Học thuyết hình thái kinh tế xã hội của triết học Mác – Lênin và sự vận dụng học thuyết hình thái kinh tế xã hội vào sự phát triển kinh tế xã hội tại xã Hòa Châu, huyện Hòa Vang, Thành phố Đà Nẵng giai đoạn 20112013 - Pdf 16

ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của triết học
Mác – Lênin và sự vận dụng học thuyết hình thái kinh
tế - xã hội vào sự phát triển kinh tế - xã hội tại xã Hòa
Châu, huyện Hòa Vang, Thành phố Đà Nẵng giai đoạn
2011-2013
Huế, tháng 5 năm 2014
Giảng viên hướng dẫn
ThS. Phan Doãn Việt
Sinh viên thực hiện
Võ Thị Nhứt
Lớp: Triết K34
1
Lời Cảm Ơn
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, em xin gửi
lời cảm ơn sâu sắc đến Trường Đại học Khoa học, Khoa
Lý luận Chính trị, đặc biệt là giảng viên - Thạc sĩ Thái
Thị Khương đã nhiệt tình hướng dẫn giúp em hoàn
thành khóa luận tốt nghiệp này.
Tuy đã cố gắng rất nhiều song khóa luận chắc chắc
còn nhiều thiếu sót, rất mong quý thầy cô xem xét và
góp ý để cho khóa luận tốt nghiệp được hoàn thiện hơn.
Huế, tháng 05 năm 2014
Sinh viên thực hiện
Võ Thị Nhứt
MỤC LỤC
A. PHẦN MỞ ĐẦU 4

tự nhiên 41
CHƯƠNG 2 45
3
Ý NGHĨA VÀ SỰ VẬN DỤNG HỌC THUYẾT HÌNH THÁI KINH TẾ -
XÃ HỘI CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN VÀO SỰ PHÁT TRIỂN KINH
TẾ - XÃ HỘI TẠI XÃ HÒA CHÂU, HUYỆN HÒA VANG, THÀNH PHỐ
ĐÀ NẴNG GIAI ĐOẠN 2011 – 2013 45
2.1. Ý nghĩa và giá trị của học thuyết hình thái kinh tế - xã hội 45
2.2. Đôi nét về tình hình phát triển kinh tế - xã hội tại xã Hòa Châu, huyện
Hòa Vang, Thành phố Đà Nẵng 47
2.3. Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội tại xã Hòa Châu, huyện Hòa
Vang, Thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2011 – 2013 50
2.4. Nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu 56
2.4.1. Kinh tế 56
2.4.2. Về xã hội 57
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Học thuyết Mác về hình thái kinh tế - xã hội được hình thành, phát triển bắt
nguồn từ những tư tưởng triết học về lịch sử trước đó của loài người. Từ lịch sử
xa xưa, trải qua bao thời gian đến nay dù ở thời đại nào, xã hội nào thì hình thái
kinh tế - xã hội cũng luôn tồn tại và phát triển hoặc tụt lùi theo sự phát triển của
xã hội đó. Để biết được một đất nước nào đó lớn mạnh và phát triển hoặc ngược
lại ta hãy nhìn vào hình thái kinh tế - xã hội của nước đó. Nói đến hình thái kinh
tế - xã hội là ta phải nói đến một chỉnh thể cơ cấu phức tạp chứ không thể nói
đến những thứ riêng lẽ được, nó phải đan xen nhau, có quan hệ không thể tách
rời nhau được và chính mặt toàn vẹn này thì ta mới có được một hình thái kinh
tế - xã hội cần có và phải có. Hình thái kinh tế - xã hội vạch rõ kết cấu cơ bản,
phổ biến của mọi xã hội, quy luật vận động và phát triển của xã hội.
Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội là biểu hiện tâp trung của quan niệm
duy vật về lịch sử. Đó là một hình thái có hệ thống, có cơ sở khoa học nhất từ

Những vấn đề bức xúc mang tính toàn cầu như sự phát triển khoa học công
nghệ, chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, tôn giáo, tranh chấp lãnh thổ, ô
nhiễm môi trường,… đòi hỏi mỗi quốc gia và các tổ chức quốc tế phối hợp cùng
5
nhau giải quyết. Điều đó, đặt ra những vấn đề có tính cấp bách cả về lý luận và
thực tiễn của việc nghiên cứu hình thái kinh tế - xã hội. Là một sinh viên chuyên
ngành lí luận chính trị được trao cho mình một hệ tư tưởng tiến bộ nhất, khoa
học nhất và cách mạng nhất thì việc lựa chọn lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin
nhất là học thuyết hình thái kinh tế - xã hội và vận dụng nó vào thực tiễn Việt
Nam nói chung hay thực tiễn tại một điạ phương như xã Hòa Châu nói riêng là
một việc làm rất cần thiết nhằm nâng cao trình độ hiểu biết của bản thân.
Với những lí do trên Tôi chọn đề tài “ Học thuyết hình thái kinh tế - xã
hội của triết học Mác – Lênin và sự vận dụng học thuyết hình thái kinh tế -
xã hội vào sự phát triển kinh tế - xã hội tại xã Hòa Châu, huyện Hòa Vang,
Thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2011-2013” làm đề tài tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội – một phát kiến vĩ đại của C.Mác về
tiến trình phát triển của lịch sử xã hội loài người, đặc biệt là sự vận dụng học
thuyết đó vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Ở nước ta được nhiều nhà lý
luận, nhiều nhà khoa học nghiên cứu. Mỗi tác giả đều có một cách xem xét, đề
cập, đánh giá khác nhau nhưng nhìn chung các đề tài nghiên cứu đều đặt trong
hệ thống nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật nói chung và các quy luật của chủ
nghĩa duy vật lịch sử nói riêng.
Chủ đề học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của triết học Mác – Lênin là đề
tài được rất được nhiều nhà nghiên cứu Mácxit quan tâm và cũng đã không ít
công trình được công bố. Đặc biệt, trong những năm gần đây có rất nhiều công
trình nghiên cứu khoa học khá công phu đề cập đến vấn đề này nhưng dưới
nhiều góc độ khác nhau. Ở đây, có thể nêu lên một số công trình tiêu biểu như:
- TS. Phạm Văn Chung, “ Học thuyết kinh tế - xã hội và lý luận về con
đường phát triển xã hội chủ nghĩa ở nước ta”.

Mục đích nghiên cứu của đề tài là trình bày một cách tổng quát lịch sử hình
thành cũng như nội dung và ý nghĩa của học thuyết hình thái kinh tế - xã hội.
Trên cơ sở nội dung của học thuyết hình thái kinh tế - xã hội, vạch ra cơ sở lý
luận khoa học và cách mạng trong việc vận dụng cụ thể tình hình phát triển kinh
tế - xã hội tại Xã Hòa Châu, từ đó đề ra những phương hướng, nhiệm vụ phát
triển trong tình hình mới.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, đề tài có nhiệm vụ:
- Phân tích làm sáng tỏ cơ sở lí luận, phương pháp luận, nội dung và ý
nghĩa của học thuyết hình thái kinh tế - xã hội.
- Tìm hiểu thực trạng phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương
7
- Đề ra những phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong
tình hình mới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
- Phân tích, chứng minh và đánh giá giá trị của học thuyết hình thái kinh tế
- xã hội dưới góc độ triết học Mác – Lênin
- Quá trình vận dụng học thuyết hình thái kinh tế - xã hội vào sự phát triển
kinh tế - xã hội tại Xã Hòa Châu, Huyện Hòa Vang, Thành phố Đà Nẵng.
Phạm vi nghiên cứu đề tài : Tình hình phát triển kinh tế - xã hội tại Xã
Hòa Châu, Huyện Hòa Vang, Thành phố Đà Nẵng.
5. Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lí luận
Đề tài được dựa trên cơ sở những nguyên lí, những quan điểm cơ bản của
chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác –
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
Phương pháp nghiên cứu
- Phép biện chứng duy vật với những nguyên tắc khách quan, toàn diện,
lịch sử - cụ thể là phương pháp xuyên suốt đề tài.

