Lời Cảm Ơn
Để hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp này, tôi xin bày tỏ lòng
cảm ơn sâu sắc đến quý thầy giáo trong Khoa Lý luận chính trị, bạn bè
và người thân đã đồng hành, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập tại
Trường Đại Học Khoa Học Huế. Đặc biệt, tôi xin trân trọng cảm ơn cô
giáo Th.S Nguyễn Thị Phương, người đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá
trình học tập và nghiên cứu khóa luận này.
Tôi cũng xin cám ơn thư viện Trường Đại học Khoa học, phòng tư
liệu Khoa Lý Luận chính trị đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành khóa
luận tốt nghiệp này.
Mặc dù đã cố gắng nhiều, nhưng do hạn chế về thời gian và điều
kiện nghiên cứu, nên không thể tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong sự
góp ý của quý thầy cô, bạn bè và những ai quan tâm để khóa luận của tôi
được hoàn thiện hơn.
Một lần nữa, xin chân thành cám ơn!
Huế, tháng 5/2014
Sinh viên thực hiện:
Trần Thị Mỹ Vân
MỤC LỤC
Lời Cảm Ơn 1
MỞ ĐẦU 1
- Công trình nghiên cứu của Nguyễn Thị Hiền (2008), “Lý luận mâu thuẫn và sự vận
dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945”. Tác giả đã khái quát một
cách logic về quy luật mâu thuẫn trong lịch sử triết học và đã vận dụng quy luật mâu
thuẫn vào việc xác định và giải quyết mâu thuẫn trong giai đoạn lịch sử của dân tộc từ
1930 – 1945 3
- “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam, lý luận và thực tiễn” (2002), Nhà xuất bản
Chính trị Quốc gia Hà Nội, của tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Thế Nghĩa, Đặng
Hữu Toàn. Các tác giả đã đi sâu phân tích đánh giá tính tất yếu của quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa; tập trung phân tích các nguồn lực cho tiến trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa; nêu lên mối quan hệ của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa với
1.1. Một số quan niệm về mâu thuẫn 6
1.1.1. Khái niệm “mâu thuẫn” 6
Mỗi sự vật, hiện tượng tồn tại đều là một thể thống nhất được tạo thành với các mặt, các
thuộc tính, các khuynh hướng, các thuộc tính phát triển ngược chiều nhau, đối lập nhau
chúng tạo thành các mâu thuẫn tồn tại trong sự vật, hiện tượng 6
Mâu thuẫn là hiện tượng có trong tất cả các lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy con
người. Trong hoạt động kinh tế hoạt động đó cũng mang tính phổ biến, chẳng hạn như
mâu thuẫn giữa cung - cầu, tích lũy - tiêu dùng, tính kế hoạch hóa của từng xí nghiệp,
công ty với tính tự phát vô Chính phủ của nền sản xuất hàng hóa. Mâu thuẫn tồn tại từ
khi sự vật xuất hiện cho đến khi sự vật kết thúc tồn tại của mình, trong mỗi sự vật mâu
thuẫn tồn tại không chỉ có một mà có nhiều mâu thuẫn và sự vật trong cùng một lúc có
nhiều mặt đối lập mâu thuẫn này mất đi thì mâu thuẫn khác lại hình thành 6
Khái niệm mâu thuẫn là để nói về tính hai mặt của tất cả các sự vật, hiện tượng: trong
âm có dương, trong tốt có xấu, như vậy mọi sự vật đều vận động theo hướng hài hòa.
