CLCT Chiến tranh đơn phương Chiến tranh đặc biệt Chiến tranh cục bộ Việt Nam hoá chiến tranh
Thời gian 1954 → 1960 1961→ 1965 1965 → 1968 1969→ 1973
Hoàn cảnh Sau khi Pháp thất bại, Mĩ trực tiếp
can thiệp vào Việt Nam. 7/11/1954,
Mĩ cử tướng Cô-lin sang làm đại sứ ở
miền Nam Việt Nam với âm mưu
biến miền Nam thành thuộc địa kiểu
mới để làm bàn đạp tiến công miền
Bắc và ngăn chặn làn sóng cách mạng
ở Đông Nam Á.
Dựa vào Mĩ, Ngô Đình Diệm đã
nhanh chóng dựng lên một chính
quyền độc tài, gia đình trị ở miền
Nam và ra sức chống phá cách mạng.
Giữa năm 1954, Diệm lập ra đảng
Cần lao nhân vị làm đảng cầm quyền.
Cuối năm 1954, thành lập “phong
trào cách mạng quốc gia” và đưa ra
mục tiêu: “chống cộng, đả thực, bài
phong”.
Sau phong trào” Đồng khởi” , ”Chiến
tranh đơn phương” bị phá sản, để đối
phó với phong trào giải phóng dân tộc
trên thế giới và phong trào cách mạng
Miền nam tổng thống Mỹ J. Kenơdi đã
đề ra chiến lược toàn cầu “Phản ứng
linh hoạt” thực hiện thí điểm ở miền
nam Việt Nam dưới hình thức “Chiến
tranh đặc biệt”.
Do sự thất bại của “Chiến
tranh đặc biệt”, từ giữa
yếu) + quân đồng minh
và quân đội tay sai.
- vẫn tiếp tục chiến tranh xâm lược thực dân
mới của Mỹ ở miền Nam .Được tiến hành
= quân đội tay sai là chủ yếu với sự phối
hợp đáng kể của lực lượng chiến đấu Mỹ,
bằng không quân và hỏa lực Mỹ do cố vấn
Mỹ chỉ huy.Thực chất nay là sự tiếp tục của
âm mưu “Dùng người Việt đánh người
Việt”, “Dùng người đông Dương đánh
người Đông dương”.
Thủ đoạn Diệm ra sắc lệnh “đặt cộng sản ngoài
vòng pháp luật” và tháng 5/1959, ra
đạo luật 10/59, lê máy chém khắp
miền Nam giết hại những người vô
tội.
Chính quyền Diệm còn thực hiện
chương trình cải cách điền địa nhằm
lấy lại ruộng đất mà cách mạng đã
giao cho nhân dân, lập ra các khu
dinh điền, khu trù mật để kìm kẹp
nhân dân. → tách nhân dân ra khỏi
cách mạng
* Từ 1961- 1963 : Mỹ đề ra kế hoạch
Xtalây – Taylo nhằm bình định Miền
nam trong vòng 18 tháng.
* Từ 1964-1965 : Giôn-xơn đề ra kế
hoạch Giônxơn –Macnamara bình định
MNVN có trọng điểm trong 2 năm.
- Để thực hiện kế hoạch trên Mỹ tăng
kháng chiến của nhân dân miền Nam.
Sự Thất
bại của
Mĩ trên
các
phương
diện :
Đồng khởi đánh dấu sự thất bại của
“chiến tranh đơn phương” của Mỹ
- Chính trị + Quân sự :
- Phong trào đã giáng một đòn nặng
nề vào chính sách thực dân mới của
Mỹ – Diệm, làm lung lay tận gốc
chính quyền tay sai Diệm.
- Từ khí thế của Đồng khởi, 20/ 12/
1960 mặt trận dân tộc giải phóng
miền Nam Việt Nam ra đời. Đánh dấu
bước phát triển của cách mạng miền
nam từ thế giữ gìn lực lượng sang thế
tiến công
- Ấp chiến lược , bình định :
Phong trào đồng khởi đã làm cho
chính quyền của địch ở địa phương bị
tan ra từng mảng lớn, cuối 1960 ta
làm chủ : 600/ 1298 xã Nam Bộ, 904/
3829 thôn trung bộ, 3200/ 721 thôn
Tây Nguyên
- Chính trị : Phong trào đấu tranh diễn
ra sôi nổi ở các đô thị lớn như : Huế, Đà
nẵng, Sài gòn. Nổi bật là phong trào của
ấp chiến lược lập nhiều “Làng chiến
đấu” là kết quả sự nổi dậy của quần
ch→ng + với sự hỗ trợ của lực lượng vũ
trang. → ấp chiến lược ” xương sống”
của CTĐB bị phá sản về cơ bản.
Với ý chí “Quyết chiến,
quyết thắng giặc Mỹ xâm
lược” quân dân MN đã
chiến đấu anh dũng và
giành những thắng lợi
trên các mặt trân :
- Chính trị :
Trong khắp các thành thị
diễn ra cuộc đấu tranh sôi
nổi của các tầng lớp nhân
dân đòi Mỹ Cút về nước,
đòi tự do dân chủ →
vùng giải phóng được mở
rộng, uy tín của mặt trận
dân tộc giải phóng miền
nam được nâng cao.
- Quân Sự :
+18-8-1965 Thắng lợi
Vạn tường (Quảng ngãi).
+ Đập tan 2 cuộc phản
công chiến lược mùa khô
1965-1966 và 1966-1967.
Đây là những thắng lợi có
ý nghĩa chiến lược → làm
dân Lào đập tan cuộc hành quân “Lam sơn
719” đường 9 –Nam Lào của 4,5 vạn quân
Mỹ-ngụy.
-Từ 30-3-1972 → Cuối tháng 6-1972 ta mở
cuộc tiến công chiến lược khắp MN, chọc
thủng 3 phòng tuyến mạnh nhất của địch là
Quảng trị, Tây nguyên, Đông nam bộ.
- Ấp chiến lược , bình định :
-Phong trào của nhân dân nông thôn và ven
đô đấu tranh chống “Bình định” phá “Ấp
chiến lược” → Đầu 1971 cách mạng làm
chủ thêm 3600 ấp với > 3 triệu dân.
Huỳnh Văn Hiếu – 12c5 – THPT Chuyên Lê Khiết– Bảng tóm tắt các chiến lược chiến tranh của Mĩ ở Việt Nam từ 1954 → 1973