Sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên - Pdf 12

Danh mục từ viết tắt
ODA: Nguồn vốn phát triển chính thức
DAC: Uỷ ban hỗ trợ phát triển
LHQ: Liên hợp quốc
OEDC : Tổ chức Hợp tác kinh tế và phát triển
IMF: Quỹ tiền tệ quốc tế
WB: Ngân hàng thế giới
ADB: Ngân hàng Phát triển châu Á
UNDP:Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc.
UNICEF: Nhi đồng Liên Hợp Quốc
UNEF: Quỹ môi trường Liên Hợp Quốc
EC: Uỷ ban cộng đồng Châu Âu
NICs: Các nước công nghiệp mới
FDI: Nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài
JBIC :Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản
OECF:Quỹ hợp tác kinh tế hải ngoại Nhật Bản
JEXIM: Ngân hàng xuất nhập khẩu Nhật Bản
PIP : Chương trình đầu tư công cộng
Tìm hiểu ODA Nhật Bản cho Việt Nam: Một số đánh giá và đề xuất hoàn thiện
Tìm hiểu về ODA Nhật Bản cho Việt Nam: Một số đánh giá và đề xuất hoàn thiện
LỜI MỞ ĐẦU
Sau hơn 10 năm đổi mới, với những gì đã đạt được, Việt Nam đã được thế
giới đánh giá cao vì những thành công của mình. Nền kinh tế tăng trưởng cao và
ổn định, mức sống nguời dân không ngừng được cải thiện, chất lượng cuộc sống
ngày càng nâng cao, chúng ta đã thực hiện thành công nhiều mục tiêu Thiên niên
kỉ của Liên Hợp Quốc về xoá đói giảm nghèo…Để có những thành tựu như vậy
ngoài sự nỗ lực của Đảng, Nhà nước và nhân dân, chúng ta không thể không nhắc
đến vai trò quan trọng của sự ủng hộ từ cộng đồng quốc tế. Những năm gần đây
chúng ta đã nhận được hàng tỉ đôla từ nguồn viện trợ phát triển chính thức(ODA)
và thực tế nó đã trở thành một nguồn vốn quan trọng để giúp Việt Nam phát triển
kinh tế, xoá đói giảm nghèo. Con số 3,7 tỉ đôla mà các nhà tài trợ cam kết cho

Tìm hiểu về ODA Nhật Bản cho Việt Nam: Một số đánh giá và đề xuất hoàn thiện
cả từ phía Việt Nam cũng như phía đối tác, đồng thời phải phù hợp với đặc điểm
trình độ quản lí kinh tế nhà nước cũng như khả năng của các doanh nghiệp Việt
Nam…Trong phạm vi đề tài ngiên cứu khoa học của sinh viên kinh tế, trong quá
trình thực hiện chúng tôi đã dựa trên cơ sở lí luận chủ nghĩa Duy vật biện chứng,
vận dụng những nguyên lí Kinh tế đã học vào thực tiễn, sử dụng phuơng pháp
thống kê so sánh, phân tích tổng hợp...nhằm phân tích sâu sắc tình hình sử dụng
vốn ODA nói chung và của Nhật bản nói riêng từ đó rút ra những thành công, đặc
biệt là làm rõ những tồn tại và nguyên nhân của nó, trên cơ sở đó đề xuất một số
giải pháp mang tính định hướng, phù hợp khả thi để góp phần nâng cao hiệu quả
sử dụng nguồn vốn quan trọng này .
Với mục đích như vậy đề tài chúng tôi sẽ được chia làm ba chương:
Chương 1:Tổng quan về ODA nói chung và ODA Nhật bản nói riêng.
Chương 2:Thực trạng và những vấn đề đặt ra về việc sử dụng ODA Nhật bản
trong giai đoạn 1993-2005.
Chương 3:Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ODA của Nhật
bản .

