Báo cáo “Một số giải pháp nhằm tăng cường công tác xuất khẩu lao động ở Việt Nam” - Pdf 16

Báo cáo
Một số giải pháp nhằm tăng
cường công tác xuất khẩu lao
động ở Việt Nam
2
Mục Lục
Lời nói đầu 3
CHƯƠNG 1 – MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XUẤT KHẨU LAO
ĐỘNG Ở VIỆT NAM 5
1.1 – Vai trò của xuất khẩu lao động 5
1.1.1 – Khái niệm về xuất khẩu lao động 5
1.1.2 – Xuất khẩu lao động - những điểm tích cực và tiêu cực 8
1.2 – Sự cần thiết của xuất khẩu lao động ở Việt Nam 14
1.2.1 – Kinh nghiệm xuất khẩu lao động ở các nước 15
1.2.2 – Vấn đề xuất khẩu lao động ở Việt Nam trong thời gian qua 17
CHƯƠNG 2 – TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU LAO
ĐỘNG CỦA VIỆT NAM 20
2.1 – Thực trạng xuất khẩu lao động ở Việt Nam 20
2.1.1 – Những thành tựu của xuất khẩu lao động trong những năm
qua 20
2.1.2 – Những hạn chế của xuất khẩu lao động ở Việt Nam 24
2.2 – Thị trường xuất khẩu lao động 41
2.2.1 - Thị trường truyền thống 42
2.2.2 - Thị trường mới 47
CHƯƠNG 3 - ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÀ MỘT SỐ GIẢI
PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC XUẤT KHẨU LAO
ĐỘNG Ở VIỆT NAM 53
3.1 - Định hướng phát triển XKLĐ 53
3.1.1 - Quan điểm của Đảng và nhà nước 53
3.1.2 - Mục tiêu trong những năm tới 55
3.2 - Một số giải pháp nhằm tăng cường công tác XKLĐ Ở VIỆT NAM.

có nền kinh tế phát triển.Vậy chúng ta phải làm gì để cho lao động Việt Nam
ngày càng đứng vững và khẳng định được thương hiệu trên thương trường lao
động quốc tế. Để giải quyết tốt vấn đề trên không hề dễ dàng.Chúng ta đòi hỏi sự
nhập cuộc của những nhà quản lý ,các doanh nghiệp cũng như những người lao
động đang quan tâm tới XKLĐ…Trên cơ sở đó chúng tôi đi tới xây dựng đề tài:
“Một số giải pháp nhằm tăng cường công tác xuất khẩu lao động ở Việt Nam”.
Đề tài được hình thành dựa trên nhiều tài liệu tham khảo cùng với tư liệu
của Bộ Lao Động Thương Binh và Xã Hội, các doanh nghiệp xuất khẩu lao động
ở việt Nam, những đánh giá của một số chuyên gia về thực tế vấn đề xuất khẩu
lao động đang diễn ra trong những năm gần đây. Đề tài cung cấp một số thông
tin về quan điểm về xuất khẩu lao động, thực trạng và đặc biệt là một số biện
pháp tăng cường công tác xuất khẩu lao động ở Việt Nam.
Với mục tiêu trên đề tài được xây dựng với các nội dung chính như sau:
Chương 1 – Một số vấn đề lý luận về xuất khẩu lao động ở Việt Nam.
Chương 2 – Tổng quan về tình hình xuất khẩu lao động ở Việt Nam.
Chương 3 – Một số giải pháp nhằm tăng cường công tác xuất khẩu lao động
ở Việt Nam.
4
CHƯƠNG 1 – MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ
XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM
1.1 – Vai trò của xuất khẩu lao động.
1.1.1 – Khái niệm về xuất khẩu lao động.
Trong thời đại toàn cầu hóa kinh tế và kinh tế thị trường mở rộng, các
dòng di chuyển lao động qua biên giới phức tạp và ngày càng mang đậm chất
toàn cầu hóa. Theo cách đánh giá của tổ chức di dân quốc tế (IOM) có khoảng
5
185 triệu người,tức gần 3% dân số thế giới đang ở ngoài lãnh thổ quốc gia mình,
trong số đố có 85 triệu người di chuyển vì mục đích làm việc (Theo tạp chí lao
động và xã hội số 319). Tuy tất cả những người di chuyển qua biên giới để làm
việc đều được coi là lao động, nhưng căn cứ vào danh nghĩa và tính chất thì việc

đề khó nhất có lẽ là làm thế nào phân biệt được ai là diện xuất khẩu lao động và
ai là diện di chuyển thể nhân? Đó chính là công việc của những nhà làm chính
sách. Một đối tượng được điều chỉnh bởi “luật chơi” về lao động còn đối tượng
kia được điều chỉnh bởi “luật chơi” về thương mại. Hai đối tượng này không thể
nhập làm một vì mục đích, tính chất, cương vị di chuyển qua biên giới quốc gia
của họ là khác nhau, nên cũng không thể có một “luật chơi” chung cho cả hai đối
tượng trên. Vì vậy khi bàn về xuất khẩu lao động cần lưu ý phân biệt hai hiện
tượng di chuyển này.
