai đoạn tự giác.
Đặc biệt từ mùa xuân 1928, thực hiện chủ trương vô sản hóa, các hội viên của Việt Nam thanh
niên cách mạng đồng chí Hội đã vào nhà máy, hầm mỏ, đồn điền để tuyên truyền và tổ chức
công nhân. Địch phải thú nhận: năm 1929 có tới 43 cuộc bãi công lớn. Phong trào công nhân
trên thực tế đã trở thành lực lượng chính trị nòng cốt cho phong trào giải phóng dân tộc.
Trong khi đó, phong trào yêu nước và dân chủ của tiểu tư sản sau thời kỳ phát triển bồng bột
(như đòi tha cụ Phan Bội Châu tháng 12-1925, đám tang cụ Phan Chu Trinh tháng 3-1926)
đã dần dần thể hiện sự bất lực của tư tưởng tư sản và tiểu tư sản.
Phong trào Quốc gia cải lương, tiêu biểu là đảng Lập Hiến của Bùi Quang Chiêu, Nguyễn Phan
Long cũng đã từng bước đi vào con đường phản bội dân tộc, làm tay sai cho đế quốc.
Tình hình đó đòi hỏi cấp bách sự lãnh đạo của một đảng kiểu mới của giai cấp công nhân.
Trong nội bộ Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội, từ đầu 1929 đã diễn ra cuộc đấu
tranh gay gắt giữa quan điểm vô sản và quan điểm tiểu tư sản xung quanh vấn đề thành lập
Đảng cộng sản ở Việt Nam. Tư tưởng vô sản đã chiến thắng.
Tháng 3-1929, tại số nhà 5D phố Hàm Long (Hà Nội) Chi bộ cộng sản đầu tiên ra đời gồm 8
đồng chí: Ngô Gia Tự, Nguyễn Đức Cảnh, Trần Văn Cung, Trịnh Đình Cửu
Đầu tháng 6-1929, tại số nhà 312 phố Khâm Thiên (Hà Nội) 20 đại biểu cộng sản Bắc Kỳ quyết
định lập Đông Dương Cộng Sản Đảng.
Mấy tháng sau, An nam Cộng sản Đảng ra đời tại Nam Kỳ (10-1929). Dưới ảnh hưởng của
những sự kiện ấy, một tổ chức yêu nước, tiến bộ, thành lập ở Trung Kỳ giữa năm 1925, lấy tên
là Tân Việt cách mạng Đảng, sau lại đổi tên là Đông Dương Cộng sản Liên đoàn (1-1930).
Như thế là đầu năm 1930 ở nước ta có 3 tổ chức đều tự nhận là cộng sản và đều tìm cách
Tiếp đó, Đảng ta lại lãnh đạo thành công cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân Pháp
xâm lược (1946 - 1954). Đảng ta ngày càng lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng. Tháng 2-
1951, tại khu rừng thuộc xã Vinh Quang, huyện Chiêm Hóa (Tuyên Quang) Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ hai của Đảng đã họp, nhằm đưa công cuộc Kháng chiến - Kiến quốc đến
thắng lợi. Ngày 3-3-1951, Đảng ta ra hoạt động công khai với tên mới là Đảng lao Động Việt
Nam, tổng số đảng viên đã lên đến 76 vạn đồng chí.
Giai đoạn 1954-1975 Đảng ta tiếp tục lãnh đạo dân tộc Việt Nam trong cuộc chiến đấu đầy gian
khổ nhưng vô cùng oanh liệt chống Mỹ, cứu nước. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã
đồng thời giương cao hai ngọn cờ Độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội. Qua cuộc đấu tranh vĩ
đại ấy, lực lượng của Đảng lớn mạnh hơn bao giờ hết, vượt qua mọi thử thách hy sinh, thực sự
là lực lượng tiên phong của cách mạng.
Tháng 9-1960, tại thủ đô Hà Nội, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ ba, đại hội xây dựng chủ
nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất nước nhà đã khai mạc trọng thể. Đại hội đã nhất trí thông
qua đường lối đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã
hội ở miền Bắc.
Sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại thành công, tháng 12-1976, trong không
khí phấn khởi của đất nước vừa thống nhất, Đại hội Đảng lần thứ IV đã họp, nhằm vạch ra con
đường đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Với đội ngũ trùng điệp 1 triệu 50 vạn đảng viên,
Đảng ta trở lại với cái tên buổi đầu của mình là Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong quanh
vinh của giai cấp và dân tộc, chuẩn bị đưa Tổ quốc ta đi tới những thắng lợi huy hoàng hơn
nữa.
4-2-1977 Ngày thống nhất các tổ chức mặt trận thành mặt trận tổ quốc Việt
Nam.
"Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết
Thành công, thành công, đại thành công".
Đó là lời căn dặn thiêng liêng của Bác Hồ đối với nhân dân ta, là truyền thống vô cùng quý báu
của dân tộc ta.
Trải qua quá trình cách mạng lâu dài, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã đoàn kết
trong các Mặt trận thống nhất với những cương lĩnh trính trị, hình thái tổ chức và tên gọi khác
nhau phù hợp với các thời kỳ lịch sử, đã đưa sự nghiệp cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này
Đại hội đã nghe Báo cáo chính trị, Chương trình chính trị và Dự thảo Điều lệ của Ban trù bị đại
hội.
Các đại biểu của các chính đảng, các đoàn thể, các tầng lớp nhân dân, các dân tộc, các tôn
giáo, các nhân sĩ đã phát biểu ý kiến, khẳng định ý chí đoàn kết sắt đá, quyết tâm xây dựng
thành công chủ nghĩa xã hội.