sống xã hội và bắt đầu từ đó việc nhận thức dựa trên một nền tảng thế giới quan
mới – thế giới quan duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Thế giới quan khoa
học của C.Mác không chỉ cho phép chúng ta phân tích các sự kiện vô cùng phức
tạp của xã hội đương đại, mà còn có khả năng nhìn vào chiều sâu lịch sử quá
khứ đồng thời cũng có cơ sở dự báo cho một xã hội tương lai.
Trong tác phẩm Các Mác, trước khi trình bày “Quan niệm duy vật lịch sử”
của C.Mác, Lênin đã trình bày “Chủ nghĩa duy vật triết học” và “Phép biện
chứng” như là những học thuyết triết học độc lập của C.Mác so với quan niệm
ấy. Lênin viết: “Nhận thấy chủ nghĩa duy vật cũ là không triệt để, chưa hoàn
toàn bị và phiến diện nên Mác cho là cần phải làm cho khoa học – xã hội phù
hợp với cơ sở duy vật, và dựa vào cơ sở đó để cải tạo khoa học ấy [24;66]. Điều
đó chứng tỏ rằng những học thuyết triết học ấy là cơ sở lí luận và phương pháp
luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử và đương nhiên là của học thuyết hình thái
kinh tế - xã hội. Học thuyết Mác về hình thái kinh tế - xã hội ra đời nhằm đáp
ứng yêu cầu khách quan của thực tiễn và nhận thức đương thời, là chứng tỏ lịch
sử xã hội loài người nói chung là quá trình phát triển có quy luật. Vì vậy, vấn đề
9
đặt ra phải tìm hiểu phép biện chứng duy vật và vận dụng phép biện chứng đó
như thế nào để có thể nhận thức khoa học quá trình phát triển xã hội loài người
nói chung.
Theo Lênin, Mác – Ăngghen coi phép biện chứng của Hêghen là “học
thuyết toàn diện nhất, phong phú nhất, sâu sắc nhất về sự phát triển” [12;63].
Ông giải thích rõ hơn: “Đối với hai ông thì diễn đạt về nguyên lý về sự phát
triển, nguyên lý về sự tiến hóa bằng bất cứ giá nào khác (với cách Hêghen đã
thực hiện) đều là phiến diện, nghèo nàn, bóp méo và cắt xén quá trình thực tế
của sự phát triển (thường có những bước nhảy vọt, những đột biến, những cuộc
cách mạng) trong tự nhiên và xã hội” [12;63].
Từ những luận điểm vừa nêu cho thấy rõ hai điểm thể hiện bản chất lý luận
của phép biện chứng duy vật đó là nội dung cơ bản của phép biện chứng duy vật
là học thuyết về sự phát triển với những đặc điểm nổi bật: toàn diện nhất, phong

chính trị học một cách tuyêt vời. Trong “lời nói đầu” tác phẩm các bản thảo kinh
tế những năm 1857 – 1859 Mác viết “cái cụ thể sở dĩ là cụ thể vì nó là sự tổng
hợp của nhiều tính qui định, do đó nó là sự thống nhất của cái đa dạng” [16;36].
Với phương pháp từ trừu tượng đến cụ thể đòi hỏi phải vận dụng một cách
tổng hợp những khái niệm, phạm trù, quy luật của phép biện chứng duy vật mới
có thể hiểu được sự vật trong chỉnh thể, sự vật mới có thể tái hiện với tư cách cái
cụ thể trong tư duy. Do đó, yếu tố cơ bản của phương pháp này chính là quan
điểm hay phương pháp tổng hợp và yêu cầu cơ bản của nó là tìm ra được những
yếu tố hoặc liên hệ cơ bản của đối tượng, để từ đó tiến lên nắm đối tượng trong
hệ thống, trong chỉnh thể. Đây chính là một trong những yếu tố cơ bản của phép
biện chứng duy vật, nó kết tinh, “tóm tắt” nội dung cơ bản của phép biện chứng
ấy.