Quan điểm về xuất khẩu lao động ở những nước khác nhau cũng có những
nét riêng. Với Việt Nam, xuất khẩu lao động xét về mặt kinh tế là một loại hình
dịch vụ cung cấp loại hàng hóa đặc biệt đó là sức lao động. Nó chứa đựng đầy đủ
tính chất, yêu cầu của loại hàng hóa đặc biệt đó là hoạt động của con người, tổng
hòa các mối quan hệ xã hội. Giá cả của sức lao động này phụ thuộc vào chất
lượng của lao động trước hết là các yếu tố về trình độ chuyên môn, tay nghề
được đào tạo, mức độ giao tiếp về ngôn ngữ, văn hóa, phẩm chất của cá nhân như
tính cần cù, kỹ năng, tinh xảo, khéo léo và khả năng hội nhập, giao lưu với các
nền văn hóa, tôn giáo khác. Giá cả của sức lao động còn phụ thuộc vào nhu cầu
của nước nhập khẩu lao động. Xuất khẩu lao động về mặt chính trị là tiến hành
hợp tác góp phần hỗ trợ, xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội của nước nhập khẩu
lao động. Khác với các loại hình hàng hóa dịch vụ khác,đối với người đi xuất
khẩu lao động, ngoài yếu tố cơ bản về phẩm chất cá nhân, trình độ chuyên môn,
trình độ văn hóa, ngoại ngữ, thì khả năng hòa đồng cũng hết sức quan trọng để
đảm bảo cho tương lai của người lao động Việt Nam ở nước ngoài. Bởi vậy,
người lao động cần phải thực sự tôn trọng luật pháp và hòa hợp tốt với cộng đồng
dân cư nước sở tại. Điều đó sẽ bảo đảm cho vị trí cá nhân được khẳng định, được
quý mến, góp phần nâng cao uy tín, vị thế quốc gia, góp phần củng cố, tăng
cường tình hữu nghị, đoàn kết, thân thiện cộng đồng quốc tế giữa hai nước.
Xuất khẩu lao động là một hoạt động hết sức nhạy cảm vì nó liên quan
trực tiếp đến con người. Cho nên vấn đề về xuất khẩu lao động cũng gây ra một
7

bán đất để kiếm ít vốn để ra thành phố lập nghiệp chứ không chịu cảnh “con trâu
8
đi trước chiếc cày theo sau”. Còn những người ở thành thị cũng cảm thấy tương
lai không được triển vọng hơn là bao nhiêu vì: đời sống thì giá cả ngày càng leo
thang vùn vụt, đắt đỏ tốn kém đủ bề mà đi làm cho các công ty trong nước thì
tiền công quá rẻ. Do đó, lối thoát tốt hơn là tìm cách để được xuất khẩu đi làm
việc ở nước ngoài. Vì ai nấy đều tin rằng ở ngoại quốc lương thưởng dù có thấp
đi chăng nữa thì cũng còn cao hơn ở trong nước. Chính vì vậy mà rất nhiều người
đổ xô đến các trung tâm giới thiệu việc làm để mong có cơ hội được làm việc ở
nước ngoài. Chúng ta sẽ xem xét một cách khách quan về vấn đề đã được nêu ở
trên đó là vấn đề “xuất khẩu lao động” để xem xét đâu là những điểm tích cực và
đâu là những điểm tích cực.