Trong phiên họp bế mạc, chiều ngày 4-2-1977, Đại hội đã thông qua các văn kiện quan trọng:
Nghị quyết của Đại hội về tên gọi, về Chương trình chính trị và Điều lệ của Mặt trận Dân tộc
Thống nhất Việt Nam.
Nghị quyết của Đại hội đã hoàn toàn nhất trí việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Mặt trận Dân tộc
giải phóng miền nam Việt Nam và Liên minh Các lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt
Nam thống nhất lại thành Mặt trận dân tộc duy nhất, lấy tên là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhằm
đoàn kết tất cả các chính đảng, các đoàn thể cách mạng, các giai cấp tiến bộ, các dân tộc, các
tôn giáo, các nhân sĩ ở trong nước và kiều bào ở nước ngoài củng nhau phấn đấu xây dựng Tổ
quốc Việt Nam Hòa bình, Độc lập, Thống nhất và Xã hội Chủ nghĩa.
Đại hội đã thông qua Chương trình chính trị của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam gồm 8 điểm quan
trọng.
1 - Xây dựng chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa.
2 - Xây dựng nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa.
3 - Xây dựng nền văn hóa mới và con người mới xã hội chủ nghĩa.
4 - Chăm sóc đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân.
5 - Củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh chính trị và trật tự xã hội.
6 - Thực hiện dân tộc bình đẳng, nam nữ bình quyền và tôn trọng tự do tín ngưỡng.
7 - Tăng cường quan hệ hữu nghị và hợp tác quốc tế.
8 - Đoàn kết rộng rãi các lực lượng yêu nước và yêu chủ nghĩa xã hội.
Đại hội đã thông qua Điều lệ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam dựa trên các nguyên tắc: bảo đảm
đoàn kết rộng rãi tất cả các lực lượng yêu nước và tán thành chủ nghĩa xã hội, dưới sự lãnh
đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và dựa trên cơ sở liên minh công nông; tăng cường thống
nhất hành động trong Mặt trận, phát huy vai trò tích cực của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong
công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Đại hội đã cử ra ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam gồm 191 vị tiêu biểu cho khối
khủng bố dữ dội, chị em công nhân Si-ca-gô được công nhân toàn quốc ủng hộ vẫn không chịu
lùi bước. Họ buộc chủ phải chấp nhận yêu sách của họ nhằm cải thiện điều kiện lao động và
sinh hoạt.
Thắng lợi bước đầu đã khích lệ phong trào đấu tranh của nữ công nhân ở Mỹ và ở nhiều nước
trên thế giới. Năm 1909 nhân dân Mỹ đã tổ chức "Ngày phụ nữ" bằng những cuộc mít tinh, biểu
tình đòi quyền lợi cho phụ nữ. Riêng ở thành phố New York, cuộc họp của hơn 3000 phụ nữ đã
quyết nghị phản đối chính phủ Mỹ không công nhận quyền bầu cử của họ.
Nghị quyết năm 1910 của Hội nghị quốc tế phụ nữ xã hội chủ nghĩa đã nêu cao khẩu hiệu ngày
làm việc 8 giờ, công việc ngang nhau thì tiền lương ngang nhau so với nam giới, bảo vệ bà mẹ
và trẻ em, thực hiện quyền bình đẳng nam nữ. Năm sau, đúng vào ngày 8 tháng 3, nữ công
nhân cùng với phụ nữ các ngành, các giới nhiều nước đã đứng lên tranh đấu. Nhiều cuộc mít
tinh, biểu tình, bãi công nổ ra ở các nước châu Âu như Pháp, Anh, áo, ý, Đức, Đan Mạch
Trước nguy cơ của cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất, đông đảo phụ nữ các nước lên tiếng
phản đối bọn đế quốc, đòi ngăn chặn cuộc chém giết tàn bạo chỉ đem lại lợi nhuận cho bọn tư
sản.
Nước Nga xô- viết, quê hương của Cách mạng tháng Mười, Tổ quốc của Lê-ninvĩ đại, là nơi
đầu tiên thực hiện quyền bình đẳng nam nữ. Hiến pháp nhà nước xô- viết ghi nhận các quyền
chính trị, quyền lao động và học hành, quyền tự do bình đẳng của phụ nữ. Trong xã hội đó,
người phụ nữ Xô viết cũng mang hết khả năng của mình để phục vụ sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc thân yêu.
Lực lượng phụ nữ thế giới đã từng đấu tranh sôi nổi chống chủ nghĩa phát xít và đòi ngăn ngừa
nguy cơ chiến tranh thế giới lần thứ lần thứ hai. Để bảo vệ đất nước thân yêu, phụ nữ nhiều
nước đấu tranh đòi hòa bình, công lý và bình đẳng. Nhiều chị em đã hiên ngang ngã xuống
trước mũi súng bọn phát xít để bảo vệ nền độc lập Tổ quốc và gìn giữ tương lai tươi đẹp của
con em.
Cuối năm 1945, hội nghị quốc tế phụ nữ đã quyết định thành lập "Liên đoàn phụ nữ dân chủ thế
giới". Đó là một tổ chức rộng rãi bao gồm phụ nữ các ngành nghề, không phân biệt chủng tộc,
dân tộc, tôn giáo, chính kiến, đấu tranh bảo vệ các quyền bình đẳng, chống áp bức bóc lột. Liên
đoàn đã đưa ra các yêu sách đòi trả lương ngang nhau đối với những công việc như nhau, đòi
ban hành các chính sách bảo hiểm cho lao động phụ nữ, đòi đề ra những biện pháp thiết thực
tối hôm đó, chi bộ quyết định lãnh đạo khởi nghĩa. Hội nghị cử ra một ủy ban khởi nghĩa, định
chương trình và kế hoạch hành động.