Triết học phương Tây kết luận rằng mâu thuẫn là động lực của sự phát triển, bởi vì trong
mỗi sự vật đều có ít nhất hai mặt, hai lập trường, hai thế lực đối kháng, và các thế lực đó
sẽ tìm cách triệt tiêu nhau để chiếm lĩnh chủ thể, quá trình đó đẩy mâu thuẫn phát triển
đến đỉnh điểm và khi mâu thuẫn phát triển đến đỉnh điểm thì chủ thể sẽ biến đổi cả về
lượng và chất sang một hình thái mới. Còn triết học phương Đông thì cho rằng, các nhân
tố âm dương trong một chủ thể luôn vận động và biến đổi luân hồi, âm thịnh thì dương
suy, bĩ cực thái lai, như vậy là khai thác khía cạnh thời gian của việc phát sinh và giải
quyết mâu thuẫn chứ không nhìn vào khía cạnh biến đổi của chủ thể khi giải quyết mâu
thuẫn 6
1.1.2. Quan niệm trước triết học Mác về mâu thuẫn 7
Có thể nói, sự vận động và phát triển của mọi sự vật hiện tượng bao giờ cũng là sự thống
nhất giữa tính ổn định và tính thay đổi. Thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập
quy định tính ổn định và thay đổi của sự vật. Do vậy, mâu thuẫn chính là nguồn gốc của
sự vận động và phát triển. Vấn đề này sớm được các nhà triết học trước Mác quan tâm
nghiên cứu, và có những phỏng đoán thiên tài về sự tương tác giữa các mặt đối lập, xem
nó là nguyên nhân của sự hình thành, vận động và biến đổi của vũ trụ, vạn vật 7
thuẫn) là quy luật quan trọng nhất của phép biện chứng duy vật, là hạt nhân
của phép biện chứng duy vật. Vì nó vạch ra nguồn gốc động lực của sự vận
động, phát triển của thế giới khách quan và vì nó là chìa khóa, là cơ sở giúp
chúng ta nắm vững thực chất của tất cả các quy luật và phạm trù của phép
biện chứng duy vật. Mâu thuẫn là hiện tượng có trong tất cả các lĩnh vực: tự
nhiên, xã hội và tư duy của con người. Trong hoạt động kinh tế cũng mang
tính phổ biến, chẳng hạn như cung - cầu, tích lũy - tiêu dùng… Mâu thuẫn tồn
tại khi sự vật xuất hiện đến khi sự vật kết thúc. Trong mỗi sự vật, mâu thuẫn
hình thành không phải chỉ là một mà là nhiều mâu thuẫn, và sự vật trong cùng
một lúc có nhiều mặt đối lập thì mâu thuẫn này mất đi thì mâu thuẫn khác lại
hình thành… Cho nên nắm vững quan điểm macxit về mâu thuẫn sẽ giúp người
ta hình thành phương pháp, hình thành tư duy khoa học biết khám phá bản chất
của sự vật và giải quyết các mâu thuẫn nảy sinh, thúc đẩy sự vật phát triển.
Quy luật này có ý nghĩa rất quan trọng, nó cho ta chìa khóa để tìm hiểu
mọi sự vận động và phát triển, đi sâu vào bản chất của sự vật và hiện tượng.
Trong công tác thực tiễn, chúng ta cần tìm hiểu sự vật và hiện tượng bằng
2
phương pháp phân tích mâu thuẫn, đồng thời chuẩn bị điều kiện đầy đủ để
giải quyết mâu thuẫn. Mâu thuẫn mà không được giải quyết sẽ cản trở sự phát
triển của sự vật, hiện tượng.
Kinh tế thị trường là “của cải chung về sự phát triển của xã hội loài
người” nó luôn luôn là một vấn đề cần nghiên cứu về lý luận cũng như trong
thực tiễn trên phạm vi toàn thế giới. Quá trình vận động trong nền kinh tế thị
trường những năm gần đây đã khẳng định rằng việc lựa chọn mô hình kinh tế
thị trường có sự điều chỉnh của Nhà nước trong giai đoạn hiện nay là hoàn
toàn đúng đắn và hợp lý.
Ở nước ta hiện nay, sự ra đời của nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa ở Việt Nam gắn liền với công cuộc đổi mới do Đảng khởi
xướng và lãnh đạo. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là vấn đề
lý luận và thực tiễn hết sức mới mẻ và phức tạp. Nó thể hiện mối quan hệ chặt
công trình này ngoài việc làm rõ những nội dung cơ bản của quy luật còn gắn
với vấn đề thực tiễn nào đó, một địa phương nào đó, hoặc với một giai đoạn
lịch sử nhất định.
Với những mảng đề tài như:
- Công trình nghiên cứu của Nguyễn Thị Hiền (2008), “Lý luận mâu
thuẫn và sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945”.
Tác giả đã khái quát một cách logic về quy luật mâu thuẫn trong lịch sử triết
học và đã vận dụng quy luật mâu thuẫn vào việc xác định và giải quyết mâu
thuẫn trong giai đoạn lịch sử của dân tộc từ 1930 – 1945.