Những điểm tích cực
Về vấn đề này, chắc chắn chúng ta cũng đã nghe những ý kiến phê bình
chống đối. Những ý kiến này cho rằng xuất khẩu lao động là một hình thức bắt
dân mang thân đi làm nô lệ cho ngoại quốc. Tuy nhiên, những ý kiến này không
phải là hoàn toàn chủ quan và thiếu cơ sở. Thật vậy, nhìn vào hiện tình đời sống
của một số lao động Việt Nam ở các nước như: Indonesia, Malaisia, Thái lan,
Libăng quá thiếu thốn về đủ mọi phương diện: thiếu sự chăm sóc sức khỏe, bị
chèn ép, bị bóc lột, thậm chí có khi nhân vị và phẩm giá của họ còn bị những
người chủ xúc phạm trắng trợn và không ít trường hợp xảy ra thật đáng thương
tâm. Nhưng nếu chúng ta nhìn vấn đề một cách khách quan và toàn diện hơn
chúng ta sẽ thấy vấn đề xuất khẩu lao động là một diễn biến kinh tế rất bình
thường, nên không những đúng, tích cực mà còn cần thiết nữa. Còn nếu chỉ dừng
lại ở chi tiết vấn đề thì chúng ta khó có thể tiến xa hơn được. Bất cứ quốc gia nào
đang trong giai đoạn chuyển tiếp từ một “nền kinh tế bao cấp” hay “kinh tế kế
hoạch” độc đoán và cứng nhắc bước sang nền “kinh tế thị trường” tự do và linh
động, từ nông nghiệp bước sang công nghiệp, từ cảnh “buôn thúng bán mẹt”
bước sang thị trường “siêu thị”; từ thị trường bán lẻ bước sang thị trường tập
trung Do đó chúng ta không thể tránh khỏi thời gian loạng choạng và khủng

tạm thời giải quyết được phần nào tình trạng thất nghiệp của nước nhà, nhằm
giảm bớt đi tình trạng “nhàn cư vi bất thiện”, từ đó làm giảm thiểu những tệ nạn
trong xã hội. Mặt khác, như đã nói trên,xuất khẩu lao động là một diễn biến kinh
tế rất bình thường. Tại Châu Âu cũng đã từng xảy ra trước đây : Sau trân Thế
chiến II, tuy nước Ðức bị thua trận và bị bom đạn đồng minh phá tan tành, nhưng
10
nhờ chương trình viện trợ kinh tế Marchal của Hoa Kỳ, nhất là nhờ có tiềm năng
kinh tế sẵn có, ý chí sắt đá của người dân và có được các nhà lãnh đạo tài ba và
liêm khiết, mà điển hình nhất là : thủ tướng Konrad Adenauer, bộ trưởng kinh tế
Ludwig Erhard, v.v…, những người đã “làm phép lạ kinh tế” tại Ðức, và vì thế
hàng triệu nhân công từ các nước nghèo khác như Ý, Tân Ban Nha, Bồ Ðào Nha,
Nam Tư, Thổ Nhĩ Kỳ, đã đổ xô vào Ðức kiếm công ăn việc làm. Và dĩ nhiên
hoàn cảnh sống cụ thể xưa kia của những công nhân ngoại kiều này không hề
may mắn hơn. Tuy thiếu thốn vất vả, nhưng so với tình trạng đói khổ ở quê
hương họ lúc bấy giờ, cảnh sống “ăn nhờ ở đậu” tại Ðức vẫn tốt hơn gấp bội. Họ
cũng đóng góp một phần rất lớn vào nền kinh tế thịnh vượng nước Ðức cũng như
nền kinh tế phồn thịnh của quê hương họ mà chúng ta chứng kiến ngày nay. Giữa
hai lựa chọn- hoặc ở nhà để nhìn cả gia đình và quê hương đói khổ hay đi làm
kinh tế ở nước ngoài dù cơ cực, vất vả, nhưng ít nhất còn có chút điều kiện để
cải thiện được phần nào đời sống gia đình, và qua đó phát triển nền kinh tế quê
hương - đương nhiên chúng ta sẽ chọn cái có lợi hơn. Ðể chờ một ngày không xa
sau đó, khi nền kinh tế ở trong nước đã ổn định và tiến cao, bấy giờ lực lượng lao
động không cần phải xuất khẩu nữa.