Chiều 11 tháng 3, hai cuộc mít tinh lớn do ta tổ chức tại sân vận động Ba Tơ rồi biến thành
cuộc biểu tình tuần hành thị uy kéo đến đồn Ba Tơ. Bọn chỉ huy Pháp và một số tên bỏ đồn
chạy trốn, chỉ còn lại tên cai đồn và đám lính tập. Sau khi quân khởi nghĩa bao vây, lính địch
đầu hàng, ta thu 17 súng, 15 thùng đạn và nhiều quân trang, quân dụng.
Ngày 12 tháng 3, Ban chỉ huy cuộc khởi nghĩa tổ chức một cuộc mít tinh, thành lập chính quyền
cách mạng của nhân dân.
Ngày 14 tháng 3, đội du kích Ba Tơ chính thức được thành lập gồm 28 chiến sĩ với 24 khẩu
súng. Đây là đội võ trang thoát ly đầu tiên do Đảng ta tổ chức và lãnh đạo ở Trung Trung Bộ.
Tháng 4 năm 1945, đội du lích hoạt động ở một vùng đồng bào Thượng trên dãy Trường Sơn
hiểm trở. Quân Nhật tìm cách truy lùng hòng tiêu diệt đội du kích đang còn trong thời kỳ trứng
nước.
Đội đã phải chịu đựng muôn vàn khó khăn gian khổ. Từ cán bộ đến chiến sĩ, ai nấy đều giữ
trọn lời thề trong ngày thành lập quyết "hy sinh vì Tổ quốc". Trong hoàn cảnh gay go thiếu thốn,
đội du kích Ba Tơ đoàn kết keo sơn, gắn bó quân dân. Nằm trong cái nôi vững chắc của đồng
bào Thượng, đội du kích mới lọt lòng đã bảo toàn được lực lượng trước thế lực hung hãn của
kẻ thù.
Đầu tháng 5 năm 1945, Tỉnh ủy Quảng Ngãi cử đồng chí Nguyễn Chánh làm chính trị viên cùng
với các đồng chí Phạm Kiệt và Nguyễn Đôn - những người trực tiếp lãnh đạo Ba Tơ khởi nghĩa
- chỉ huy đội du kích. Chi bộ Đảng cũng được thành lập, do đồng chí Nguyễn Chánh làm bí thư.
Lúc này phong trào toàn tỉnh đã lên cao, tổ chức cứu quốc của toàn tỉnh đã có tới 11 vạn
người, số tự vệ tới 2000 người, Tỉnh ủy quyết định đưa đội du kích về châu hoạt động làm nòng
cốt cho việc xây dựng 2 chiến khu ở trong châu: Chiến khu Bắc ở vùng Vĩnh Tuy (Sơn Tịnh) và
Chiến khu Nam ở vùng Núi Lớn (Mộ Đức).
Về Trung châu, các chiến sĩ du kích Ba Tơ tuyên truyền, vận động, tổ chức quần chúng, huấn
luyện cho các chiến sĩ tự vệ cứu quốc, du kích địa phương.
Đội du kích Ba Tơ trở thành trung tâm của cao trào chống Nhật cứu nước ở miền Trung Trung
bộ và là hạt nhân của các lực lượng vũ trang liên khu V sau này.
Cuộc khởi nghĩa Ba Tơ là một dẫn chứng hùng hồn của tinh thần chủ động, linh hoạt, sáng tạo
sống.
Dưới sự lãnh đạo của Thành ủy, nhân dân các giới khắp nơi trong nội ngoại thành sôi nổi
hưởng ứng và ráo riết chuẩn bị bằng cờ, khẩu hiệu, truyền đơn và bố trí đội ngũ. Đêm 18.3,
bọn cảnh sát đánh hơi biết tin nhưng chúng đã bất lực không sao ngăn chặn nổi làn sóng đấu
tranh của quần chúng nhân dân.
Ngày 19.3.1950
Từ 3 giờ sáng, những đoàn người rầm rập từ mọi nơi-Chợ Lớn, Bàn Cờ, Bà Chiểu, rồi Cầu
Ông Lãnh, Cột Cờ Thủ ngữ đều đổ về địa điểm tập trung: Sân trường Tôn Thọ Tường (ở ngã
tư các đường Ga-li-ê-ni và Kít-sơ-nè-nay là ngã tư đường Trần Hưng Đạo và Nguyễn Thái
Học).
Đến 6 giờ 30 phút, hơn một vạn người với rừng cờ và biểu ngữ đã về tựu chung quanh địa
điểm mít tinh. Bọn Pháp và bù nhìn vội vã huy động quân lính và cả môtô, ôtô, xe tăng đến bao
vây. Chúng ra lệnh giải tán và đe dọa khủng bố. Nhưng quần chúng không hề nao núng.
8 giờ sáng-đúng giờ quy định-cuộc mít tinh bắt đầu. Số người lúc này đã lên tới 15 vạn, bao
gồm đông đủ các tầng lớp nhân dân: công nhân, dân nghèo, học sinh, sinh viên, trí thức và cả
các thương gia. Một số viên chức cũng tham gia. Quần chúng đã nhiệt liệt hoan nghênh luật sư
Nguyễn Hữu Thọ tới tham dự cuộc mít tinh. Chính luật sư là người đã bác bỏ yêu cầu của Mai
Hữu Xuân, "Giám đốc cảnh sát Nam phần" vào tối ngày 18, đòi đình chỉ cuộc biểu tình đấu
tranh. Sân trường Tôn Thọ Tường vang động những tiếng hô khẩu hiệu "Đả đảo đế quốc Mỹ
can thiệp!" Đả đảo viện trợ Mỹ!". "Đế quốc Mỹ cút đi", "ủng hộ Chính phủ Hồ Chí Minh".
