Phương hướng hoàn thiện Kế toán tập hợp chi phí sản xuất & tính giá thành sản phẩm tại Xí nghiệp chế biến Thuỷ đặc sản Xuất khẩu Hà Nội - Pdf 16

Lời nói đầu
Ngày nay, trong nền kinh tế thị trờng, nhiều nhà kinh tế, quản lý kinh
doanh và chủ Doanh nghiệp quan niệm kế toán nh một ngôn ngữ kinh doanh
, đợc coi nh nghệ thuật để ghi chép, phân loại, tổng hợp các nghiệp vụ
kinh tế - tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của
Doanh nghiệp nhằm cung cấp thông tin cần thiết cho việc ra quyết định phù hợp
của các đối tợng sử dụng thông tin. Song dù có quan niệm nh thế nào đi chăng
nữa thì thực tế đã chứng minh kế toán luôn là công cụ quản lý và có vai trò đặc
biệt quan trọng trong công tác quản lý vĩ mô của Nhà nớc và vi mô của Doanh
nghiệp.
Để đạt đợc mục tiêu kinh doanh đó là thu đợc lợi nhuận thì doanh nghiệp
phải quyết định lựa chọn phơng án sản xuất sản phẩm và cần phải tính đến lợng
chi phí bỏ ra để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm qua đó tập hợp tính giá thành sản
phẩm.
Vì vậy, trong công tác quản lý doanh nghiệp, chi phí sản xuất và giá
thành sản phẩm là những chỉ tiêu kinh tế quan trọng luôn luôn đợc các nhà quản
lý Doanh nghiệp quan tâm vì đó là những chỉ tiêu phản ánh chất lợng của hoạt
động sản xuất của Doanh nghiệp. Do đó, tiết kiệm chi phí sản xuất tối đa, and
hạ giá thành sản phẩm hợp lý là biện pháp quan trọng nhất tăng lợi nhuận của
Doanh nghiệp.
Tại Xí nghiệp chế biến Thuỷ đặc sản xuất khẩu Hà nội , công tác kế toán
nói chung, kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm nói riêng đã tơng
đối đi vào nề nếp, cung cấp thông tin quan trọng cho quản lý chi phí sản xuất và
giá thành. Tuy nhiên, nếu xí nghiệp hoàn thiện hơn nữa công tác kế toán này thì
thông tin kinh tế cung cấp chắc chắn sẽ có ý nghĩa hơn. Bởi vậy , em mạnh dạn
đi sâu tìm hiểu và nghiên cứu vấn đề này trong bài viết của mình.
Phơng hớng hoàn thiện kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính
giá thành sản phẩm ở Xí nghiệp chế biến
Thuỷ đặc sản xuất khẩu Hà nội
Sau một thời gian nỗ lực tìm tòi nghiên cứu em đã hoàn thành bài viết này.Nhng
do nhận thức và trình độ có hạn, nhất là trong quá trình tiếp cận những vấn đề

Thị trờng vừa là cơ hội vừa là thách thức đối với các Doanh nghiệp. Muốn
tồn tại và phát triển thì Doanh nghiệp phải đảm bảo trang trải bù đắp mọi chi
phí bỏ ra trong quá trình sản xuất và nhất định phải có lãi. Muốn vậy, Doanh
nghiệp phải tập hợp đầy đủ và chính xác chi phí bỏ ra, xây dựng kế hoạch giá
thành để phát hiện và tìm ra nguyên nhân dẫn đến phát sinh chi phí không hợp
lý và đề ra biện pháp loại trừ. Yêu cầu của quản lý đối với chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm là vừa đảm bảo sức cạnh tranh trong nền kinh tế thị tr-
ờng vừa hớng tới mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận.
Ngoài chức năng ghi chép, tính toán phản ánh và giám sát một cách thờng
xuyên, liên tục sự biến động của tài sản, vật t, tiền vốn, kế toán tập hợp chi phí
và tính giá thành còn sử dụng thớc đo hiện vât, do đó mà cung cấp đợc kịp thời
yêu cầu của quản lý đối với chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm. Nền
kinh tế nớc ta ngày càng phát triển đòi hỏi phải quản lý chặt chẽ các chi phí sản
xuất và kết quả kinh doanh. Hiện nay tất cả các Doanh nghiệp đều quan tâm
làm thế nào để chi phí bỏ ra ít nhất nhng kết quả kinh doanh thu lãi cao nhất.
2
Để làm đợc điều này Doanh nghiệp phải phấn đấu tiết kiệm chi phí sản xuất tối
đa, hạ giá thành sản phẩm hợp lý .
Số liệu kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm cung
cấp nhằm xác định đợc chi phí sản xuất trong kỳ và giá thành sản phẩm sản
xuất ra, từ đó chúng ta biết đợc chi phí sản xuất trong kỳ là tiết kiệm hay lãng
phí, giá thành sản phẩm cao hay thấp.
Vì vậy, công tác tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là rất
cần thiết, đặc biệt là trong nền kinh tế thị trờng hiện nay.
2.Nhiệm vụ của kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm
Trong công tác quản lý Doanh nghiệp, chi phí sản xuất và giá thành sản
phẩm là những chỉ tiêu kinh tế quan trọngphản ánh chất lợng hoạt động sản
xuất của Doanh nghiệp. Để tổ chức tốt công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất
và tính giá thành sản phẩm đáp ứng đầy đủ, trung thực và kịp thời yêu cầu quản