Những điểm tiêu cực
Tuy nhiên, nếu việc tổ chức và khuyến khích phong trào “xuất khẩu lao
động” chỉ hoàn toàn nhắm tới mục đích duy nhất là muốn tẩy “của nợ” thất
nghiệp và thu nhập số ngoại tệ khổng lồ cụ thể trước mắt do những người Việt
Nam đi lao động hàng tháng hay hàng năm gửi về trong nước, qua thuế lợi tức họ
đóng cho nhà nước hay số tiền họ gửi về tiếp tế cho gia đình mà thôi, thì chúng ta
sẽ vấp phải những sai lầm nghiêm trọng. Nếu xác định rõ “xuất khẩu lao động” là

không thể chấp nhận được. Sau cùng, nếu như đã nói trên là chúng ta xuất khẩu
lao động không chỉ nhắm tới số lợi tức bằng ngoại tế do các công nhân chúng ta
mang lại như là mục đích chính, nhưng là nhắm tới việc phát huy sự hiểu biết và
các tài năng của người công nhân – theo kinh nghiệm: “đi một ngày đàng học
một tràng khôn”, cũng như việc đào tạo những công nhân có được kinh nghiệm
về kỹ thuật tân tiến, có tay nghề cao cho tương lai của nền kinh tế nước nhà, thì
chúng ta chỉ nên gửi các công nhân đi làm việc tại các công ty và các cơ sở kỹ
nghệ chuyên môn. Còn những công nhân nữ đi xuất khẩu chỉ để “giúp việc nhà”
trong các tư gia thì nên hạn chế và dần dần xóa bỏ, vì thực tế cụ thể chứng mình
12
cho thấy rằng đó là một vấn đề quá phức tạp và nhạy cảm: phẩm giá của những
người công nhân nữ đó thường bị xúc phạm nặng nề. Nhưng vì hoàn cảnh éo le
“tiến thoái lưỡng nam” nên họ đành “chịu đấm ăn xôi” một cách tủi nhục. Ở đây,
chúng ta cũng không nên bỏ qua một điểm quan trọng khác nữa, đó là theo cách
thực hành hiện nay, thì một khi các công nhân đã được tuyển cho xuất khẩu thì
khi đã tới nơi, người ta thu tất cả các giấy tờ tùy thân của họ, cốt tránh cảnh xé lẻ
bỏ ra ngoài làm riêng và như thế nhà nước có thể quản lý được số lợi tức ngoại tệ
do các công nhân mang lại, chứ không để bị tẩu tán đi, và tránh được cảnh vừa
mất người vừa mất của. Ðây cũng là một chiến lược đúng đắn, không ai phủ nhận
được. Thêm vào đó, hành động như thế sẽ tránh cho những người công nhân trẻ
khi làm việc tại các nước Hồi Giáo không bị thâm nhiễm những ý thức hệ quá
khích, và tại các nước Âu Mỹ không bị lây nhiễm những cách sống phóng đãng
của một số lớn các thanh thiếu niên tại đây, hầu cho sau này nước nhà không
phải gánh chịu những hậu họa nạn khủng bố như trường hợp của các nước Thái
Lan, Phi Luật Tân, v.v… hiện nay. Tuy nhiên, người ta cũng không vì thế mà
biến các công nhân thành những “tù nhân kinh tế” hay những bộ phận sản xuất
thuần túy được. Trái lại, người ta phải tôn trọng nhân phẩm của họ và đối xử với
họ một cách hợp lý.
13
1.2 – Sự cần thiết của xuất khẩu lao động ở Việt Nam.

Từ những nội dung cơ bản này, Việt Nam cần hoạch định chính sách phù hợp để
XKLĐ vào thị trường Nhật Bản một cách căn cơ hơn.
1.2.1 – Kinh nghiệm xuất khẩu lao động ở các nước.
Theo Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), hiện nay ở châu Á có 54 triệu
lao động xuất khẩu và lực lượng này đang góp phần giảm bớt tình trạng đói
nghèo ở các nước trong khu vực, vì vậy các chính phủ cần tạo điều kiện thuận lợi
về đi lại và làm việc cho họ. Trong báo cáo thường niên công bố ngày 2/4, ADB
cho biết trong năm 2007 các lao động xuất khẩu ở châu Á đã gửi về quê nhà
108,1 tỷ USD, chiếm hơn 1/3 tổng lượng tiền này trên toàn thế giới. Tuy nhiên,
theo đánh giá của ADB, các quy định ở châu Á đối với lực lượng lao động xuất
khẩu vẫn khá chặt chẽ, các chính phủ trong khu vực cần tăng cường hợp tác để
mở rộng thị trường lao động, quản lý luồng lao động và giảm thiểu phí tổn cho
lao động xuất khẩu (Theo báo điện tử - Thời báo kinh tế ngày 13/04/2008).
Hiện những điểm đến đang rất hấp dẫn đối với lao động xuất khẩu châu Á,
đặc biệt từ Đông Nam Á, là Hồng Kông, Đài Loan, Hàn Quốc và Singapore.