Khi coi phép biện chứng duy vật là cơ sở lý luận và phương pháp luận của
quan niệm duy vật lịch sử nói chung, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã không
tách rời phép biện chứng khỏi chủ nghĩa duy vậy. Đây là điểm khác biệt với các
nhà triết học trước đó như Hêghen chẳng hạn “mặc dù phép biện chứng đã có
hình thức trình bày tuyệt vời trong hệ thống triết học của mình, nhưng hình thức
ấy chỉ thực sự trở nên có giá trị khi được C.Mác và Ăngghen cứu vớt, tức là đặt
nó trên cơ sở duy vật khoa học”[12;63]. Do vậy, khi nói đến ý nghĩa của phép
biện chứng trong vai trò là cơ sở lý luận và phương pháp của học thuyết hình
11
thái kinh tế - xã hội không thể không nói đến ý nghĩa của chủ nghĩa duy vật đã
đặt ra cơ sở khoa học cho phép biện chứng hay nói cách khác thực chất của phép
biện chứng duy vật và sự thống nhất chặt chẽ bên trong của chủ nghĩa duy vật về
phép biện chứng. Vấn đề này đã được chứng minh trong toàn bộ lịch sử của chủ
nghĩa C.Mác.
Như vậy, thực chất của chủ nghĩa duy vật của C.Mác là gì?
Đó chính là ở chỗ nó đã giải quyết một cách duy vật khoa học vấn đề cơ
bản của triết học, tức là nó đã đêm lại một quan niệm mới về vật chất dưới nhận
thức khoa học, đó là nhận thức phạm trù. Nhờ dựa trên quan niệm khoa học về

chung là một quá trình phát triển,… đã góp phần to lớn vào sự phát triển nhận
thức triết học về lịch sử. Nổi bật lên trong những tư tưởng ấy là những quan
niệm về quá trình phát sinh, phát triển có quy luật của lịch sử loài người nói
chung, mặc dù chúng mang tính chất duy tâm chủ nghĩa và còn nhiều hạn chế.
Vào cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII, khi quan điểm phát triển chính
thức được đem vào nhận thức lĩnh vực xã hội và lịch sử thì nhận thức triết học
về lịch sử cũng chính thức đánh dấu sự ra đời và phát triển bằng quan niệm coi
lịch sử loài người nói chung là quá trình phát sinh, phát triển. Cùng với tư tưởng
coi con người là xuất phát điểm của nhận thức xã hội, lịch sử, các nhà tư tưởng
trước C.Mác cũng đã thấy được sự nhận thiết phải nhận thức xã hội như những
hệ thống, chỉnh thể.
Cụ thể, vào thời kỳ này đã xuất hiện nhiều quan niệm ví tổ chức xã hội như
những hệ thống máy móc chẳng hạn như: gắn liền với phát minh của Oát Gi về
máy hơi nước đã nảy sinh ra quan niệm coi xã hội như động cơ, hay áp dụng quy
tắc cơ học của Niutơn các nhà triết học cho rằng các yếu tố trong vũ trụ phụ
thuộc nhau là do lực hút và lực đẩy. A.Xmít cho rằng, trình tự xã hội phát sinh
hoàn toàn do sự cạnh tranh tự do. Nhà tư tưởng người Nga LiLien Feld ở thế kỷ
XIX đã ví xã hội như cơ thể con người thậm chí đem đối chiếu sự tương ứng của
từng điểm trên cơ thể đó còn mang tính chất máy móc, cơ học và sinh vật về tổ
chức xã hội, song đóng góp là ở chỗ quan niệm về lịch sử loài người nói chung
là quá trình phát triển tất yếu và có quy luật.
Nhà tư tưởng được C.Mác đánh giá cao, coi những tác phẩm của ông ta như
chứa đựng những “tia chớp của thiên tài” là Giambaxtixta Vicô (1668 – 1774) –
người Ý, đã nêu tư tưởng về sự tiến tiễn logic trong lịch sử. Theo ông, lịch sử
13
nhân loại là lịch sử phát sinh, phát triển của dân tộc diễn ra theo chu kỳ ví như
sự phát triển của mỗi cá thể người, bắt đầu từ thời thơ ấu, qua thời thanh niên rồi
đến tuổi trưởng thành, sau đó lại quay trở về thời kỳ đầu tiên và một chu kỳ mới
trong sự phát triển của dân tộc lại bắt đầu. Tư tưởng này của Vicô chính là quan
niệm về sự vận động đi lên của lịch sử loài người mà đặc trưng của quá trình đó

sử, đó là một sự “anh minh” mà nhờ đó những bộ phận của toàn nhà thế giới đã
phối hợp với nhau thành hệ thống. Do đó ông cho rằng, nhiệm vụ của triết học là
phải vạch ra cái cơ sở khách quan này. Với quan niệm đó Hécđơ đã góp phần
bác bỏ quan niệm cho rằng lịch sử xã hội chỉ là những quá trình hỗn độn, tùy
tiện và quan trọng hơn nó cho thấy nhiệm vụ cấp thiết của nhận thức triết học về
lịch sử lúc này là phải vạch ra và chứng minh sự tồn tại của các cơ sở khách
quan quy định tính thống nhất, tính chỉnh thể của lịch sử loài người nói chung.