- “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam, lý luận và thực tiễn”
(2002), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội, của tác giả Nguyễn Trọng
Chuẩn, Nguyễn Thế Nghĩa, Đặng Hữu Toàn. Các tác giả đã đi sâu phân tích
đánh giá tính tất yếu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa; tập trung
phân tích các nguồn lực cho tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa; nêu lên
4
mối quan hệ của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa với vấn đề xây dựng
và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa… Từ đó tác
giả định hình được mô hình của tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở
nước ta hiện nay.
- Đề tài “Quy luật mâu thuẫn trong lịch sử triết học và sự vận dụng vào
công tác tuyên truyền ở Thừa Thiên Huế” (2002) của tác giả Nguyễn Thái
Sơn. Tác giả đã khái quát sơ lược về quy luật mâu thuẫn trong lịch sử triết
học và từ đó vận dụng vào công tác tuyên truyền ở Thừa Thiên Huế…
- “Về mâu thuẫn cơ bản, mâu thuẫn chủ yếu và cách giải quyết trên con
đường phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa” của GS.TS
Phạm Ngọc Quang. Tác giả đã khái quát được những mâu thuẫn cơ bản và
những mâu thuẫn chủ yếu của nước ta. Trên cơ sở đó tác giả đề xuất một số
giải pháp giải quyết các mâu thuẫn đó phù hợp với thực tế phát triển đất nước
và xu thế của thời đại.
- “Mâu thuẫn một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của Nguyễn Tấn
duy vật, kết hợp với các phương pháp cụ thể như phân tích, tổng hợp, logic-
lịch sử,… để làm sáng tỏ các vấn đề mà nhiệm vụ nghiên cứu đề tài đặt ra.
6. Đóng góp của khoá luận
Khoá luận góp phần làm rõ lý luận của Triết học Mác – Lênin về mâu
thuẫn, đồng thời chỉ ra một số mâu thuẫn trong việc xây dựng nền kinh tế thị
trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Đồng thời khóa luận còn đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.
7. Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm có 2 chương và 6 tiết.
6
NỘI DUNG
Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUY LUẬT MÂU THUẪN
TRONG TRIẾT HỌC MÁC- LÊNIN
1.1. Một số quan niệm về mâu thuẫn
1.1.1. Khái niệm “mâu thuẫn”
Mỗi sự vật, hiện tượng tồn tại đều là một thể thống nhất được tạo thành
với các mặt, các thuộc tính, các khuynh hướng, các thuộc tính phát triển
ngược chiều nhau, đối lập nhau chúng tạo thành các mâu thuẫn tồn tại trong
sự vật, hiện tượng.
Mâu thuẫn là hiện tượng có trong tất cả các lĩnh vực tự nhiên, xã hội và
tư duy con người. Trong hoạt động kinh tế hoạt động đó cũng mang tính phổ
biến, chẳng hạn như mâu thuẫn giữa cung - cầu, tích lũy - tiêu dùng, tính kế
hoạch hóa của từng xí nghiệp, công ty với tính tự phát vô Chính phủ của nền
sản xuất hàng hóa. Mâu thuẫn tồn tại từ khi sự vật xuất hiện cho đến khi sự
vật kết thúc tồn tại của mình, trong mỗi sự vật mâu thuẫn tồn tại không chỉ có
một mà có nhiều mâu thuẫn và sự vật trong cùng một lúc có nhiều mặt đối lập
mâu thuẫn này mất đi thì mâu thuẫn khác lại hình thành.
Khái niệm mâu thuẫn là để nói về tính hai mặt của tất cả các sự vật, hiện
tượng: trong âm có dương, trong tốt có xấu, như vậy mọi sự vật đều vận động
Như vậy, chúng ta nên hiểu rằng mâu thuẫn là đương nhiên tồn tại và là
tốt chứ không phải xấu, vì nó giúp cho sự phát triển.
1.1.2. Quan niệm trước triết học Mác về mâu thuẫn
Có thể nói, sự vận động và phát triển của mọi sự vật hiện tượng bao giờ
cũng là sự thống nhất giữa tính ổn định và tính thay đổi. Thống nhất và đấu
tranh giữa các mặt đối lập quy định tính ổn định và thay đổi của sự vật. Do
8
vậy, mâu thuẫn chính là nguồn gốc của sự vận động và phát triển. Vấn đề này
sớm được các nhà triết học trước Mác quan tâm nghiên cứu, và có những
phỏng đoán thiên tài về sự tương tác giữa các mặt đối lập, xem nó là nguyên
nhân của sự hình thành, vận động và biến đổi của vũ trụ, vạn vật.