Những nước cần nhập khẩu lao động có hai loại: một là những nước dân số ít mà
giàu tài nguyên như ở Trung Đông, ở đây thiếu lao động trong các ngành xây
dựng, dịch vụ, nhất là dịch vụ tại tư gia; hai là những nước đã phát triển, kể cả
những nước công nghiệp mới như Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Malaysia.
Trong nhóm thứ hai, cơ cấu kinh tế chuyển dịch nhanh sang những ngành dùng
nhiều tư bản, công nghệ và lao động trí thức, và chuyển sang nước ngoài đầu tư
trực tiếp, những ngành có hàm lượng lao động giản đơn cao. Tuy nhiên, tại
những nước công nghiệp mới, những ngành dùng nhiều lao động giản đơn có quy
mô khá lớn nên không thể chuyển hết ra nước ngoài. Thêm vào đó, trong những
ngành đang phát triển mạnh tại những nước này, nhiều công đoạn còn dùng lao
động giản đơn nên nhu cầu nhập khẩu lao động tăng. Tại những nước phát triển
như Tây Âu, Bắc Mỹ, Nhật nhu cầu lao động tăng trong ngành xây dựng, dịch
vụ ẩm thực, dịch vụ săn sóc người cao tuổi, một số nước cần lao động trong nông
nghiệp. Ở đây, cần lưu ý một điểm là tại các nước đã phát triển không phải là
không còn tồn tại lao động giản đơn. Vẫn còn một bộ phận không nhỏ số người

Thứ ba, nước xuất khẩu lao động hầu hết là những nước không thật thành
công trong các chiến lược phát triển kinh tế. Với trình độ văn hóa thấp, người
dân nước này không khỏi lo âu khi rời xa xứ sở ra nước ngoài làm việc. Tại Á
16
châu, ngay cả việc rời khỏi nông thôn để ra thành thị đối với họ cũng không phải
là sự lựa chọn dễ dàng. Thành ra, nếu trong nước có công ăn việc làm thì ít người
muốn tham gia xuất khẩu lao động.
Thứ tư, cho đến nay, trong những nước xuất khẩu lao động chưa thấy
nước nào đưa vấn đề này vào trong chiến lược phát triển kinh tế chung, trong đó
lao động được đưa đi sẽ bảo đảm rèn luyện được tay nghề khi trở về, ngoại hối
thu được sẽ được dùng một cách hiệu quả trong việc du nhập công nghệ tư
bản và có kế hoạch giảm bớt xuất khẩu lao động trong tương lai. Chỉ thấy có
trường hợp (như Malasia đã làm 20 năm trước) tích cực đưa thực tập sinh sang tu
nghiệp ngắn hạn tại các nước tiên tiến để sau đó về làm với năng suất cao hơn tại
các nhà máy hoặc cơ sở kinh tế khác, nhằm thực hiện thành công chiến lược phát
triển chung. Nhưng thực tập sinh khác về chất với vấn đề xuất khẩu lao
động.XKLĐ là việc làm phù hợp với xu thế của thời đại. Philippines là quốc gia
có 10% lao động làm việc ở nước ngoài, đã có đóng góp đáng kể cho bản thân,
gia đình và xã hội. Nhưng có phần khác với VN, họ không xuất khẩu TTS, mà là
những lao động có tay nghề.
1.2.2 – Vấn đề xuất khẩu lao động ở Việt Nam trong thời gian qua.