Ph. Hêghen (1770 – 1831) – nhà triết học vĩ đại người Đức đã xây dựng
một quan niệm rất độc đáo về quá trình phát triển lịch sử xã hội loài người nói
chung, cụ thể ông đã trình bày sơ đồ phát triển như sau: 1. Thế giới phương
Đông chỉ có một người tự do; 2. Thế giới Hylạp và Rôma có tự do hạn chế của
một số người; 3. Thế giới Đức có tự do cho tất cả mọi người. Với quan niệm này
Hêghen đã vạch ra được tiến trình logic của lịch sử trong phạm vi toàn thế giới,
không chỉ dừng lại ở đó trong tư tưởng của mình Hêghen muốn hướng tới cái
căn nguyên thật sự cua quá trình lịch sử đó là sự phát triển của bản thân con
người luôn luôn khát khao và không ngừng lao động đấu tranh cho tự do. Nhưng
vì quan niệm về sự tồn tại của Hêghen thực chất là tồn tại tinh thần cho nên ông
chỉ thấy có “ý niệm tự do” là tồn tại thực sự trong lịch sử chứ không thấy những
con người bằng thịt đang khao khát vươn tới tự do. Đó là quan niệm duy tâm rõ
ràng về lịch sử nhưng dù sao đi nữa thì những tư tưởng đó của ông cho thấy rằng
chỉ có thể vạch ra xu hướng chung, tất yếu của lịch sử xã hội loài người khi nó
thể hiện được quá trình vận động có quy luật và là quá trình của bản thân con
người.
Một trong những tiền đề tư tưởng triết học về lịch sử góp phần trực tiếp làm
nên học thuyết hình thái kinh tế - xã hội đó là tư tưởng triết học về lịch sử của
các nhà khoa học chủ nghĩa không tưởng Pháp. Đầu tiên phải kể đến đó là Xanh
Xi Mông (1760 – 1825) Ông đã chia lịch sử loài người thành các giai đoạn phát
triển chủ yếu, gắn liền với các hệ thống xã hội như sau: 1. Thời cổ đại với những
15
hệ thống xã hội xây dựng trên cơ sở chế độ nô lệ; 2. Thời trung đại với hệ thống

16
tâm và do những hạn chế về mặt lịch sử nên học không thể giải đáp một cách
khoa học vấn đề xem đời sống xã hội là có cấu tạo, kết cấu theo những quy luật
nhất định và lịch sử nhân loại nói chung là sự vận động và phát triển của những
xã hội ấy. Mặc dù vây, với sự nỗ lực cố gắng và những thành tựu triết học về
lịch sử mà họ đã đạt được là sự chuẩn bị từng bước, là những tiền đề không thể
thiếu có tính tất yếu khách quan cho cuộc cách mạng mà C.Mác – Ăngghen thực
hiện trong nhận thức triết học về lịch sử mà cụ thể là trong học thuyết hình thái
kinh tế - xã hội và trong nhận thức xã hội nói chung.