Những nhận định ban đầu của các nhà triết học Trung Quốc cổ đại, tuy
mới dừng lại ở phỏng đoán, cảm tính của các triết gia thuộc trường phái Âm
Dương – Ngũ Hành về bản chất của sự vật, hiện tượng nhưng phần nào đã
biểu lộ thế giới quan duy vật, không chỉ thừa nhận sự tồn tại khách quan của sự
vật, hiện tượng mà còn khẳng định các sự vật, hiện tượng vận động và phát triển
là do chính sự tác động của các yếu tố đối lập chứa đựng trong bản thân chúng.
Thuyết Âm Dương - Ngũ Hành là một trong chín trường phái triết học
của Trung Quốc thời cổ đại. Thuyết Âm Dương - Ngũ Hành là thuyết thể hiện
quan niệm duy vật chất phác về tự nhiên, và ở đó cũng thể hiện tư tưởng biện
chứng sơ khai về tự nhiên, con người và xã hội của người Trung Quốc thời cổ
đại. Nó giải thích nguồn gốc của quá trình biến hóa của vạn vật. Các triết gia
trong trường phái này cho rằng thế giới các hiện tượng và sự vật vẫn chứa
đựng hai yếu tố vừa đối lập nhau, vừa thống nhất với nhau, vừa bao hàm
tương tác lẫn nhau. Âm - Dương là hai thế lực đối chọi nhau nhưng lại thống
nhất với nhau trong vạn vật, là khởi nguyên của mọi sinh thành biến hóa. Âm
- Dương không phải là hủy thể của nhau mà là điều kiện tồn tại của nhau,
động lực của mọi vận động, phát triển.
Các triết gia thuộc trường phái này cho rằng, hai mặt đối lập vốn tồn tại
trong tất cả các sự vật, hiện tượng, từ cái nhỏ nhất đến cái lớn nhất, từ cái đơn
quan, do địa vị giai cấp của mình nên các triết gia đã không thoát khỏi lập
trường duy tâm trong việc giải thích về sự vận động và biến đổi của lịch sử xã
hội, đã làm mất đi tính duy vật, làm nghèo đi tính biện chứng ban đầu của nó.
Tuy có thừa nhận mâu thuẫn và tính phổ biến của nó song lại chủ trương điều
hòa mâu thuẫn.
10
Các hệ thống triết học Ấn Độ đã thừa nhận thế giới vũ trụ vạn vật luôn
luôn vận động, phát triển và biến đổi không ngừng. Trong triết học Phật giáo,
thế giới tự nhiên và nhân sinh đều được nhìn nhận qua sự phân tích nhân quả.
Nhân quả là một chuỗi liên tục không gián đoạn và không hỗn loạn, một kết
quả của một nguyên nhân nào đó sẽ là nguyên nhân của một kết quả khác.
Triết học Phật giáo đã tìm thấy sự đối lập của các mặt trong sự đồng nhất của
chúng, vạch ra được những mâu thuẫn nội tại của chúng như bản thể tuyệt đối
trong thế giới hiện tượng, ý thức và vô thức, niết bàn và vô minh. Họ cho rằng
thế giới vũ trụ không phải là cái gì đó thuần nhất, đơn giản mà là bao trùm
trong đó hai mặt đối lập vừa bất biến vừa biến đổi, vừa đứng im vừa vận
động, vừa trong trạng thái thăng bằng, ổn định, vừa trong trạng thái không
cân bằng, không ổn định. Các trường phái này đều xem xét các yếu tố khởi
nguyên của thế giới là bất biến, tồn tại vĩnh viễn còn các sự vật hiện tượng cụ
thể thì biến đổi, chuyển hóa không ngừng.
Triết học Hy Lạp cổ đại ra đời từ xã hội chiếm hữu nô lệ với những mâu
thuẫn gay gắt giữa tầng lớp chủ nô dân chủ và chủ nô quý tộc. Triết học Hy
Lạp cổ đại là triết học của giai cấp chủ nô, cho nên nó mang tính đảng, tính
giai cấp sâu sắc. Điều này thể hiện ở cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và
chủ nghĩa duy tâm; giữa phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình.