Việc đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài là một chủ trương lớn
của Đảng và Nhà nước ta nhằm tạo việc làm, tăng thu nhập, nâng cao trình độ tay
nghề, tiếp cận công nghệ tiên tiến cho người lao động. Nước ta đã hợp tác đưa
lao động đi làm việc ở nước ngoài từ năm 1980. Trong thời kỳ từ năm 1980 đến
1990, hợp tác lao động của nước ta chủ yếu thông qua các Hiệp định Chính phủ
với Liên Xô (trước đây), một số nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và một số
nước ở Trung Đông. Trong giai đoạn này, hợp tác lao động được thực hiện theo
kế hoạch của Nhà nước do các cơ quan Nhà nước tổ chức thực hiện. Từ năm
1991 đến nay, hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài được thực

ngoài và đã được thông qua vào cuối năm 2006. Việc tổ chức có hệ thống này hy
vọng sẽ cải thiện tốt hơn tình hình xuất khẩu lao động hiện nay. Trong điều kiện
kinh tế khó khăn, xuất khẩu lao động có thể cải thiện đáng kể đời sống của người
lao động, mang lại nguồn ngoại tệ đóng góp cho ngân sách nhà nước, góp phần
thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Dó đó xuất khẩu lao động là
một biện pháp hữu hiệu trong hoàn cảnh hiện nay và trong thời gian tới. Tuy
nhiên có những người bất đồng quan điểm đã lên tiếng phê bình và chống đối
18
không phải là vô căn cứ. Vì vậy chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng phải làm thế
nào để hạn chế bớt những điểm tiêu cực của xuất khẩu lao động thì nó phải nhằm
tới mục đích thật rõ ràng như:
Mục đích gần: Giải quyết công ăn việc làm cho tầng lớp công nhân trẻ;
tránh đi cho họ cảnh “nhàn cư vi bất thiện”, không bị rơi vào các tệ nạn xã hội;
và nhất là thu về cho ngân sách nhà nước một số ngoại tệ to lớn mà nhà nước
đang cần để giao dịch thương mại với ngoại quốc.
Mục đích xa: Trong khi làm việc ở ngoại quốc, các công nhân Việt Nam
có dịp tiếp cận và học hỏi được các kỹ thuật, chuyên môn của nước bạn. Như thế,
dưới một hình thức nào đó, các công nhân xuất khẩu lao động hiện nay cũng có
thể gọi là “du học sinh” và do đó là một tiềm năng đầy triển vọng trong việc xây
dựng nền kinh tế nước nhà sau này. Người ta không được phép quên rằng mỗi
người công nhân là một nhân vị có đầy đủ phẩm giá thiêng liêng, cao cả mà tạo
hóa đã ban cho họ, nên không bất cứ ai có quyền coi họ như những bộ phận
thuần túy kinh tế nhất là lợi dụng sức lao động của họ để trục lợi riêng. Trái lại,
các cơ quan và ban ngành liên quan có bổn phận phải săn sóc, chăm lo đời sống
cụ thể của người công nhân xuất khẩu về vật chất cũng như tinh thần, nhất là bảo
vệ và bênh vực cho họ trước sự đàn áp và bóc lột của các chủ nhân cũng như
những công chức thoái hóa của các nước sở tại. Được như vậy các ban ngành và
các giới chức liên quan mới tránh cho người công nhân xuất khẩu lao động cái
mặc cảm “một cổ hai tròng” và cảnh “làm tôi hai chủ”, chủ nhân của nước sở tại
và các giới chức Việt Nam phụ trách họ. Và có được như thế thì phong trào “xuất

động ở Việt Nam đã tiếp tục được giữ vững, ổn định các thị trường truyền thống,
mở thêm được các thị trường mới. Kết quả xuất khẩu lao động và chuyên gia cả
20
nước đạt 78.855 người, bằng 105,1% kế hoạch, vượt 12% so với năm 2005.
Riêng 9 tháng đầu năm 2007, cả nước đưa được 62760 lao động sang nước
ngoài, đạt 78.5% kế hoạch cả năm. Trong đó đông nhất là Malaysia với 21313
người, thứ hai là thị trường Đài Loan với 16554 người, tiếp đó là Hàn Quốc với
8536 người, Quatar 4350 người, Nhật Bản là 3047 người, Macao là 1631 người
và các thị trường khác là 7032 người. Nếu năm 1995 nước ta mới có 29vạn lao
động làm việc ở tại 15nước thì đến nay đạt gần 60vạn lao động làm việc ở trên
40nước và vùng lãnh thổ. Hiện nay, lao động Việt Nam đang làm việc chủ yếu ở
các thị trường: Malaysia trên 100.000 người, thu nhập bình quân 2-3triệu
đồng/tháng, một số nghề thu nhập 5-7triệu đồng/tháng; Đài Loan có trên 90.000
người thu nhập 300-500 USD/tháng; Hàn Quốc có trên 30.000 người, thu nhập
bình quân khoảng 900-1000 USD/tháng; Nhật Bản khoảng 19.000 tu nghiệp sinh
với thu nhập bình quân trên 1000USD/tháng. Ngoài ra, các tiểu vương quốc Ả
Rập thống nhất có khoảng 3000 lao động và tại Quatar co trên 7000 người.
