Phân tích cơ sở xuất phát và nội dung lý luận hình thái kinh tế - xã hội của C.Mac - Pdf 27

Bài tập Triết học GVHD: PGS.TS Nguyễn Tấn Hùng
PHÂN TÍCH CƠ SỞ XUẤT PHÁT VÀ NỘI DUNG
LÝ LUẬN HÌNH THÁI KINH TẾ- XÃ HỘI CỦA C.MÁC
**************
Lý luận hình thái kinh tế - xã hội là lý luận cơ bản của chủ nghĩa duy
vật lịch sử do C.Mác xây dựng lên. Nó có vị trí quan trọng trong triết học Mác.
Lý luận đó đã được thừa nhận lý luận khoa học và là phương pháp luận cơ bản
trong việc nghiên cứu lĩnh vực xã hội. Nhờ có lý luận hình thái kinh tế- xã
hội, lần đầu tiên trong lịch sử loài người, Mác đã chỉ rõ nguồn gốc, động lực bên
trong, nội tại của sự phát triển xã hội, chỉ rõ được bản chất của từng chế độ
xã hội. Lý luận đó giúp chúng ta nghiên cứu một cách đứng đắn và khoa học
sự vận hành của xã hội trong giai đoạn phát triển nhất định cũng như tiến trình
vận động lịch sử nối chung của xã hội loài người.
* QUAN NIỆM DUY VẬT VỀ LỊCH SỬ VÀ HỌC THUYẾT HÌNH THÁI KINH TẾ -
XÃ HỘI
Trước khi có chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa duy tâm đã giữ vị trí thống trị
trong việc giải thích lịch sử. Không những các nhà triết học duy tâm mà ngay
cả những nhà tư tưởng tiên tiến trước Mác cũng đứng trên lập trường duy tâm
để giải thích các hiện tượng lịch sử xã hội.
Người ta xuất phát từ một sự thật là trong giới tự nhiên, thì lực lượng
tự nhiên hoạt động tự động, không có ý thức; còn trong xã hội, nhân tế hoạt
động là con người có lý tính, có ý thức và ý trí. Căn cứ vào sự thật ấy người
ta đi đến kết luận sai lầm rằng: Trong giới tự nhiên, thì tính quy luật, tính tất
nhiên thống trị. Sự thay đổi của ngày đêm, sự thay đổi của bốn mùa, sự biến
hóa của khí hậu và những hiện tượng không phụ thuộc vào ý và chí và ý thức
của người ta, còn những sự kiện lịch sử thì do hoạt động tự giác và ý chí của
người ta, trước hết là của những nhân vật lịch sử, những lãnh tụ, anh hùng
quyết định; ý chí của người ta có thể thay đổi tiến trình lịch sử.
Chính vì vậy, đáng lẽ phải lấy sự phát triển của các điều kiện vật chất của
xã hội để giải thích lịch sự, động lực lịch sử, bản chất của con người; giải
thích tự nhiên xã hội, quân điểm chính trị, chế độ chính trị... người ta lại đi từ

như hình thái ý thức khác.
Mác và Ăng-ghen đã nghiên cứu bản chất, gốc rễ của vấn đề, đồng thời
không hạ thấp vai trò của cá nhân trong lịch sử, không xem thường vai trò, tác
dụng của ý thức, ý trí, động cơ thúc đẩy họ. Nhưng các ông cũng lưu ý rằng
bản thân ý thức chúng không phải là nhưng nguyên nhân xuất phát, mà là
những nguyên nhân phát sinh của quá trình lịch sử, bản thân chúng cuối cùng
cũng cần được giải thích từ những điều kiện vật chất của đời sống.
Xã hội loài người là một hệ thống phức tạp về bản chất và cấu trúc.
Việc nghiên cứu vạch ra những quy luật chung nhất của toàn bộ xã hội chỉ có
thể được thực hiện trên cơ sở một hệ thống những phạm trù cho triết học duy
vật về lịch sử vạch ra để giải thích xã hội: hình thái kinh tế- xã hội sản xuất vật
chất và quan hệ sản xuất cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, giai cấp và
quan hệ giai cấp, dân tộc và quan hệ dân tộc, cách mạng xã hội, nhà nước và
pháp luật, hình thái ý thức xã hội, văn hoá, cá nhân và xã hội... Như vậy, chủ
nghĩa duy vật về lịch sử là lý luận và phương pháp dễ nhận thức xã hội. Nó vừa
cung cấp trí thức, vừa cung cấp phương pháp hoạt động nhằm tìm kiếm tri thức
Học viên: Nguyễn Hữu Thiêm Mobi: 0985947181 2
Bài tập Triết học GVHD: PGS.TS Nguyễn Tấn Hùng
mới cho các khoa học xã hội cụ thể. Nó giúp chúng ta xác định đúng vị trí của
mỗi hiện tượng xã hội, xuất phát từ cách giải quyết đúng đắn vấn đề bản của triết
học trong lĩnh vực xã hội, thấy được sự tác động biện chứng giữa tính quy luật
và tính ngẫu nhiên trong lịch sử, giữa nhân tố khách quan nhân tố chủ quan,
giữa hiện tượng kinh tế và hiện tượng chính trị... Nó đem lại quan hệ về sự thống
nhất trong toàn bộ tính đa dạng phong phú của đời sống xã hội.
Thực chất của quan niệm duy vật lịch sử có thể tốm tắt như sau:
-
Tồn tại một xã hội quyết định ý thức xã hội, phương thức sản xuất vật
chất quyết định các quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị và tinh thần nói chung.
-
Trong sản xuất con người có những quan hệ nhất định gọi là quan hệ