Cuộc mít tinh biến thành cuộc tuần hành thị uy của quần chúng. Xiết chặt đội ngũ của mình,
dòng người như thác đổ từ địa điểm mít tinh tràn ra các đại lộ chính của thành phố: đường Ga-
li-ê-ni, Chợ Bến Thành, đại lộ Bô-na (nay là đường Lê Lợi), đại lộ Sác-ne (nay là đường
Nguyễn Huệ) Trên đường tuần hành, số người mỗi lúc càng thêm đông: người đi đường
nhập vào, người trong nhà ùa theo, thậm chí một số binh lính địch cũng bỏ lon, cởi áo gia nhập.
Chẳng bao lâu, đoàn biểu tình đã lên tới 30 vạn, rồi 50 vạn người. Nhiều nhà trong thành phố
cũng tự động treo cờ hưởng ứng cuộc đấu tranh.
Tại ngã tư đường Mác-ma-hông Bô-na (nay là ngã tư Nam Kỳ Khởi Nghĩa-Lê Lợi), một toán
lính thủy Mỹ đã hoảng sợ bỏ chạy trước khí thế mãnh liệt của đoàn biểu tình.
Tình hình ngày càng căng thẳng. Lính Pháp và bọn cảnh binh tay sai nổ súng bắn vào quần
Đế quốc Mỹ can thiệp và xâm lược đã hoàn toàn thất bại!
Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ trước đây, hằng năm đến ngày 19.3, nhiều Tổ chức quốc
tế và nhân dân nhiều nước đã phát động những "Tuần quốc tế đoàn kết với nhân dân Việt
Nam", ủng hộ nhân dân ta, chống đế quốc Mỹ xâm lược.
19 tháng 3 đã trở thành một biểu tượng chống Mỹ và thắng Mỹ của nhân dân Việt Nam anh
hùng!
19 tháng 5 cũng đã trở thành một biểu tượng của tình đoàn kết quốc tế của nhân dân thế giới
và nhân dân ta trong cuộc đấu tranh đế quốc Mỹ- kẻ thù số I của loài người tiến bộ!. 26-3-1931 Thành lập đoàn thanh niên cộng sản đông dương nay là đoàn thanh
niên cộng sản Hồ Chí Minh
Đảng ta trong quá trình thành lập đã rất chú ý đến vai trò thanh niên. Đó cũng là điều Hồ Chủ
tịch hết sức quan tâm.
Ngay khi cho xuất bản tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp, trong phần phụ lục nhan đề
Gửi thanh niên Việt Nam Hồ Chủ tịch đã kêu gọi tha thiết: "Đông Dương đáng thương hại,
Người sẽ nguy mất nếu đám thanh niên già cỗi của Người không sớm hồi sinh".
Tháng 12-1924, Hồ Chủ tịch về Quảng Châu khi những điều kiện cho việc thành lập một tổ
chức cánh mạng đã chín mùi. Tháng 6-1925, một năm sau tiếng bom của liệt sĩ Phạm Hồng
Thái, Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng minh Hội được thành lập. Ngay lúc ấy, Người đã
thành lập nhóm Thanh niên cộng sản đoàn làm nòng cốt cho Việt Nam Thanh niên đồng chí
Hội, lúc đầu chỉ có 9 người, cuối 1926 đã lên đến 26 người, trong đó có các đồng chí như: Hồ
Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn, Lê Hồng Phong
Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, công tác thanh niên trong nước xuất hiện ở nhà máy xi
măng và trường trung học Bon - Nan (nay là trường Ngô Quyền) ở Hải Phòng. Chi bộ Thanh
niên Cộng sản nhà máy xi măng có 10 đoàn viên, ra báo bí mật lấy tên là Tia Lửa.
Trong cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh, tổ chức Thanh niên Cộng sản phát triển mạnh, tuy vậy vẫn
sinh hoạt chung với chi bộ Đảng, chưa có tổ chức độc lập và thống nhất.
Nghị quyết của hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 2 họp vào cuối tháng 3-1931 ở Sài Gòn đã
nhấn mạnh: " tổ chức ra Thanh niên cộng sản đoàn là nhiệm vụ để thâu phục một bộ phận
thanh niên cứu quốc Việt Nam thành lập. Trong thời kỳ vận động Cách mạng tháng 8, Đoàn
thanh niên cứu quốc Việt Nam là lực lượng chiến đấu xung kích.
Trong cuộc kháng chiến chống Pháp (1946 - 1954) biết bao đoàn viên thanh niên cứu quốc đã
hy sinh anh dũng như: Võ Thị Sáu, Cù Chính Lan, Trần Văn Ơn
Sau khi hòa bình lập lại, trong phiên họp vào tháng 9-1955, Bộ chính trị trung ương Đảng đã
chủ trương đổi tên Đoàn thanh niên cứu quốc Việt Nam thành Đoàn thanh niên lao động Việt
Nam. Tại Đại hội toàn quốc lần thứ 2 của Đoàn thanh niên cứu quốc Việt Nam (II-1956), Đoàn
đã chính thức mang tên Đoàn thanh niên lao động Việt Nam.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, của Bác Hồ, Đoàn Thanh niên lao động Việt Nam là lực lượng đầu
tàu xung kích xây dựng chủ nghĩa xã hội với khẩu hiệu "Sống chiến đấu theo gương những
người cộng sản" và "Xung phong tình nguyện vượt mức kế hoạch năm năm". Đại hội Đảng lần
thứ 3 (9-1960) đã xác nhận "thanh niên là lớp người xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa
cộng sản nước ta".