3
Tìm hiểu về ODA Nhật Bản cho Việt Nam: Một số đánh giá và đề xuất hoàn thiện
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ ODA NÓI CHUNG VÀ ODA NHẬT BẢN NÓI RIÊNG
I. Khái niệm nguồn vốn phát triển chính thức ODA (Official Development
Assistance).
1. Khái niệm
Theo Nghị định 87CP ngày 20/8/1997 của Chính phủ Việt Nam đã định
nghĩa (theo chương trình phát triển của LHQ): ODA là viện trợ không hoàn lại
hoặc là cho vay ưu đãi của các tổ chức nước ngoài với phần viện trợ không hoàn
lại chiếm ít nhất là 25% giá trị của khoản vốn vay.
Theo Uỷ ban viện trợ phát triển: ODA là nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính

phương như UNDP, UNICEF…
Viện trợ phát triển chính thức, dù là song phương hay đa phương đều gắn
liền với yếu tố chính trị. Vì vậy, ổn định chính trị là một trong những điều kiện
tiên quyết để tranh thủ nguồn ODA của các nước phát triển.
2.3. Phân loại theo mục tiêu sử dụng:
 Hỗ trợ cán cân thanh toán: gồm các khoản ODA cung cấp để hỗ trợ
ngân sách Chính phủ, thường được thực hiện thông qua các dạng:
chuyển giao trực tiếp tiền tệ cho nước nhận ODA hoặc hỗ trợ nhập
khẩu với một lượng hàng hoá có giá trị tương đương với các khoản
cam kết, bán cho thị trường nội địa và thu nội tệ.
 Tín dụng thương nghiệp: tương tự như viện trợ hàng hoá nhưng có
kèm các điều kiện ràng buộc. Đây là hình thức cho vay mà tiền vay
được chuyển giao bằng lượng hàng hoá tương đương.
 Viện trợ chương trình (Viện trợ phi dự án): Nước viện trợ và nước
nhận viện trợ kí hiệp định cho một mục đích tổng quát mà không cần
xác định chính xác khoản viện trợ sẽ được sử dụng như thế nào.
5
Tìm hiểu về ODA Nhật Bản cho Việt Nam: Một số đánh giá và đề xuất hoàn thiện
 Viện trợ dự án: Chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng vốn thực hiện
ODA. Điều kiện để được nhận viện trợ dự án là “phải có dự án cụ
thể, chi tiết về các hạng mục sẽ sử dụng ODA” với hai loại:
- Viện trợ kĩ thuật: dành cho chuyển giao tri thức, công nghệ,
xây dựng năng lực, tiến hành nghiên cứu cơ bản hay nghiên
cứu tiền đầu tư phát triển thể chế hoặc nguồn nhân lực…
- Viện trợ cơ bản: thực hiện cho các dự án xây dựng giao
thông, điện , thuỷ lợi và các loại kết cấu hạ tầng khác.
3.Quá trình hình thành và phát triển ODA trên thế giới
3.1. Nguồn gốc:
Sau đại chiến Thế giới lần II, các nước công nghiệp phát triển đã thoả thuận
về sự trợ giúp dưới dạng viện trợ không hoàn lại hay cho vay với điều kiện ưu đãi