Kế thừa những thành tự của các nhà tư tưởng, nhà triết học trước C.Mác và
khắc phục triệt để khiếm khuyết của họ, khi nghiên cứu về xã hội, C.Mác đã
xuất phát từ những tiền đề thực tế, hiện thực đó là con người, hoạt động con
người và những tiền đề vật chất của con người. C.Mác viết: “Những tiền đề xuất
phát của chúng tôi không phải là những tiền đề tùy tiện, không phải là giáo điều;
đó là những tiền đề hiện thực mà người ta chỉ có thể bỏ qua trong trí tưởng
tượng thôi. Đó là những cá nhân hiện thực, là hoạt động của họ và những điều
kiện sinh hoạt vật chất của họ, những tiền đề mà học thấy có sẵn cũng như
những điều kiện do hoạt động của chính họ tạo ra… Những tiền đề ấy là có thể
kiểm nghiệm được bằng con đường kinh nghiệm thuần túy” [5;28-29].
Như vậy, khi xem xét lịch sử xã hội, C.Mác đã lấy con người làm điểm xuất
phát cho học thuyết của mình. Nhưng không phải là con người chung chung,
trừu tượng, con người trong trình trạng biệt lập, cố định, cô lập với xung quanh
mà là con người thực tiễn, con người hành động, con người trong quá trình phát
triển hiện thực, đó là con người trong sản xuất vật chất. Bằng hoạt động của
mình, con người đã làm nên lịch sử xã hội. Theo C.Mác, xã hội là sản phẩm của
sự tác động lẫn nhau giữa người và người. “Xã hội – cho dù nó có hình thứC gì
đi chăng nữa – là cái gì? Là sản phẩm của sự tác động qua lại giữa những con
người” [13;257].
Những tiền đề xuất phát mà Mác nói tới đến đó là những tiền đề gì?
Trước hết tiền đề đầu tiên mà Mác và Ăngghen đã xuất phát đó là: “Tiền đề

thể của con người qui định. Sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình, như
thế con người đã gián tiếp sản xuất ra chính đời sống vật chất của mình” [5; 29].
Điều đó nói lên rằng, xã hội loài người bắt đầu sự tồn tại của mình, khi con
người bắt đầu sản xuất ra tư liệu sinh hoạt cho chính đời sống con người, các
18
quan hệ hình thành trong quá trình lao động sản xuất của con người là cơ sở của
tất cả các quan hệ khác trong xã hội.
Con người là một bộ phận của tự nhiên, nhưng trong mối quan hệ với tự
nhiên con người hoàn toàn khác con vật. C.Mác phân biệt rõ ràng: “Về mặt thể
xác, con người chỉ sống bằng những sản phẩm tự nhiên ấy, dù là dưới hình thức
thực phẩm, nhiên liệu, áo quần, nhà ở,… Về mặt thực tiễn, tính phổ biến của con
người thể hiện ra chính ở cái tính phổ biến toàn bộ giới tự nhiên thành thân thể
vô cơ của con người” [14;135]. C.Mác đi đến kết luận: “Con vật chỉ sản xuất ra
bản thân nó, còn con người thì tái sản xuất ra toàn bộ giới tự nhiên” [14;137].
Con người có tính xã hội trước hết bởi bản thân hoạt động sản xuất của con
người là hoạt động mang tính xã hội. Tính xã hội là đặc điểm cơ bản làm cho
con người khác con vật. Hoạt động của con vật chỉ phục vụ nhu cầu trực tiếp của
nó, còn hoạt động của con người gắn liền với xã hội và phục vụ cho xã hội. Hoạt
động của con người không phải theo bản năng như động vật mà là hoạt động có
ý thức. Tư duy con người phát triển trong hoạt động và giao tiếp xã hội, trước
hết là trong hoạt động lao động sản xuất. Với ý nghĩa trên đây, có thể con người
phân biệt với động vật ở tư duy mà ngôn ngữ là cái võ vật chất của tư duy. Bởi
cơ sở của tư duy là hoạt động thực tiễn xã hội.