Đầu tháng 9-1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ thiên tài, người thầy vĩ đại của cách mạng Việt
Nam, người Bác kính yêu của thế hệ trẻ Việt Nam qua đời. Ban chấp hành trung ương Đảng
họp phiên bất thường và quyết định: Đoàn thanh niên lao động Việt Nam, Đội thiếu niên tiền
phong, Đội nhi đồng Tháng Tám được mang tên Bác.
Từ đây Đoàn mang tên Đoàn Thanh niên lao động Hồ Chí Minh, một vinh dự và trách nhiệm
lớn của Đoàn và thế hệ trẻ nước ta.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, thế hệ trẻ Việt Nam ở cả 2 miền Nam Bắc đã
dâng trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam, đã viết lên những trang sử sáng ngời
chủ nghĩa anh hùng cách mạng.
Sau chiến thắng đầu xuân 1975, Mỹ cút, ngụy nhào, Tổ quốc thống nhất, non sông về một mối.
Tháng 6-1976, tại TP Hồ Chí Minh. Ban chấp hành trung ương Đoàn họp phiên thứ 22, thống
nhất tổ chức đoàn cả nước với tên Đoàn Thanh niên lao động Hồ Chí Minh.
Giữa tháng 12 năm 1976, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 4 họp định ra đường lối chung và
đường lối kinh tế xây dựng chủ nghĩa xã hội trong cả nước, thông qua kế hoạch 5 năm, sửa đổi
điều lệ Đảng và bầu ra Ban chấp hành Trung ương mới. Đảng ta đổi tên là Đảng Cộng sản Việt
Nam. Và Đoàn cũng được đổi tên thành Đoàn Thanh Niên Cộng sản Hồ Chí Minh.
Đoàn Thanh niên Cộng sản Đông Dương trước kia và Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh
của cậu bé Vô-lô-đi-a.
Khi còn nhỏ, Lê-nin học tập rất xuất sắc. Sau khi tốt nghiệp trường trung học cổ điển ở Xim-
biếc, năm 1887 Lê-nin vào học khoa luật ở trường đại học Ca-dan. Ngay từ bấy giờ, Lê-nin đã
quyết tâm hiến thân cho cuộc đấu tranh cách mạng, cố gắng nắm vững các môn khoa học xã
hội. "Bây giờ là lúc phải học khoa luật và khoa kinh tế chính trị". Sau đó không bao lâu do tham
gia phong trào đấu tranh, tháng chạp năm 1887, Lê-nin bị bắt và đày về làng Cô-cư-sơ-ki-nô,
cách Ca-dan 40 dặm Nga.
Năm ấy, Lê-nin vừa đúng 17 tuổi.
Gần một năm sau, mùa thu năm 1888, Lê-nin mới được phép trở lại Ca-dan, nhưng không
được tiếp tục theo học ở trường đại học. Lê-nin tham gia nhóm Mác-xít và bắt đầu nghiên cứu
tác phẩm "Tư bản" của Các Mác.
Đầu tháng 5 năm 1889, Lê-nin đến Xa-ma-ra.
Năm 1891, Lê-nin tốt nghiệp khoa luật trường đại học Pê-téc-bua. Lê-nin đã tự học trong một
năm rưỡi chương trình bốn năm, là người duy nhất đạt điểm cao trong toàn bộ kỳ thi và được
cấp bằng tốt nghiệp hạng nhất.
Tại Xa-ma-ra, năm 1892, Lê-nin đã thành lập nhóm Mác-xít đầu tiên, nghiên cứu các tác phẩm
của Mác-Ăng-ghen, nghiên cứu nền kinh tế nước Nga và tiến hành đấu tranh triệt để chống hệ
tư tưởng của phái dân túy. Tháng 8 năm 1893, Lê-nin rời Xa-ma-ra đến Pê-téc-bua - trung tâm
chính trị của nước Nga và của phong trào công nhân Nga.
Tại Pê-téc-bua, Lê-nin đã tìm hiểu sâu sắc đời sống khổ cực của những người thợ, hoạt động
và tuyên truyền chủ nghĩa Mác đối với họ. Không bao lâu, Lê-nin đã nhanh chóng được thừa
nhận là một người lãnh đạo có uy tín trong các nhóm Mác-xít ở Pê-téc-bua, có học vấn uyên
bác và tinh thông chủ nghĩa Mác.
Lê-nin bắt tay vào việc thành lập đảng Mác-xít của giai cấp vô sản Nga.
Mùa thu năm 1895, dưới sự lãnh đạo của Lê-nin, tất cả nhóm Mác-xít ở Pê-téc-bua đã thống
nhất lại thành tổ chức chính trị duy nhất - "Liên minh đấu tranh giải phóng giai cấp công nhân".
Đó là một sự kiện lịch sử trong phong trào xã hội dân chủ Nga. Liên minh là tổ chức Mác-xít
đầu tiên ở Nga đã kết hợp lý luận của chủ nghĩa Mác với phong trào công nhân và là tổ chức
tiền thân của chính đảng vô sản Nga.
Tháng chạp năm 1895, Liên minh bị khủng bố. Lê-nin và nhiều bạn chiến đấu bị bắt. Mười bốn
sản; điều lệ của đảng dựa trên những nguyên tắc tổ chức của một đảng mác-xít kiểu mới theo
tư tưởng của Lê-nin. Nhưng cũng tại đại hội đã xuất hiện một trào lưu cơ hội chủ nghĩa mới tức
là bọn Men-sê-vích đối lập hoàn toàn với Lê-nin và những người Bôn-sê-vích.
Như thế, đại hội lần thứ hai của Đảng công nhân xã hội dân chủ Nga đã đánh dấu một bước
ngoặt trong phong trào công nhân quốc tế. Đại hội đã thành lập một đảng Mác-xít chiến đấu,
cách mạng của giai cấp công nhân Nga, về nguyên tắc khác hẳn các đảng cải lương của Quốc
tế thứ hai.