Một trong những đặc trưng quan trọng của triết học Hy Lạp cổ đại là
những mối liên hệ của nó với thần thoại và các hình thức sinh hoạt tôn giáo
nguyên thủy. Từ đó phép biện chứng mang tính nhân hình trong truyện thần
thoại, mọi hình thức và dạng cơ bản tư tưởng biện chứng được phác họa rõ
nét trong lịch sử phát triển của phép biện chứng cổ đại. “Theo nghĩa đen, phép
“dòng chảy” liên tục của vạn vật thông qua sự đấu tranh hài hòa của các mặt
đối lập, logos vũ trụ chính là chân lý, là tri thức khách quan về vạn vật trong
quá trình thường xuyên, liên tục “trôi đi, chảy đi theo dòng chảy của chúng”.
12
Tuy Hêraclit đã cố thể hiện bản chất mâu thuẫn của các sự vật trong logos chủ
quan, song đã gặp trở ngại về vấn đề khả năng phản ánh bản chất mâu thuẫn
của các sự vật, kể cả bản chất mâu thuẫn vận động vào logos của khái niệm.
Đóng góp cho nền triết học Hy Lạp còn phải kể đến Đêmôcrit với
khuynh hướng nguyên tử luận. Trong các công trình của mình tư tưởng của
ông phản ánh về mâu thuẫn, về sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối
lập, đó là sự thống nhất giữa linh hồn và thể xác, giữa tập hợp và phân tán
trong quá trình vận động của nguyên tử. Ông diễn tả sự vận động của thế giới
vật chất như là một quá trình vĩnh viễn, vô tận từ thấp đến cao, từ đơn giản
đến phức tạp, vận động là thuộc tính của các nguyên tử, “các nguyên tử bản
chất là bất động, đã vận động được là nhờ va chạm”.
Như vậy, trong quan niệm về mâu thuẫn, triết học Hy Lạp cổ đại chỉ
dừng lại ở giới hạn nêu vấn đề. Nhiều nhà triết học đã nhận thức được sự tồn
tại của các mặt đối lập trong sự vật, hiện tượng. Thừa nhận có mâu thuẫn, có
các mặt đối lập nhưng chỉ là những phỏng đoán thiên tài, chưa được chứng
minh một cách khoa học, cũng như chưa được nghiên cứu một cách tự giác.
Tuy nhiên những quan niệm về mâu thuẫn của các nhà triết học Hy Lạp cổ đại
là mầm mống cho sự phát triển của các quan niệm sau này, đặc biệt là quan
niệm của triết học Mác.
Đỉnh cao của triết học phương Tây là triết học cổ điển Đức, đây được
xem là giai đoạn phát triển mới về chất trong lịch sử tư tưởng phương Tây,
đồng thời có ảnh hưởng to lớn đến triết học hiện đại. Trong triết học cổ điển
Đức, phép biện chứng đã trở thành một lý luận được xây dựng một cách có hệ
thống. Hêghen là đại biểu xuất sắc nhất của nền triết học cổ điển Đức. Theo
nhận xét của Ănghen: “Hêghen không chỉ là một thiên tài sáng tạo, mà còn
là nhà triết học có tri thức bách khoa, nên những phát biểu của ông tạo
thế dẫn đến kết cục hệ thống triết học của ông mâu thuẫn với phép biện chứng
14
của ông. C.Mác và Ph.Ănghen đã phê phán một cách triệt để các hạn chế
trong triết học Hêghen, đồng thời hai ông đã tiếp nhận “hạt nhân hợp lý” của
phép biện chứng của Hêghen - học thuyết phát triển thông qua mâu thuẫn để
xây dựng và phát triển học thuyết về phép biện chứng duy vật của mình.
Cantơ là một trong những nhà triết học vĩ đại nhất của lịch sử tư tưởng
phương Tây trước Mác. Cantơ với học thuyết về mâu thuẫn cũng đã góp phần
quan trọng trong sự phát triển phép biện chứng với tư cách là logic và phương
pháp luận. Ông cho rằng lý tính con người có khát vọng xâm nhập vào lĩnh
vực “vật tự nó” để đạt tới tri thức tuyệt đối vượt ra ngoài giới hạn của kinh
nghiệm cảm tính. Điều đó nảy sinh những mâu thuẫn (antinômia). Cantơ nêu
lên bốn mâu thuẫn, mỗi mâu thuẫn được cấu tạo từ hai luận đề đối lập nhau.