Chúng ta đang bắt đầu đầu tư vào kế hoạch đưa lao động sang các thị trường mới
như Cộng hòa Sec, Úc, Bruney, Macao, Nga, Canada Hàng năm, số lao động
làm việc ở nước ngoài đã gửi về nước một lượng ngoại tệ khoảng 1.6 tỷ USD, đó
là con số khá đáng kể. Đặc biệt cho đến hết năm 2007, xuất khẩu lao động chúng
ta đã hoàn thành vượt mức kế hoạch là đã đưa được trên 85.000 lao động đi làm
việc có thời hạn ở nước ngoài, người lao động gửi về 1.7tỷ USD.
Mặt khác, các doanh nghiệp xuất khẩu lao động cũng không ngừng tăng
lên về cả số lượng và chất lượng. Theo thông tin từ Hiệp Hội Xuất khẩu lao động
Việt Nam (trang thông tin điện tử - Bộ lao động - Thương binh và xã hội ngày
20/2/2008), trong năm 2007, Hiệp hội biểu dương 19 doanh nghiệp có thành tích
xuất sắc trong việc đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài. Trong đó công ty AIC
đã xuất khẩu trên 5.000 lao động, còn lại các công ty khác đã đưa được hơn
1.000 lao động / năm như các công ty TRAENCO, công ty TTLC…Đạt được kết

tuyển chọn và đào tạo cho tu nghiệp sinh Việt Nam sang Nhật Bản theo Bản Ghi
nhớ giữa Bộ trưởng Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội và Chủ tịch IMM
Japan ngày 11/10/2005. Nhờ đó, trong năm đã đưa được 138 tu nghiệp sinh sang
Nhật Bản theo chương trình này, được phía bạn đánh giá cao, tạo cơ sở mở rộng
chương trình với quy mô và số lượng lớn hơn (riêng năm 2008, chỉ tiêu Nhật Bản
dành cho Việt Nam khoảng 350 tu nghiệp sinh). Ngoài ra, Trung tâm cũng tiếp
22
tục thực hiện việc tiếp nhận thẩm định và xác nhận cho gần 7000 lao động đi làm
việc tại Đài Loan theo hợp đồng thứ hai. Trung tâm cũng tiếp tục kiện toàn tổ
chức bộ máy; đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị đáp ứng yêu cầu công tác; tăng
cường phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng tuyên truyền sâu rộng đến
các cơ quan chức năng và người lao động về Chương trình EPS, cảnh báo kịp
thời những hành vi cò mồi, môi giới, lừa đảo người lao động. Năm 2008, Trung
tâm Lao động Ngoài nước sẽ tập trung thực hiện tốt công tác tuyển chọn lao
động; chú trọng công tác đào tạo, giáo dục định hướng nhằm nâng cao chất
lượng lao động và tu nghiệp sinh; đơn giản hoá thủ tục và rút ngắn thời gian chờ
xuất cảnh; phối hợp chặt chẽ với Ban Quản lý Lao động Việt Nam tại Hàn Quốc
để quản lý người lao động; đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, quản lý tài
chính, tăng cường công tác kiểm tra và kiện toàn tổ chức bộ máy. Những đóng
góp của trung tâm trong thời gian qua là rất đáng ghi nhận. Và để trung tâm ngày
một phát triển và có những đóng góp tích cực hơn nữa thì trong thời gian tới
trung tâm cần làm một số việc sau:
Thứ nhất, nghiên cứu, tham mưu đề xuất với Bộ về quy trình tuyển chọn
lao động đi làm việc tại Hàn Quốc bảo đảm công khai, minh bạch và hạn chế các
hành vi tiêu cực, trong đó có cơ chế tăng thêm chỉ tiêu đối với những tỉnh làm tốt,
giảm chỉ tiêu đối với những địa phương thực hiện không hiệu quả, chỉ trông chờ
vào chỉ tiêu đi làm việc tại Hàn Quốc mà không chú trọng tới các thị trường khác.
Thứ hai, phối hợp tốt với IMM Japan làm tốt chương trình đưa tu nghiệp
sinh sang Nhật Bản, trong đó cần chú trọng nâng cao trình độ tiếng Nhật cho
người lao động.

động hiện nay.