Năm 1904, Lê-ninviết cuốn "một bước tiến, hai bước lùi". Tác phẩm tiếp tục cuộc đấu tranh triệt
đểng chủ nghĩa cơ hội Men-sê-vích ở Nga và bè lũ của chúng ở Tây Âu, phát triển một cách
toàn diện những nguyên tắc của một đảng mácxít kiểu mới.
Năm 1904, cuộc chiến tranh Nga - Nhật bùng nổ. Chế độ Nga hoàng đã bộc lộ tất cả thối nát
suy yếu và mâu thuẫn khủng hoảng của nó. Lê-nin đã dự đoán một cuộc cách mạng đang đến
gần và tích cực chuẩn bị cho đảng. Tại đại hội lần thứ ba của Đảng công nhân xã hội, dân chủ
Nga tháng 4 năm 1905, Lê-nin đã trình bày cương lĩnh chiến lược và sách lược của đảng trong
cuộc cách mạng dân chủ tư sản trước mắt: Giai cấp vô sản Nga phải liên minh với toàn thể
nông dân, trung lập giai cấp tư sản, đưa cách mạng dân chủ tư sản đến thắng lợi hoàn toàn và
do đó sẽ mở đường cho cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước Nga. Tháng 7 năm 1905,
Lê-nin viết tác phẩm nổi tiếng "Hai sách lược của đãng xã hội dân chủ trong cách mạng dân
chủ" nhằm giải thích những nghị quyết của đại hội, bảo vệ đường lối chiến lược và sách lược
của những người của bọn Men-sê-vích. Xuất phát từ luận điểm nổi tiếng của Mác về cách
mạng không ngừng, Lê-nin đã nâu ra lý luận về cách mạng tư sản dân chủ chuyển biến thành
cách mạng xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ đế quốc chủ nghĩa. Đó là công lao vĩ đại của tác
phẩm. Cuốn sách được phổ biến nhanh chóng, đã im lại hai lần ở Nga ngay trong năm 1905.
Năm 1909, Lê-nin viết cuốn "Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán". Lê-nin đã
phê phán triệt để, toàn diện những mưu mô xảo quyệt mới của triết học duy tâm tư sản và phát
triển một cách thiên tài những vấn đề cơ bản của triết học mác-xít. Tác phẩm đã đánh dấu một
giai đoạn mới, giai đoạn Lê-nin, trong triết học Mác-xít.
Năm 1914, cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất bùng nổ. Chiến tranh là một sự thử thách và
kiểm nghiệm nghiêm khắc đối với các trào lưu trong phong trào công nhân quốc tế. Bọn cầm
đầu các đảng xã hội của Quốc tế thứ hai đã công khai phản bội lợi ích của giai cấp công nhân,
nắm chính quyền. Lê-nin đã phát triển học thuyết Mác-xít về nhà nước, vạch ra những nguyên
lý về chính trị và những biện pháp thực tiễn đầu tiên của nhà nước vô sản đồng thời phê phán
gay gắt những quan điểm phản động về nhà nước của Cau-xky và đồng bọn. Lê-nin khẳng
định: "Chỉ những người nào mở rộng việc thừa nhận đấu tranh giai cấp đến thừa nhận chuyên
chính vô sản thì mới là những người Mác-xít".
Trước sự chuyển biến khẩn trương của tình hình, tháng 10 năm 1917 Lê-nin từ Phần Lan trở
về Pê-trô-grát. Tại cuộc hội nghị ngày 10-10-1917, theo đề nghị của Lê-nin, Ban Chấp hành
Trung ương đảng đã thông qua bản nghị quyết lịch sử về tiến hành khởi nghĩa vũ trang và kêu
gọi toàn đảng và toàn thể công nhân, binh lính sẵn sàn hành động.
Ngày 25-10-1917 (tức là ngày 7 tháng 11 dương lịch) dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Lê-nin từ
điện Xmôn-nưi, cuộc khởi nghĩa của giai cấp vô sản đã thắng lợi ở Pê-trô-grát.
Và như thế, cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa đã thành công. Một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên
thắng lợi của chủ nghĩa xã hội - đã mở ra trong lịch sử loài người.
Một ngày sau, vào tối ngày 26-10-1917, trong phiên họp cuối cùng của Đại hội Xô Viết toàn
Nga lần thứ hai, Đại hội đã thông qua hai bản dự thảo Sắc lệnh về hòa bình và Sắc lệnh về
ruộng đất do Lê-nin trình bày. Đó là những văn kiện chính thức đầu tiên của chính quyền công
nông. Đại hội đã bầu Hội đồng ủy viên nhân dân tức Chính phủ công nông do Lê-nin làm chủ
tịch.
Lê-nin và đảng Bôn-sê-vích đã lãnh đạo giai cấp công nhân và nhân dân Xôviết vượt qua muôn
vàn khó khăn cực kỳ nặng nề để củng cố và bảo vệ chính quyền Xôviết, đánh bại cuộc nội
chiến của bọn phản động trong nước và cuộc can thiệp vũ trang của 14 nước đế quốc bên
ngoài, tiến hành thắng lợi công cuộc khôi phục và phát triển nền kinh tế mới.