Con người khác con vật về bản chất ở quan hệ với thiên nhiên, quan hệ với
xã hội và quan hệ với bản thân. Cả ba mối quan hệ đó đều mang tính xã hội,
trong đó quan hệ xã hội là quan hệ bản chất, tập trung nhất trong toàn bộ hoạt
động của con người. Khi C.Mác nói: “Trong tính hiện thực của nó, bản chất con
người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội” [5;11] có nghĩa là những quan hệ ấy
đã thể hiện trong toàn bộ hoạt động cụ thể của con người. Không có con người
chung chung, trừu tượng mà chỉ có con người sống, hoạt động trong một xã hội

ích kinh tế. Cũng xuất phát từ nhu cầu và lợi ích mà trong quá trình tồn tại và
phát triển con người không ngừng tác động vào tự nhiên và xã hội tạo ra những
tư liệu sinh hoạt và vật chất thỏa mãn nhu cầu. Qúa trình sản xuất và kết quả đạt
được luôn luôn làm nảy sinh nhu cầu mới, dẫn đến sự phát triển không ngừng
của nền sản xuất xã hội. Trong quá trình đó lực lượng sản xuất do thế hệ trước
tạo ra trở thành tiền đề cho hoạt động sản xuất của thế hệ sau, làm thành mối
quan hệ giữa các thế hệ con người, hình thành lịch sử nhân loại. Đó cũng là
nguồn gốc, động lực, cách thức và xu thế chung tất yếu của lịch sử loài người.
20
Điều này cũng cho thấy sự tồn tại, phát triển của bản thân con người, của cá
nhân con người hiện thực cũng được thực hiện thông qua sự vận động của
những chế độ xã hội khác nhau.
Cũng chính việc thực hiện các lợi ích trong các hình thức xã hội đã thức
đẩy các cá nhân không ngừng phát triển những lực lượng sản xuất của mình cho
đến khi những lực lượng đó mâu thuẫn với hình thức giao tiếp thì đều đưa đến
sự bùng nổ một cuộc cách mạng xã hội với những hình thức khác nhau. Nhờ
cách mạng một chế độ xã hội mới lại được thiết lập trong đó các cá nhân tiếp tục
phát triển.
Từ những tiền đề đầu tiên này C.Mác đã cho thấy nguồn gốc, căn bản, sâu
xa và động lực cơ bản của toàn bộ sự phát triển lịch sử là hoạt động sản xuất và
tái sản xuất ra đời sống vật chất của con người. Nhưng đây không đơn giản chỉ
là quá trình con người tác động vào tự nhiên theo phương thức thực hiện những
lợi ích vật chất mà học có được, do phân công lao động giữa họ tạo nên. Đó thực
sự là động lực thực sự, căn bản của sự phát triển lịch sử. Chính hoạt động theo
đuổi những lợi ích vật chất đã thúc đẩy một cách mạnh mẽ nhất sự phát triển của
những cá nhân. Hoạt động theo đuổi những mục đích chính trị, xã hội, tinh thần
khác nhau chỉ là biểu hiện ít nhiều, trực tiếp hoặc gián tiếp hoạt động cơ bản ấy
và tạo nên những động lực phát sinh, không quyết định, mặc dù vẫn có vai trò
nào đó.
Tóm lại con người, hoạt động con người trong sản xuất vật chất và những

phong phú, đa dạng hơn, cần thiết hơn đối với sự tồn tại của xã hội. Do vậy, của
cải tinh thần dù có ý nghĩa to lớn đến đâu nhưng không bao giờ quan trọng hơn,
quyết định hơn của cải vật chất, xét về mặt đảm bảo sự tồn tại của xã hội.
Con người muốn sống, xã hội muốn tồn tại, trước hết cần phải sản xuất vật
chất, cần có lương thực, thực phẩm, chứ không thể ăn tinh thần, ăn thông tin, ăn
văn nghệ. Nhấn mạnh điều này không phải nhấn mạnh hưởng lạc vật chất, thú
vui ăn uống mà thấy được tầm quan trọng, quyết định của sản xuất ra của cải vật
chất, nắm bắt được các quy luật của việc sản xuất đó để tổ chức sản xuất một
cách hợp lý, đem lại lợi ích nhiều nhất cho sự tồn tại và phát triển của loài
người.
Xuất phát từ đời sống xã hội hiện thực với mọi biểu hiện tồn tại sinh động
của nó, C.Mác và Ăngghen đã tách riêng lĩnh vực sản xuất vật chất để xem xét.