năm 2005.
 Giảm 2/3 tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh và dưới 5 tuổi. Giảm 3/4 tỉ lệ tử vong
ở tuổi trưởng thành vào 2015
 Hoàn thiện hệ thống y tế, chăm sóc sức khoẻ ban đầu vào 2015
 Thực hiện chiến lược quốc gia và toàn cầu vào năm 2000 vì sự phát
triển bền vững của các nước.
 Bảo vệ môi sinh thái đang là trọng tâm ưu tiên của nhiều nhà tài trợ.
 Vấn đề phụ nữ trong phát triển thường xuyên được đề cập tới trong
chính sách ODA của bên tài trợ.
Hiện nay nguồn cung cấp ODA hạn chế hơn. Trong những năm gần đây,
các nước OECD đang phải đấu tranh để kiểm soát việc thâm hụt ngân sách, kiềm
chế gia tăng chi ngân sách. Mặc dù viện trợ nước ngoài chiếm một phần nhỏ trong
trong GNP của các nước này song nó lại là một trong những hạng mục đầu tiên bị
cắt giảm. Người dân nhiều nước muốn giảm viện trợ ra nước ngoài để chính phủ
7
Tìm hiểu về ODA Nhật Bản cho Việt Nam: Một số đánh giá và đề xuất hoàn thiện
tập trung vào giải quyết các vấn đề kinh tế, xã hội, môi trường trong nước. Theo
số liệu của báo cáo tổng kết DAC năm 1997 cho biết: các nước giàu chỉ giành
binh quân 0,25% GDP, trong khi Liên Hợp Quốc đề nghị 0,7% GDP để viện trợ
cho các nước đang phát triển và hậu quả là tổng viện trợ ODA trên thế giới năm
1998 chỉ đạt 55 tỷ USD, giảm 6% so với năm 1995 và 16% so với 1992. Liên Hợp
Quốc còn kêu gọi các nước phát triển phấn đấu đạt tỷ lệ ODA/GNP là 1% trong
tương lai. Nhưng năm 2005 đã qua đi mà các nước phát triển còn cách xa mục tiêu
0,7%GNP cho viện trợ. Nhật Bản và Hoa Kì là hai nhà tài trợ hàng đầu thế giới, từ
trước đến nay chưa bao giờ dành tới 0,35% GNP cho ODA.
Bên cạnh đó, sự cạnh tranh giữa các nước đang phát triển trong việc thu hút
ODA ngày càng gia tăng. Nguyên nhân của vấn đề này xuất phát từ việc gia tăng
đối tượng nhận viện trợ và các vấn đề mang tính toàn cầu như là môi trường, khắc
phục hậu quả chiến tranh vùng vịnh…
II. Các đặc trưng của ODA

các nước cùng phải chung tay để giải quyết các vấn đề này.
Thứ hai, ODA luôn chứa đựng yếu tố chính trị. Các nước viện trợ đều
không quên dành được lợi ích cho mình, vừa gây ảnh hưởng chính trị vừa đẩy
mạnh xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ tư vấn vào nước nhận viện trợ nhằm mục tiêu
tăng cường vị thế chính trị của mình. Hoa Kỳ là một trong những nước dùng ODA
như là một công cụ để thực hiện chính sách gây “ảnh hưởng chính trị trong thời
gian ngắn”.
Nhật bản là nhà tài trợ hàng đầu trên thế giới và cũng là nhà tài trợ sử dụng
ODA như là một công cụ đa năng về chính trị và kinh tế.Nhật bản quy định ODA
của Nhật được hỗ trợ bằng đồng Yên, điều đó không chỉ giúp Nhật Bản trong việc
quốc tế hoá đồng tiền của mình, Ngân hàng TW các nước nhận viện trợ đã phải bổ
sung đồng yên vào dự trữ của mình, đồng thời các dự án cho vay bằng đồng Yên
9
Tìm hiểu về ODA Nhật Bản cho Việt Nam: Một số đánh giá và đề xuất hoàn thiện
còn tạo điều kiện cho các ngân hàng, dịch vụ tài chính của Nhật thâm nhập vào thị
trường các nước. Hay các dự án cho vay bằng hàng hoá của đã giúp hàng hoá của
nước này dễ dàng có chỗ đứng tại các nước Châu Á.Và thực sự họ đã rất thành
công .Chính vì vậy đối với các nước khi tiếp nhận nguồn vốn phát triển chính thức
ODA cần phải cân nhắc kĩ lưỡng, không vì lợi ích trước mắt mà đánh mất quyền
lợi lâu dài. Quan hệ hỗ trợ phải được đảm bảo tôn trọng toàn vẹn lành thổ, không
tham gia vào công việc nội bộ của nước tiếp nhận viện trợ, công bằng hai bên
cùng có lợi.
1.3. ODA có thể gây nợ:
Do tính chất ưu đãi của loại hình viện trợ này dễ dẫn đến việc quản lí và sử
dụng ODA không được giám sát chặt chẽ, chưa có tầm nhìn dài hạn. Một số nước
do sử dụng ODA kém hiệu quả nên mặc dù có sư tăng trưởng nhất thời, nhưng sau
một thời gian việc sử dụng với hiệu quả không cao đó sẽ dẫn tới gánh nặng nợ
nần, và việc không trả nợ được là rất dễ xảy ra.
Sự phức tạp ở chỗ ODA không có khả năng đầu tư trực tiếp vào quá trình
sản xuất nhất là cho xuất khẩu, trong khi việc trả nợ lại dựa vào xuất khẩu thu