Từ nhiều năm trước đây, Lê-nin đã hoạt động không mỏi mệt nhằm tập hợp những người theo
chủ nghĩa quốc tế trong các đảng xã hội dân chủ thành một phái tả trong Quốc tế 2 chống lại
bọn cơ hội chủ nghĩa và tiến tới thành lập một Quốc tế mới thật sự cách mạng của phong trào
công nhân quốc tế. Sau cách mạng tháng 10 với sự ra đời của Nhà nước Xô Viết và trong cao
trào cách mạng của giai cấp công nhân châu Âu, tháng 3 năm 1919 các đảng cộng sản thế giới
đã tiến hành đại hội thành lập Quốc tế cộng sản - tức Quốc tế thứ ba. Với những hoạt động
thực tiễn và những tác phẩm lý luận xuất sắc của mình, Lê-nin đã có công lao to lớn trong việc
thành lập Quốc tế cộng sản và xác định đường lối đấu tranh đúng đắn cho phong trào cộng sản
nhân dân lao động toàn thế giới. Công lao vĩ đại của Lê-nin là ở chỗ Người đã phát triển chủ
nghĩa Mác trong những điều kiện của thời đại lịch sử diễn ra từ cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX,
khi chủ nghĩa tư bản đã chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc. Chủ nghĩa Lê-nin là chủ
nghĩa Mác trong thời đại của chủ nghĩa đế quốc và của các cuộc cách mạng vô sản, của thời
đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, của thời kỳ xây dựng chủ nghĩa cộng sản.
Công lao vĩ đại của Lê-nin là ở chỗ lần đầu tiên Người đã biến những nguyên lý của chủ nghĩa
Mác thành hiện thực cách mạng rực rỡ với thắng lợi vĩ đại của cuộc cách mạng Xã hội chủ
nghĩa tháng 10 Nga. Như Xta-lin đã chỉ rõ: "Chủ nghĩa Lê-nin là lý luận và sách lược về cách
mạng vô sản nói chung, lý luận và sách lược về chuyên chính vô sản nói riêng". Như vậy, với
đỉnh cao của trí tuệ loài người, cùng với học thuyết của Mác - Ăng-ghen, học thuyết của Lê-nin
đã trở thành vũ khí vô địch của giai cấp công nhân và các dân tộc bị áp bức, trong cuộc đấu
tranh để tự giải phóng nhằm thủ tiêu mọi chế độ áp bức và bóc lột tàn bạo.
25-4-1976 Tổng tuyển cử bầu quốc hội của nước Việt Nam thống nhất
Những ngày tháng tư năm 1976. Cả đất nước ta từ Cao Lạng đến Minh Hải tưng bừng đón
mừng ngày hội lớn của non sông - Tổng tuyển cử bầu Quốc hội thống nhất.
Như vậy là chỉ một năm sau chiến thắng vĩ đại mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền
Nam, giành lại độc lập cho Tổ quốc, nhân dân ta đã ghi thêm một thắng lợi mới trong sự nghiệp
thống nhất đất nước.
Thực hiện những quyết định quan trọng của Hội nghị Trung ương lần thứ 24 là chuẩn bị Tổng
tuyển cử bầu ra Quốc hội chung của cả nước và Quốc hội đó sẽ cử ra Chính phủ trung ương
của nước Việt Nam thống nhất, từ ngày 15 đến 21 tháng 11 năm 1975 tại Tp Hồ Chí Minh, Hội
nghị hiệp thương Chính trị giữa hai đoàn đại biểu miền Bắc và đoàn đại biểu miền Nam đã
được tiến hành để bàn về vấn đề thống nhất nước nhà về mặt Nhà nước. Hội nghị nhất trí nhận
định rằng, Cách mạng nước ta đã chuyển sang giai đoạn mới - giai đoạn cả nước tiến lên chủ
nghĩa xã hội - và cần tổ chức sớm cuộc Tổng tuyển cử trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam để bầu
ra Quốc hội chung của cả nước. Hội nghị quyết định cuộc Tổng tuyển cử sẽ được tiến hành
vào đầu năm 1976, theo các nguyên tắc dân chủ: phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu
kín.
Tháng 1-1967, ủy ban thường vụ Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và Hội đồng cố
vấn Chính phủ Cộng hòa miền Nam Việt Nam quyết định: cuộc Tổng tuyển cử sẽ tiến hành vào
Cuộc bầu cử đã tiến hành nhanh, gọn, tốt. Chỉ đến 2 giờ ở các tỉnh phía Bắc và đến 12, 13 giờ
các tỉnh phía Nam về cơ bản việc bỏ phiếu đã làm xong.
Cuộc Tổng tuyển cử ngày 25-4-1976 đã thành công rực rỡ.
Ngày 7-5-1976, Hội đồng bầu cử toàn quốc đã ra thông cáo về kết quả Tổng tuyển cử bầu
Quốc hội chung của cả nước.
1 - Cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội chung của cả nước đã thắng lợi rực rỡ, khẳng định một
cách hùng hồn ý chí của nhân dân ta xây dựng thành công một nước Việt Nam hòa bình, độc
lập, thống nhất và xã hội chủ nghĩa.
Cuộc Tổng tuyển cử đã được tiến hành thật sự dân chủ, đúng luật và pháp lệnh bầu cử. Các
nguyên tắc: phổ thông, bình đẳng, trực tiếp bỏ phiếu kín trong bầu cử đã được nghiêm chỉnh
tôn trọng.
2 - Toàn dân rất phấn khởi, tích cực hưởng ứng và tham gia bầu cử. Việc ghi danh sách cử tri
ở tất cả các địa phương đều làm đúng theo luật đã định. ở miền Nam, việc khôi phục quyền
công dân cho trên 95% số người làm việc cho chế độ cũ đã được học tập cải tạo thể hiện chính
sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước ta. Các cử tri đi bầu cử đã hoàn toàn tự do trong việc
lựa chọn những đại biểu của mình vào cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất.