C.Mác và Ăngghen đã vạch ra những yếu tố cơ bản của sự sản xuất ra tư liệu
22
sinh hoạt, lực lượng sản xuất và trình độ của nó, sự giao tiếp vật chất và hình
thức của sự giao tiếp, phương thức sản xuất, xã hội công dân và những mối liên
hệ tất yếu giữa chúng được các ông quy lại thành hai mối quan hệ cơ bản là quan
hệ kinh tế - vật chất (lực lượng sản xuất) và quan hệ kinh tế - xã hội (quan hệ
sản xuất). Đặt tất cả những yếu tố và những mối liên hệ trên trong chỉnh thể,
trong hệ thống C.Mác và Ăngghen đã chỉ ra sự phụ thuộc và tác động lẫn nhau
giữa chúng theo những trình tự, quy luật nhất định trong đó những yếu tố, những
liên hệ quyết định đối với những yếu tố và những liên hệ khác.
C.Mác và Ăngghen tiếp tục phân tích và rút ra những kết luận tương tự như
“Quan hệ đó về lịch sử” là: Phải xuất phát từ chính ngay sự vật chất vật chất ra
đời sống trực tiếp để xem xét quá trình hiện thực của sản xuất và kiểu hình thức
giao tiếp gắn liền với phương thức sản xuất ấy và do những phương thức sản
xuất ấy sản sinh ra tức là xã hội công dân ở những giai đoạn khác nhau của nó,
là cơ sở của toàn bộ lịch sử” [7;54].
Sản xuất C.Mác đã phát hiện của hiện ra hai mặt không tách rời nhau: một
mặt là quan hệ giữa người với tự nhiên, mặt khác là quan hệ giữa người với

vật chất: “Lao động đã sáng tạo ra chính bản thân con người” [6;641] và xã hội
đã ra đời cùng với sự xuất hiện của con người hoàn chỉnh. Chính nhờ sự sản
xuất ra của cải vật chất để duy trì sự tồn tại và phát triển của mình, con người
đồng thời sáng tạo ra toàn bộ đời sống vật chất và tinh thần của xã hội với tất cả
sự phong phú và phức tạp của nó. Thông qua hoạt động đó thì đồng thời con
người cũng tái sản xuất ra chính mình như C.Mác đã nói “sản xuất ra những tư
liệu sinh hoạt của mình con người đã gián tiếp sản xuất ra chính đời sống vật
chất của mình [6;64]. Như vây, chính tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội mà
trước tiên muốn tồn tại, muốn sống, muốn có đời sống tinh thần thì trước tiên
con người phải được đáp ứng được những nhu cầu thiết yếu đầu tiên đó là cái ăn
cái mặc, nơi ở… Chính xuất phát từ đời sống hiện thực đó của con người mà
C.Mác đi đến xác định tiền đề của mọi sự tồn tại của con người và đó cũng là
tiền đề của mọi lịch sử như C.Mác đã chỉ ra.
Từ những kết luận trên, C.Mác, Ăngghen đã tìm thấy mối quan hệ giữa mặt
khách quan và chủ quan của quá trình lịch sử và đây là tiền đề thứ ba của việc
xuất hiện học thuyết hình thái kinh tế - xã hội.
24
Tiền đề thứ ba: Mối quan hệ giữa mặt khách quan và mặt chủ quan của
tiến trình lịch sử.
Xã hội là hình thái vận động cao nhất, là bộ phận đặc thù của thế giới vật
chất, vận động và phát triển theo quy luật khách quan. Hình thái vận động này
lấy mối quan hệ của con người và sự tác động lẫn nhau giữa người với người
làm nền tảng. “Xã hội không phải gồm các cá nhân, mà xã hội biểu hiện tổng số
những mối lien hệ và nhưng quan hệ của các cá nhân đới với nhau” [15;353].
C.Mác và Ăngghen đã đặt ra và giải quyết đúng đắn mối quan hệ biện
chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, giữa điều kiện khách quan và nhân tố
chủ quan, giữa duy vật lịch sử và hoạt động có ý thức của con người, giữa tất
yếu và tự do,… C.Mác xác lập nguyên lý có tính chất phương pháp luận để giải
quyết vấn đề này: không phải ý thức con người quyết định tồn tại của họ; trái lại
chính sự tồn tại của họ quyết định ý thức của họ. Như vậy, quan niệm duy vật


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status