(Theo báo HÀ NỘI MỚI điện tử ngày 30/07/2006). Bộ LĐ-TB-XH, mục
tiêu đặt ra là đến năm 2010, nâng tỉ lệ lao động xuất khẩu có nghề lên mức tối
thiểu 75% trong tổng số lao động đưa đi hằng năm, trong đó lao động có trình độ
từ trung cấp nghề trở lên chiếm 40%; đến năm 2015, chủ yếu XKLĐ có nghề, lao
động có trình độ chuyên môn kỹ thuật và chuyên gia; 100% lao động xuất khẩu
được đào tạo ngoại ngữ, giáo dục định hướng. Bộ LĐ-TB-XH đã xây dựng xong
đề án nói trên và đang tiến hành các bước triển khai.
Tuy nhiên, theo các chuyên gia XKLĐ, các mục tiêu đề ra là rất khó hoàn
thành. Các số liệu cho biết từ năm 1998-2005, cả nước đưa được 360.959 lao
24
động đi làm việc ở nước ngoài (riêng 6 tháng đầu năm 2006 là 35.171 lao động),
trong đó 61.300 lao động có nghề chuyên môn, chiếm 27,5%. Điều đáng nói là
nếu như năm 1998, tuy số lượng lao động đi XKLĐ chỉ có 12.240 người, nhưng
tỉ lệ lao động có nghề chiếm tới 39,9%; trong khi năm 2003 tỉ lệ lao động có nghề
giảm 16.17% trong số 75.000 lao động được đưa đi. Riêng trong 2 năm 2004 và
2005, ước tỉ lệ lao động có nghề đi XKLĐ cũng chỉ chiếm khoảng dưới 20% trong
tổng số 140.000 lao động được đưa đi. Cái lo là XKLĐ chỉ mới tập trung giải
quyết việc làm trước mắt cho lao động nghèo, trình độ thấp, còn việc liên kết đào
tạo, chuẩn bị nguồn nhân lực có nghề cho XKLĐ thì chưa được chú trọng.
Chưa khai thác hết tiềm năng
Số lượng lao động được đưa đi làm việc ở nước ngoài của VN tăng đều
hằng năm (xem bảng). Trong 5 năm trở lại đây, bình quân mỗi năm cả nước có
trên 50.000 lao động đi XKLĐ, nguồn thu ngoại tệ tính theo thu nhập thực tế do
người lao động chuyển về nước đạt khoảng 1,5 tỉ USD/năm. Mặc dù đóng góp
không nhỏ cho tăng trưởng kinh tế và tạo việc làm xã hội, nhưng XKLĐ vẫn
chưa được xem là ngành kinh tế mũi nhọn. Nếu so với tiềm năng lao động dồi
dào với khoảng 25 triệu người ở độ tuổi từ 18 đến 35 thì XKLĐ của VN vẫn
chưa khai thác hết. Còn nếu nhìn sang các nước, VN vẫn còn thua xa về năng lực
XKLĐ. Philippines. Hiện có hơn 700 doanh nghiệp XKLĐ (trong khi VN chỉ có

khẩu lao động. Thực tế các trường dạy nghề khá nhiều nhưng phần lớn vẫn chưa
bắt bén được nhu cầu thị trường cả trong ngành nghề lẫn công nghệ. Nhiều học
viên học nghề xong không biết sử dụng những thiết bị hiện đại. Còn việc dạy
ngoại ngữ trong các trường dạy nghề hầu hết chưa đáp ứng được yêu cầu của xã
hội, các hoc viên học theo kiểu ứng phó “học cho có”,vì vậy học viên ra trường
không đủ trình độ ngoại ngữ để đi làm việc ở nước ngoài. Vì thế, từ trước đến
nay, phần lớn các doanh nghiệp xuất khẩu lao động đều tự tạo nguồn và tự đào
tạo lấy lao động. Tuy nhiên, các doanh nghiệp chủ yếu là đào tạo ngoại ngữ và
giáo dục định hướng. Doanh nghiệp nào có cơ sở dạy nghề thì chủ yếu dạy nghề
ngắn hạn. Số doanh nghiệp xuất khẩu lao động có trường dạy nghề rất ít, và cũng
không thể đào tạo được nhiều nghề để đáp ứng yêu cầu đa dạng về nghề của thị
trường lao động quốc tế. Ngoài ra, lao động khi có nguyện vọng đi làm việc ở
nước ngoài đều muốn đi băng con đường nhanh nhất, việc họ không đủ kiên trì
và kinh phí để theo học một lớp chính quy từ 12-24 tháng cũng là một nguyên
26

Trích đoạn 1 Giải pháp đối với cơ quan quản lý nhà nước 2 Giải pháp đối với doanh nghiệp XKLĐ 3 Giải pháp đối với ngườilao động
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status