3 - Tỷ lệ cử tri đi bầu rất cao. Trong cả nước, tỷ lệ đó là 98,77%; miền Bắc 99,36%; miền Nam
98,59%; Hà Nội 99,82; TP Hồ Chí Minh 98,14%. ở cả hai miền đều có nhiều huyện, xã và rất
nhiều khu đạt 100% cử tri đi bỏ phiếu.
Kết quả, cả nước đã bầu cử 492 đại biểu ngay ở vòng đầu, không nơi nào phải bầu cử lại hoặc
bầu thêm. Tỷ lệ số phiếu hợp lệ rất cao, đạt tới 99,12%. Trong tổng số 492 đại biểu trúng cử có:
80 đại biểu là công nhân, 100 đại biểu là nông dân, 6 đại biểu là cán bộ chính trị, 98 đại biểu là
tri thức, nhân sĩ dân chủ, 13 đại biểu các tôn giáo. Trong số các đại biểu trúng cử có: 129 đại
biểu nữ, 127 đại biểu thanh niên, 72 đại biểu dân tộc thiểu số, 29 đại biểu là anh hùng lao động
và anh hùng các lực lượng vũ trang.
Các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước đã được bầu với số phiếu cao nhất.
Ngày 25 tháng 4 năm 1976 sẽ được ghi vào lịch sử dân tộc và lịch sử cách mạng Việt Nam. Đó
là ngày hội hoàn thành trọn vẹn sự nghiệp thống nhất non sông. Đó là ngày hội biểu dương vĩ
đại lực lượng và ý chí của toàn thể nhân dân ta - thống nhất đất nước trên cơ sở độc lập dân
tộc và chủ nghĩa xã hội, xiết chặt hàng ngũ, đoàn kết phấu đấu dưới ngọn cờ quang vinh, bách
Ngày 24-3, tỉnh Quảng Ngãi với thị xã Quảng Ngãi.
Ngày 28-3, tỉnh Quảng Nam với thị xã Tam kỳ.
Ngày 1-4, tỉnh Bình Định với thị xã Quy Nhơn
Cùng ngày, tỉnh Phú Yên với thị xã Tuy Hòa.
Ngày 2-4, tỉnh Lâm Đồng với thị xã Bảo Lộc
Ngày 3-4, tỉnh Khánh Hòa với thành phố Nha Trang.
Ngày 4-4, tỉnh Tuyên Đức với thành phố Đà Lạt.
Trong khi chiến dịch Tây Nguyên chưa kết thúc, ngay từ trung tuần tháng 3, chiến dịch tiến
công lớn thứ hai của quân ta vào tập đoàn phòng ngự Thừa Thiên - Huế và căn cứ quân sự
liên hợp Đà Nẵng đã được quyết định. Thừa Thiên - Huế và Đà Nẵng là những khu vực phóng
ngự mạnh nhất của quân ngụy ở quân khu I.
Sau 4 ngày chiến đấu và nổi dậy phối hợp của quần chúng, trưa ngày 26-3-1975 quân ta đã
tiêu diệt tập đoàn phòng ngự Thừa Thiên - Huế, giải phóng cố đô huế. Trận thắng vẻ vang này
đã khẳng định quân ta và dân ta không những có khả năng tiêu diệt những tập đoàn phòng ngự
mạnh của địch ở chiến trường rừng núi mà cũng hoàn toàn có khả năng đập tan những tập
đoàn phòng ngự mạnh của địch ở thành phố và đồng bằng ven biển.
Ngày 24-3, thị xã Tam Kỳ được giải phóng. Đà Nẵng trở nên hoàn toàn cô lập.
Sau khi mất Huế, Nguyễn Văn Thiệu hò hét quyết "tử thủ" Đà Nẵng bằng bất cứ giá nào. Đà
Nẵng là một căn cứ quân sự liên hợp hải, lục không quân hiện đại, mạnh vào bậc nhất ở miền
Nam với 10 vạn tên lính. Tàu chiến Mỹ kéo đến rập rình ven biển Đà Nẵng làm lực lượng "ngăn
đe".
Sáng ngày 28-3, từ nhiều hướng khác nhau quân ta tiến công dồn dập và mạnh mẽ vào Đà
Nẵng. Đông đảo quần chúng và các lực lượng tự vệ, biệt động trong và ngoài thành phố đã nổi
dậy mạnh mẽ và phối hợp chặt chẽ với bộ đội chủ lực. Đúng 15 giờ ngày 29-3, từ các hướng
tiến quân các binh đoàn thần tốc của ta đã gặp nhau ở trung tâm Đà Nẵng.
Như vậy, chỉ trong 32 giờ, quân và dân ta đã tiêu diệt hoàn toàn căn cứ quân sự liên hợp mạnh
vào bậc nhất của địch. Hệ thống phòng ngự chiến lược mới của địch ở miền Trung bị quét
sạch. Quân khu I của ngụy bị xóa sổ. Sau trận đại bại ở Đà Nẵng, quân ngụy lâm vào tình trạng
tuyệt vọng. Mỹ và tay sai hết sức kinh hoàng. Tướng Uây-en, cựu tư lệnh quân Mỹ ở miền Nam
Việt Nam, được lệnh vội vã sang miền Nam bày mưu, đốc thúc bọn tay sai xây dựng hệ thống
phố đã nổi dậy, phối hợp với các binh đoàn chủ lực.
Sáng ngày 30-4, một mũi thọc sâu của quân ta đánh thẳng vào trung tâm thành phố, nhanh
chóng chiếm phủ tổng thống ngụy. Ngụy quyền trung ương ở Sài Gòn đã phải tuyên bố đầu
hàng không điều kiện. Lá cờ cách mạng phấp phới tung bay trên nóc "dinh Độc Lập" - phủ tổng
thống ngụy. Lúc đó đúng 11 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4 lịch sử.