- Người lao động với những kinh nghiệm sản xuất, thói quen lao động,
biết sử dụng tư liệu sản xuất để tạo ra của cải vật chất.
+ Tư liệu sản xuất do xã hội tạo ra, trước hết là công cụ lao động.
+ Tư liệu sản xuất gồm đối tượng lao động và tư liệu lao động. Trong tư
liệu lao động có công cụ lao động và những tư liệu lao động khác cần thiết
cho việc vận chuyển bảo quản sản phẩm...
+ Đối tượng lao động bao gồm bộ phận của giới tự nhiên được đưa vào
sản xuất. Thí dụ đất canh tác, nguồn nước... Con người không chỉ tìm trong
giới tự nhiên những đối tượng có sẵn, mà còn sáng tạo ra bản thân đối tượng lao
động. Sự phát triển của sản xuất có liên quan tới việc đưa những đối tượng
ngày càng mới hơn vào quá trình sản xuất.
+ Điều đó hoàn toàn có tính quy luật bởi những vật liệu mới mở rộng
khả năng sản xuất của con người.
+ Tư liệu lao động là vật hay là phức hợp vật thể mà con người đặt giữa
mình với đối tượng lao động, chúng dẫn chuyền tác động của con người với
đối tượng lao động. Đối tượng lao động và tư liệu lao động là những yếu tố vật
chất của quá trình lao động sản xuất hợp thành tư liệu sản xuất mới.
+ Trong tư liệu lao động công cụ lao động là hệ thống xương cốt, bắp thịt
của sản xuất và là tiêu chí quan trọng nhất, trong quan hệ xã hội với giới tự
nhiên. Cùng với sự cải tiến và hoàn thiện công cụ lao động thì kinh nghiệm sản
xuất của loài người cũng được phát triển và phong phú thêm, những nghành
sản xuất mới xuất hiện, sự phân công lao động phát triển. Trình độ phát triển tư
liệu sản xuất mà chủ yếu là công cụ lao động là thước đo trình độ chinh
phục tự nhiên của loài người, là cơ sở xác định trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất, là tiêu chuẩn để phân biệt sự khác nhau giữa các thời đại kinh tế
theo Mác: “Những thời đại kinh tế khác nhau không phải ở chỗ chúng sản
xuất bằng cách nào”. Đối với mỗi thế hệ, những tư liệu lao động do thế hệ
trước để lại, trở thành điểm xuất phát của sự phát triển tương lai. Nhưng những
tư liệu lao động chỉ trở thành lực lượng tích cực cải biến đối tượng lao động khi
chúng kết hợp với lao động sống. Tư liệu lao động dù có ý nghĩa lớn lao đến

ra khái niệm mới là “Phương thức sản xuất”. Theo 2 ông thì “một hình thức
hoạt động nhất định của những cá nhân ấy, một hình thức nhất định của sự
biểu hiện đời sống của họ, một phương thức sinh sống nhất định”.
C.Mác đã nêu phát hiện mới về mối quan hệ biện chứng giữa quan hệ
sản xuất và sự phát triển của lực lượng sản xuất trong quá trình đi lên chủ nghĩa
xã hội lực lượng sản xuất quyết định “hình thức giao tiếp tới một giai đoạn
nhất định, trong sự phát triển của chúng, các lực lượng sản xuất giữa mâu
thuẫn với “hình thức giao tiếp” hiện tại. Mâu thuẫn này được giải quyết bằng
một cuộc cách mạng xã hội. Về sau “hình thức giao tiếp” mới đến lượt nó lại
không phù hợp với các lực lượng sản xuất đang phát triểt, lại biến thành sản xuất
“xiềng xích” trói buộc lượng sản xuất và bằng con đường cách mạng xã hội
“hình thức giao tiếp” đã lỗi thời, lạc hậu.
Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất hợp thành những quan hệ vật
chất của xã hội. Ngoài những quan hệ vật chất trong đời sống xãhội con tồn
tại các quan hệ tinh thần, tư tưởng. Do vậy chúng ta cần phải nghiên cứu mối
quan hệ vât chất trong đời sống xã hội còn tồn tại các quan hệ tinh thần, tư
Học viên: Nguyễn Hữu Thiêm Mobi: 0985947181 5


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status