phí sản xuất.
2. Giá thành
Giá thành sản phẩm là chi phí sản xuất tính cho một khối lợng hoặc đơn vị
sản phẩm (công việc lao vụ ) do Doanh nghiệp đã sản xuất hoàn thành.
Chỉ tiêu giá thành sản phẩm luôn chứa đựng hai mặt khác nhau vốn có
bên trong nó là : chi phí sản xuất đã chi ra và lợng giá trị thu đợc cấu thành
trong khối lợng sản phẩm,công việc, lao vụ đã hoàn thành. Nh vậy, bản chất của
giá thành sản phẩm là sự chuyển dịch giá trị của các yếu tố chi phí vào những
sản phẩm, công việc, lao vụ đã hoàn thành.
Chức năng bù đắp chi phí.
Chức năng lập giá.
Toàn bộ số chi phí mà Doanh nghiệp đã chi ra hoàn thành một khối lợng
sản phẩm, công việc, lao vụ phải đợc bù đắp bằng chính số tiền thu đợc về tiêu
thụ sản phẩm, lao vụ. Nhng việc bù đắp các chi phí đầu vào đó mới chỉ đảm bảo
đợc trong quá trình sản xuất giản đơn, còn trong nền kinh tế thị trờng mục đích
của sản xuất kinh doanh là các Doanh nghiệp phải đảm bảo trang trải, bù đắp
mọi chi phí đầu vào của quá trình sản xuất và phải thu đợc lợi nhuận tối đa.
Bên cạnh đó, quy luật cung cầu , cách bán hàng, quảng cáo cũng có tác
động rất nhiều đến giá bán sản phẩm, lao vụ. Do vậy, giá trị sử dụng của sản
phẩm, hàng hoá đợc thực hiện thông qua việc bán sản phẩm, còn giá bán của
sản phẩm là biểu hiện giá trị của sản phẩm phải đợc dựa trên cơ sở giá thành sản
phẩm để xác định. Nh vậy, giá thành sản phẩm là một chỉ tiêu kinh tế quan
trọng đối với các Doanh nghiệp sản xuất cũng nh đối với toàn bộ nền kinh tế
quốc dân.
Giá thành sản phẩm cao hay thấp, tăng hay giảm đồng nghĩa với việc sử
dụng tiết kiệm hay lãng phí lao động xã hội. Nói một cách khác, giá thành sản
phẩm phản ánh việc quản lý sử dụng lao động, vật t, tiền vốn của Doanh nghiệp.
Việc quản lý, sử dụng hợp lý tiết kiệm các nguồn này sẽ có tác dụng trong việc
hạ giá thành và ngợc lại. Đó cũng là một đòi hỏi khách quan khi các Doanh
nghiệp thực hiện chế độ hạch toán kinh doanh.

phí sản xuất của sản phẩm dở dang đầu kỳ, hay những chi phí đã trích trớc
vào giá thành nhng cha chi và những chi phí của kỳ trớc phân bổ cho kỳ
này.Nói cách khác, giá thành sản phẩm không chỉ có một phần chi phí sản
xuất trong kỳ mà còn gồm cả phần chi phí sản xuất của kỳ trớc chuyển sang.
Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có thể phản
ánh qua sơ đồ sau :
Tổng giá thành = CFSX dở + Chi phí sản xuất CFSX dở
Sản phẩm dang đk phát sinh trong kỳ dang ck

Nh vậy,các tài liệu tập hợp để tình chi phí sản xuất là cơ sở để tính giá
thành sản phẩm, tập hợp chi phí sản xuất đầy đủ thì tính giá thành sản phẩm sẽ
chính xác và ngợc lại thông qua tình hình thực hiện ké hoạch giá thành, Doanh
nghiệp có thể xem xét tình hình sản xuất và chi phí bỏ vào sản xuất là tiết kiệm
hay lãng phí, phát hiện và tìm ra nguyên nhân dẫn đến phát sinh chi phí không
hợp lý để có biện pháp loại trừ.
5
Phần thứ hai :
Tình hình thực tế và một số ý kiến để hoàn thiện
công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm ở xí nghiệp chế biến Thuỷ đặc sản
Xuất khẩu - Hà nội.
I).Tình hình thực tế:
A.Đặc điểm chung của XN :
1.Lịch sử hình thành và phát triển của XN
XN chế biến Thuỷ đặc sản xuất khẩu Hà Nội đợc thành lập theo
quyết định 545/TS-QĐ ngày 01/07/1987 của Bộ trởng Bộ thuỷ sản. Sau thời
gian xây dựng đến năm 1990 XN bớc đầu vừa sản xuất vừa tự hoàn thiện. Cho
đến năm 1992, công ty xuất nhập khẩu Thuỷ sản Hà Nội <Seaprodex> đã chính
thức giao vốn cho XN chế biến Thuỷ đặc sản xuất khẩu Hà Nội quản lý và sử
dụng với t cách là một XN đi đầu tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển của ngành

