LUẬN VĂN:
Phân tích luận điểm của Mác “Tôi coi sự phát
triển của hình thái
Kinh tế - Xã hội là quá trình lịch sử tự nhiên I - Lời mở đầu
Hiện nay, có rất nhiều người và thậm chí cả sinh viên - những người mà đang
được trang bị một cách khá đầy đủ kiến thức về kinh tế, văn hoá, xã hội vẫn không
hiểu rõ một cách chính xác bản chất hình thái Kinh tế - Xã hội (KT - XH) là gì và có
những hình thái KT - XH nào mà thế giới con người đã trải qua và có khá hơn thì chỉ
biết rằng xã hội con người đã trải qua các chế độ nào.
Ngay chính tôi, trước khi chưa làm bài tiểu luận về hình thái KT - XH này tôi
cũng chỉ biết rằng mình đang sống trong chế độ XHCN nhưng cũng chưa hiểu rõ rằng
hình thái KT - XH chính xác là cái gì, bản chất của nó ra sao. Và khi được học môn
Triết về phần hình thái KT - XH tôi mới thấy hết được ý nghĩa của nó, nó không đơn
dạng trực tiếp sẵn có. Sống là phải sáng tạo và sáng tạo một cách thực tiễn hay nói
cách khác là phải sản xuất để mà sống.
Mỗi một con người có sự suy nghĩ sáng tạo khác nhau, nên cách thức sáng tạo
làm việc khác nhau, vì vậy mỗi xã hội lại có phương thức sản xuất khác nhau. Phương thức sản xuất là cách thức sản xuất ra của cải vật chất mà trong đó lực lượng sản xuất
đạt đến một trình độ nhất định, thống nhất với các quan hệ sản xuất tương ứng với nó.
1. Lực lượng sản xuất là mối quan hệ giữa con người với tự nhiên được hình
thành trong quá trình sản xuất, lực lượng sản xuất bao gồm người lao động và tư liệu
sản xuất.
Tư liệu sản xuất gồm có đối tượng lao động và tư liệu lao động. Đối tượng lao
động là những cái mà con người muốn tác động vào để biến nó trở thành những sản
phẩm con người mong muốn. Nó là toàn bộ những tài nguyên thiên nhiên có sẵn mà
con người đã, đang và sẽ trực tiếp sử dụng và đưa vào sản xuất; nó còn là những sản
phẩm không có sẵn trong tự nhiên mà do con người bằng lao động của mình đã tạo ra
như: các loại hoá chất, sợi tổng hợp, các chất hợp kim, các loại nguyên vật liệu mới,
giống và cây con mới. Con người không bao giờ chỉ bằng lòng với những thứ đang
hiện có, việc tìm kiếm ra những đối tượng lao động mới, việc tạo ra những sản phẩm
mới luôn là động lực cuốn hút mọi hoạt động sáng tạo của con người. Vì vậy đối
tượng lao động luôn luôn được biến đổi, đổi mới không ngừng.
Tư liệu lao động chính là công cụ lao động (máy móc, thiết bị, hệ thống công
nghệ, ) để con người tác động vào đối tượng lao động để tạo ra những sản phẩm mà
mình mong muốn. Ngoài ra, tư liệu lao động còn có cả phương tiện lao động, đó là
những cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho quá trình sản xuất như: nhà xưởng, kho bãi,
bến cảng, sân ga, phương tiện liên lạc, đường xá, cầu cống, Tư liệu lao động luôn
luôn được cải thiện, biến đổi theo sự phát triển sáng tạo của con người. Chính công cụ
lao động và phương tiện lao động là cơ sở để đánh giá sự phát triển của mỗi thời đại
kinh tế, mỗi chế độ chính trị xã hội.
Người lao động là nhân tố trung gian nối kết tư liệu lao động với đối tượng lao
học, trong đó hệ tư tưởng chính trị, pháp luật là sự phản ánh trực tiếp cơ sở hạ tầng
và có vị trí chi phối toàn bộ đời sống tư tưởng xã hội. Những tổ chức thiết chế tương
ứng bao gồm cơ quan quản lý Nhà nước các cấp từ Trung ương tới địa phương, bộ
máy bạo lực, quan đội, cảnh sát, toà án, nhà tù, các Đảng phái chính trị, các tổ chức
tôn giáo, và tổ chức quần chúng khác. Những mối quan hệ nội tại giữa các bộ phận của
kiến trúc thượng tầng với nhau trong đó quan trọng hơn cả là mối quan hệ giữa hệ tư
tưởng chính trị với bộ máy quản lý Nhà nước; hệ tư tưởng chính trị, bộ máy quản lý Nhà nước với các tổ chức chính trị xã hội, các lĩnh vực khác nhau của đời sống tinh
thần.