Cantơ có đóng góp cho phép biện chứng là ông xem mâu thuẫn là thuộc về
bản chất, cái tính quy định của tư duy. Việc tìm ra các atinômia - mâu thuẫn
của Cantơ được xem là một thành tựu quan trọng của nhận thức triết học, bởi
vì bằng điều đó vận động biện chứng của tư duy được đề cao. Tuy vậy, Cantơ
cũng đã bộc lộ những hạn chế: ông mới chỉ thừa nhận mâu thuẫn trong tư
tưởng, trong lý tính con người, chưa nhìn thấy được mâu thuẫn có trong toàn
bộ đời sống hiện thực khách quan. Cantơ cũng mới dừng lại ở việc phân tích
các mặt đối lập để kết luận đúng sai, chứ chưa đề xuất các giải pháp để giải
quyết mâu thuẫn, và vì thế chưa thấy động lực của việc nảy sinh và giải quyết
mâu thuẫn. Trên thực tế tất cả các sự vật, hiện tượng đều chứa đựng mâu
thuẫn nhưng ở Cantơ - ông đã hạn chế số lượng các Antinômia - mâu thuẫn.
Triết học cổ điển Đức dù chỉ trải qua một giai đoạn lịch sử tương đối
ngắn nhưng nó đã tạo ra những thành quả kỳ diệu trong lịch sử triết học. Mác
đã kế thừa những tư tưởng biện chứng, nâng lên ở trình độ mới của chủ nghĩa
duy vật hiện đại.
15
1.1.3. Quan niệm về mâu thuẫn trong triết học Mác - Lênin
mâu thuẫn với tư cách là nguồn gốc động lực của vận động và phát triển trong
giới tự nhiên, xã hội và tư duy.
C.Mác và Ph.Ănghen trong khi xây dựng phép biện chứng duy vật khoa
học triết học về sự phát triển phổ biến và tính quy luật của việc cải tạo cách
mạng thế giới đã luôn dựa vào thước đo là thực tiễn, đã tiến hành trên lập
trường chính đảng vô sản, một cuộc đấu tranh không mệt mỏi và triệt để với
hệ tư tưởng tư sản và tiểu tư sản. Phép biện chứng đã gạt bỏ sự thỏa hiệp với
hệ tư tưởng của giai cấp thống trị. Thực ra chỉ đứng trên lập trường của giai
cấp vô sản, giai cấp mang sứ mệnh phá vỡ xã hội cũ bóc lột, xây dựng xã hội
mới cộng sản chủ nghĩa mới có khả năng xây dựng thế giới khoa học triết
học duy vật biện chứng.
Triết học Mác đã quan niệm về mâu thuẫn với tư cách là nguồn gốc động
lực của vận động và phát triển trong giới tự nhiên, xã hội và tư duy.
C.Mác và Ph.Ănghen trong khi xây dựng phép biện chứng duy vật khoa
học triết học về sự phát triển phổ biến và tính quy luật của việc cải tạo cách
mạng thế giới đã luôn dựa vào thước đo là thực tiễn, đã tiến hành trên lập
trường chính đảng vô sản, một cuộc đấu tranh không mệt mỏi và triệt để với
hệ tư tưởng tư sản và tiểu tư sản. Phép biện chứng đã gạt bỏ sự thỏa hiệp với
hệ tư tưởng của giai cấp thống trị. C.Mác đã phân tích trước hết cái đơn giản
nhất, quen thuộc nhất, thông thường nhất, cái thường gặp, mối quan hệ của xã
hội tư sản: sự trao đổi hàng hóa. Sự phân tích, phát hiện trong cái hiện tượng
đơn giản ấy mầm mống của tất cả những mâu thuẫn của xã hội hiện đại.
C.Mác đã nghiên cứu các hiện tượng kinh tế trong mối liên hệ lẫn nhau và
17
trong trạng thái vận động, tức là trong tình trạng mâu thuẫn luôn luôn phát
sinh và được giải quyết. Hàng hóa đã được xem xét như là tế bào kinh tế của
xã hội tư sản, tức không xem nó một cách biệt lập mà xem đó là điểm xuất
phát của một chỉnh thể. Đồng thời nghiên cứu mâu thuẫn của hàng hóa, mâu
thuẫn giữa giá trị và giá trị sử dụng, trong trao đổi giá trị chuyển từ mâu thuẫn
bên trong thành mâu thuẫn bên ngoài, thành mâu thuẫn giữa hình thái giá trị
Lênin đã nghiên cứu học thuyết macxit về mâu thuẫn, tiếp tục phát triển
những quan điểm của Mác - Ănghen về mâu thuẫn phù hợp với hoàn cảnh
mới của thời đại.