là điều kiện quan trọng đảm bảo tính trung thực, kịp thời của các thông tin tài
chính cung cấp cho các đối tợng sử dụng khác nhau. Đồng thời, phát huy và
nâng cao nghiệp vụ của cán bộ kế toán.
Nhằm đáp ứng yêu cầu trên, việc tổ chức bộ máy kế toán tại Xí nghiệp
chế biến Thuỷ đặc sản xuất khẩu Hà nội đợc tiến hành theo hình thức Tổ chức
công tác bộ máy kế toán tập trung . Vì hình thức hoạt động của xí nghiệp là
tập trung, qui mô sản xuất nhỏ, việc phân cấp quản lý đơn giản, gọn nhẹ và qui
trình công nghệ sản xuất giản đơn. Hơn nữa, khối lợng các nghiệp vụ kinh tế
phát sinh không quá nhiều, tính chất và mức độ phức tạp của các nghiệp vụ đó
là ít.
Tổ chức kế toán ở phòng tài vụ
Kế toán trởng xí nghiệp : có quyền hạn tơng đơng với phó giám đốc xí
nghiệp, thực hiện giám đốc toàn bộ hoạt động kinh tế tài chính của xí nghiệp,
giám đốc việc chấp hành các chế độ, chính sách về tài chính kế toán, giám đốc
việc bảo vệ tài sản xí nghiệp, đồng thời giúp ban giám đốc xí nghiệp về công
tác chuyên môn nhằm phân tích hoạt động kinh tế tài chính, cải tiến quản lý
kinh doanh. Kế toán trởng có vai trò quan trọng trong tổ chức bộ máy kế toán
và là ngời phụ trách chung.
1 nhân viên kế toán tổng hợp thực hiện chức năng và nhiệm vụ sau : đôn
đốc kiểm tra giám sát việc thực hiện các công việc kế toán, tình hình thực hiện
nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, giúp kế toán trởng kiểm tra lại việc hạch toán
của các bộ phận, quản lý vốn và tài sản của xí nghiệp, đồng thời phải thực hiện
việc lên số liệu và lập các báo cáo tổng hợp, mỗi quý phải gửi các báo cáo lên
tổng công ty Seaprodex và cấp trên đợc kiểm tra, xét duyệt, cuối năm lập quyết
toán, có nhiệm vụ giúp đỡ ban giám đốc điều hành tốt sản xuất kinh doanh của
xí nghiệp,cung cấp số liệu đầy đủ cho các kiểm toán viên nội bộ, theo dõi tài
sản cố định và nguồn vốn của xí nghiệp .
1 kế toán nguyên vật liệu, tính giá thành và thanh toán nội bộ : tiến hành
lập các hoá đơn, chứng từ theo từng nghiệp vụ kinh tế phát sinh nh phiếu nhập,
phiếu xuất nguyên vật liệu, viết phiếu thu, phiếu chi, theo dõi các khoản thanh

1.1.1.Kế toán chi phí nguyên vật liệu chính trực tiếp.
Xí nghiệp sử dụng nguồn nguyên liệu chính là các loại thuỷ sản nh cá,
mực, tôm, cua, ... Do đặc điểm sản xuất của xí nghiệp là chế biến các mặt hàng
tơi sống có quy trình công nghệ tơng đối đơn giản, nhng sản phẩm của xí
nghiệp phải đảm bảo đầy đủ các tiêu chuẩn về vệ sinh dịch tễ, chất lợng sản
phẩm cao đáp ứng yêu cầu của khách hàng nhập khẩu (chủ yếu là thị trờng Nhật
Bản, Đài Loan, ... ). Vì vậy, chu kỳ sản xuất rất ngắn (1-2 ngày) và chất lợng
của nguyên liệu phải cao.
Hơn nữa nguyên liệu mua về nhập kho thờng đợc sử dụng đa vào sản xuất
chế biến ngay để đảm bảo chất lợng thành phẩm, do đó xí nghiệp không có kế
hoạch dự trữ nguyên vật liệu đối với những nguyên vật liệu xuất dùng ngay, còn
đối với những nguyên vật liệu xuất dùng dần thì xí nghiệp chỉ đảm bảo dự trữ
tối đa trong kho để sản xuất trong vòng một tuần.
Tài khoản sử dụng
Để theo dõi tình hình xuất dùng nguyên vật liệu chính trực tiếp cho sản
xuất kế toán sử dụng các tài khoản sau :
- TK 621 _ chi phí nguyên vật liệu chính trực tiếp : dùng để phản ánh chi
phí nguyên vật liệu chính trực tiếp xuất dùng cho sản xuất bao gồm chi phí mua
tôm, cá, mực ...
TK 621 mở chi tiết theo mục đích phục vụ của chi phí nguyên vật liệu
chính trực tiếp bao gồm :
TK 6211_ Tôm tẩm bột
TK 6211_ Tôm tẩm vừng
8


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status