Cơ sở hạ tầng là toàn bộ những mối quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế
của một hình thái KT - XH nhất định. Cơ sở hạ tầng chính là tổng hợp các kiểu quan
hệ sản xuất, đó là những quan hệ vật chất, là cơ sở kinh tế của đời sống xã hội. Trong
xã hội có giai cấp, tính chất đối kháng về mặt kinh tế của cơ sở hạ tầng chính là cơ sở
nảy sinh những đối kháng trong kiến trúc thượng tầng, giai cấp nào thống trị về kinh tế
sẽ thống trị về chính trị và thiết lập cả sự thống trị về mặt tinh thần đối với xã hội,
trong đó hệ tư tưởng chính trị và bộ máy quản lý Nhà nước có vị trí quan trọng nhất.
Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng có mối quan hệ biện chứng với nhau. Cơ sở hạ
tầng quyết định kiến trúc thượng tầng. Và kiến trúc thượng tầng có tính độc lập tương
đối, tác động trở lại cơ sở hạ tầng.
III - Sự phát triển của hình thái KT - XH
Nhân loại đã trải qua nhiều giai đoạn khác nhau tương ứng với mỗi giai đoạn ấy
là một hình thái KT - XH nhất định. Các hình thái KT - XH vận động, phát triển và
thay thế lẫn nhau đều do tác động của các quy luật khách quan, trong đó quy luật quan
hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
một trong những quy luật quan trọng nhất đó là quá trình phát triển tự nhiên của lịch
sử.
thích ứng với nó. Quan hệ sản xuất do lực lượng sản xuất quyết định, nhưng đến lượt
nó, quan hệ sản xuất lại quy định các quan hệ khác của xã hội như quan hệ về chính
trị, tư tưởng pháp quyền, đạo đức, khoa học, Khi lực lượng sản xuất phát triển cao,
quan hệ sản xuất không phù hợp sẽ dẫn đến cách mạng xã hội thay thế quan hệ sản
xuất cũ và dẫn đến sự thay đổi toàn bộ các quan hệ sản xuất khác. Quy luật quan hệ
sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất là quy luật chi phối
toàn bộ quá trình phát triển của lịch sử. Nó quyết định sự thay thế của các phương thức
sản xuất, quyết định sự hình thành và biến đổi của các hình thái KT - XH. Có thể lấy ví dụ đơn giản về sự phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản
xuất. ở những công ty bánh kẹo bây giờ thì hầu hết trước đây đều sản xuất mì sợi. Do
nhu cầu con người, do sự sáng tạo, phát triển của con người, do những yếu tố khách
quan thay đổi, công ty chuyển sang sản xuất bánh kẹo. Đây là một lĩnh vực sản xuất
khác vì vậy đòi hỏi phải có phương thức sản xuất khác, đối tượng lao động thay đổi
yêu cầu tư liệu lao động cũng phải thay đổi, và trình độ chuyên môn nghiệp vụ của con
người cũng phải được thay đổi làm cho quan hệ sản xuất thay đổi theo.
Hình thái KT - XH cũ bao giờ cũng thai nghén, tạo tiền đề, tổ chức để cho hình
thái KT - XH mới ra đời từ trong lòng nó dưới các dạng và mức độ khác nhau. Đối với
triết học biện chứng thì không có hình thái nào là tối hậu, là tuyệt đối, là thiêng liêng
cả, tất cả đều quá độ, đều dẫn đến cái khác theo sự phát triển của tiến bộ xã hội.
Lịch sử nhân loại là lịch sử kế tiếp nhau của các hình thái KT - XH, song không
vì vậy mà cho rằng sự phát triển và thay thế các hình thái KT - XH ở mọi quốc gia,
mọi lục địa đều diễn ra giống nhau và tiến trình như nhau. Lịch sử không phát triển
theo đường thẳng và ở mỗi nước khác nhau có thể sẽ có những hình thái KT - XH và
trình độ phát triển khác nhau. Tuy nhiên mỗi nước không phải là sự phát triển riêng
biệt, sự tác động và ảnh hưởng lẫn nhau giữa chúng được diễn ra dưới nhiều hình thức
sẽ có tác động quan trọng đến sự phát triển của các dân tộc và của lịch sử nói chung.
Tính chất không đồng đều này biểu hiện ở một số dân tộc tiến lên phía trước, một số
dân tộc khác lại ngưng trệ do rất nhiều nguyên nhân chi phối, một số nước do những
CNXH phải có 3 điều kiện. Thực tế cho thấy một số nước phát triển hoặc tương đối
phát triển xây dựng thành công CNXH và đặc biệt chú ý, những năm gần đây Việt
Nam đã giải quyết thành công các điều kiện trên bằng những mối quan hệ quốc tế mới
cả về vật chất lẫn trí tuệ. Trí tuệ người Việt Nam ngày nay không phải chỉ từ bài học
của mình mà từ cả những giá trị chung của nhân loại đã đạt được trong nền văn minh
đương đại.