Mác đã chỉ ra rằng, mâu thuẫn cơ bản của xã hội tư sản là mâu thuẫn đối
kháng giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản. Mác và Ănghen đã khẳng định
vai trò đấu tranh của các mặt đối lập, xem cuộc đấu tranh giai cấp giữa giai
cấp vô sản và giai cấp tư sản là một động lực quan trọng để xóa bỏ chế độ tư
bản chủ nghĩa, hình thành nên chế độ cộng sản chủ nghĩa. Như vậy đấu tranh
giai cấp mà đỉnh cao là thời kỳ cách mạng được xem như là đòn bẩy để thay
đổi hình thái kinh tế xã hội. Do đó, đấu tranh giai cấp là động lực trực tiếp của
lịch sử xã hội có giai cấp.
Lênin đã phát triển và cụ thể hóa những tư tưởng của Mác. Lênin chỉ ra
rằng sự xuất hiện của chủ nghĩa đế quốc đã dẫn đến chỗ làm xuất hiện hàng
loạt hiện tượng lịch sử và điều kiện về nguyên tắc của xã hội chế độ tư bản có
mâu thuẫn cơ bản của nó là sự đối kháng giữa giai cấp tư sản và vô sản. Lênin
khẳng định, biện chứng của sự phát triển xã hội trong thời đại đế quốc chủ
nghĩa đã làm nổi lên hai hình thức cơ bản của các mâu thuẫn xã hội. Các mâu
thuẫn đối kháng đã tồn tại trong các hình thái có giai cấp trước chủ nghĩa xã
hội. Chúng có đặc điểm đó là tính thống nhất của các mặt đối lập về kinh tế,
chính trị, tâm lý xã hội và tư tưởng. Trong dạng mâu thuẫn này, một bên là
bảo thủ, phản động, và cố kìm hãm việc giải quyết nó, với một bên là tiến bộ
19
cách mạng, đang làm cho mâu thuẫn này phát triển cao, đó là mâu thuẫn giữa
lao động và tư bản, ngoài ra còn có mâu thuẫn giữa chủ nghĩa đế quốc và
cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc bị áp bức. Phương thức giải quyết mâu
thuẫn đối kháng này là đấu tranh giai cấp mà hình thức cao nhất của nó là
cách mạng xã hội.
Lênin cho rằng trong thời đại đế quốc sẽ xuất hiện một số dạng mâu
thuẫn mới. Một trong những dạng ấy là mâu thuẫn trong nội bộ bản thân giai
cấp các nhà tư bản, giữa các tổ chức độc quyền riêng rẻ, các liên minh của các
nhất định của nó.
Lênin cũng đã đưa ra định nghĩa về mâu thuẫn cơ bản, đó là mâu thuẫn
thể hiện chính bản chất của một hiện tượng nào đó, của một quá trình nào đó
và có ảnh hưởng quyết định tới tất cả những mâu thuẫn khác.
Trong học thuyết mácxít về mâu thuẫn, Lênin cũng đã cụ thể hóa cả vấn
đề tác động qua lại giữa mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài. Lênin
nhấn mạnh sự cần thiết phải tính đến sự tác động qua lại của mâu thuẫn bên
trong và mâu thuẫn bên ngoài nhằm đánh giá đúng đắn vai trò của mâu thuẫn
này hay mâu thuẫn khác trong sự phát triển của các hiện tượng và quá trình.
Lênin đã phát hiện ra và luận chứng một cách toàn diện tính quy luật của
bước quá độ từ chủ nghĩa tư bản sang chủ nghĩa xã hội với tính cách là một sự
phát triển lịch sử từ những mâu thuẫn đối kháng sang mâu thuẫn không đối
kháng. Lênin đã phân tích tất cả các hình thức và các dạng mâu thuẫn trong
thời kỳ quá độ.
Quy luật mâu thuẫn vạch ra nguồn gốc, động lực của sự vận động, phát
triển của bản thân sự vật, hiện tượng; phản ánh quá trình đấu tranh giải quyết
mâu thuẫn bên trong sự vật.
Với tư cách là người kế tục và bảo vệ sự nghiệp của C.Mác và
Ph.Ănghen, V.I.Lênin đã phát triển học thuyết về mâu thuẫn lên một tầm cao