Tin tưởng sắt đá vào nguyên lý phát triển macxit, Hồ Chí Minh đã khẳng định:
Chủ nghĩa xã hội là đường đi tất yếu của lịch sử nhân loại. Người viết: “Loài người đã
trải qua sự phát triển từ xã hội nguyên thuỷ sang xã hội chiếm hữu nô lệ, xã hội phong
kiến rồi đến xã hội tư bản, xã hội tư bản với bản chất vô nhân đạo và đầy mâu thuẫn
trong lòng nó, cũng giống như những quy luật của lịch sử xã hội, xã hội tư bản sẽ chuyển sang xã hội chủ nghĩa - cộng sản chủ nghĩa” (Hồ Chí Minh - Toàn tập, T7 -
NXB Chính trị Quốc gia - Hà Nội - một996, trang 246). Tư tưởng sâu xa của HCM
không chỉ là ở sự lựa chọn hướng đi của dân tộc phù hợp với quy luật phát triển của
lịch sử. Giá trị nhân văn trong cách nhìn mới của HCM là ở chỗ người xem xã hội
XHCN là hướng đi tối ưu của loài người. Chính vì vậy, ngay từ khi đất nước còn chìm
đắm trong vòng nô lệ, HCM đã quyết chọn con đường cách mạng dân quyền để thực
hiện dân sinh, tiến lên CNXH. CNXH, với bản chất nhân đạo và đầy sức sống của nó,
nơi thể hiện lý tưởng cao đẹp của con người, có khả năng tự tạo ra sức mạnh nội sinh
để thúc đẩy xã hội đi lên phù hợp với lý tưởng chân chính của nhân dân Việt Nam.
Độc lập dân tộc & CNXH đã trở thành nhân lõi xuyên suốt lý tưởng xây dựng XH mới
và triết lý phát triển xã hội Hồ Chí Minh.
Xã hội XHCN với bản chất và sức sống của nó thì chỉ có thể thực hiện được trên
cơ sở một Nhà nước vững mạnh của dân, do dân và vì dân. Đó là một Nhà nước do
nhân dân làm chủ. Chính phủ là cơ quan Nhà nước cao nhất tập trung quyền lực của
nhân dân do nhân dân giao phó vận hành theo cơ chế pháp quyền, thực hiện mọi trách
nhiệm vì cuộc sống của nhân dân. Cán bộ là người đại diện cho ý chí của nhân dân, là
công bộc của dân. Một Nhà nước như vậy sẽ là nơi tập trung và thể hiện toàn bộ sức
Yếu tố dân tộc và yếu tố quốc tế được thể hiện qua quan hệ riêng chung trong
triết lý phát triển xã hội. Dân tộc là bộ phận của quốc tế. Một dân tộc phải nằm trong
và dựa vào nhiều dân tộc khác như là quan hệ tất yếu tự nhiên mới có thể cùng tồn tại
và trưởng thành. Xu thế và hoàn cảnh quốc tế là điều kiện quan trọng cho sự tồn tại và
phát triển của một quốc gia. Vì vậy, cần phải học hỏi hợp tác quốc tế, giao lưu văn hoá
xã hội với thế giới để đất nước có điều kiện tiến xa và nhanh hơn nữa.
Yếu tố tự nhiên cũng hết sức quan trọng đối với sự phát triển đất nước, nó là một
trong những yếu tố của đối tượng lao động. Vì vậy cần phải biết khai thác hợp lý các
tài nguyên, đảm bảo tái sản xuất, đảm bảo không gây ô nhiễm môi trường. Đảm bảo
cho sức khoẻ con người - điều kiện quan trọng cho sức mạnh của một quốc gia.
V - Kết luận
Nghiên cứu học thuyết về hình thái KT - XH giúp ta cơ sở để phân biệt được sự
khác nhau giữa thời kỳ lịch sử này với thời kỳ lịch sử khác, tìm ra những nguyên nhân
và cơ sở của sự xuất hiện và biến đổi của các hiện tượng xã hội trong khuôn khổ
những hình thái KT - XH nhất định.
Khái niệm hình thái KT - XH cho phép xem xét xã hội loài người trong mỗi thời
kỳ phát triển của nó như là một “cơ thể xã hội” thống nhất bao gồm tất cả mọi hiện
tượng xã hội trong một thể thống nhất hữu cơ và sự tác động qua lại giữa chúng trên
cơ sở của một phương thức sản xuất, khắc phục được quan điểm duy tâm, siêu hình
trong nghiên cứu đời sống kinh tế xã hội.
Hình thái KT - XH là cơ sở lý luận để chúng ta nghiên cứu mô hình xây dựng
CNXH ở Việt Nam. Nhận thức và vận dụng đúng nguyên tắc này giúp ta tăng cường
hệ thống chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động, củng
cố và hoàn thiện những kiểu mới thích ứng với sự phát triển đa dạng các thành phần
kinh tế theo định hướng đi lên CNXH, tạo điều kiện giải phóng sức lao động, đẩy