Ưu tiên này của phía Nhật Bản cũng hoàn toàn phù hợp với những ưu tiên và định
hướng phát triển của chính phủ Việt Nam. Chính điều này là cơ sở thuận lợi cho
việc hài hoà mục tiêu sử dụng ODA của hai bên.
2.3. ODA của Nhật Bản tại Việt Nam tập trung nhiều vào phát triển hạ tầng
kinh tế: năng lượng, giao thông.
Có thể thấy xây dựng hạ tầng giao thông và cơ sở phát điện là hai lĩnh vực
ưu tiên của Chính phủ Nhật Bản cho Việt Nam. Riêng giao thông đã chiếm đến
40% tổng lượng ODA đó. Trong những năm qua, chúng ta đã chứng kiến những
thành tựu phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam. Trong đó các công trình huyết
mạch như giao thông, năng lượng, hạ tầng đô thị là minh chứng cho ý nghĩa của
11
Tìm hiểu về ODA Nhật Bản cho Việt Nam: Một số đánh giá và đề xuất hoàn thiện
việc sử dụng vốn vay của Nhật Bản. Phải kể đến các công trình như: xây dựng nhà
máy nhiệt điện Phú Mỹ I, cảng nước sâu Cái Lân, đài truyền hình Trung ương, cải
tạo sông Tô Lịch, Kim Ngưu, sông Lừ…
2.4. Thủ tục vay ODA Nhật Bản sẽ ngày càng chặt chẽ. Trong tương lai khối
lượng ODA của Nhật sẽ ngày càng khan hiếm.
Điều này xuất phát từ những áp lực cả trong lẫn ngoài nước buộc Chính phủ
Nhật Bản phải điều chỉnh chính sách ODA, cắt giảm 30% ODA từ năm 2001. Đây
là một phần trong những cải cách hệ thống tài chính tiền tệ của mình .
Ở trong nước, sự khó khăn về kinh tế tuy có được phục hồi nhưng còn rất
chậm chạp, vì thế dân chúng cho rằng chính trong nước cũng cần được hỗ trợ chứ
không phải ở ngoài nước.
Ở bên ngoài, một số nước phản đối rằng các dự án ODA của Nhật Bản chủ
yếu là nhằm tăng cường ảnh hưởng của Nhật Bản trên trường quốc tế nhiều hơn là
sự giúp đỡ đơn thuần. Các nước gây sức ép yêu cầu Nhật cần gia tăng nhiều hơn
nữa các khoản viện trợ không hoàn lại, chứ không chỉ chú trọng nhiều đến các
khoản cho vay song phương bằng đồng Yên .
Đây là một khó khăn trong việc sử dụng và quản lý ODA ở Việt Nam trong
thời gian tới đòi hỏi phía Việt Nam hoàn thiện hơn cơ chế, chính sách, nâng cao

khoảng 22-25% tổng vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, và luôn khẳng định vai
trò to lớn trong sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
2. ODA giúp các nước nghèo tiếp thu thành tựu khoa học kĩ thuật, công
nghệ hiện đại và phát triển nguồn nhân lực .
Hợp tác kĩ thuật là bộ phận quan trọng trong ODA của Nhật Bản và được
Chính phủ Nhật Bản đặc biệt coi trọng. Thông qua các hình thức hợp tác kĩ thuật,
ODA không chỉ mang đến cho các nước tiền mà còn mang đến các chuyên gia kĩ
13
Tìm hiểu về ODA Nhật Bản cho Việt Nam: Một số đánh giá và đề xuất hoàn thiện
thuật, trang thiết bị máy móc, trực tiếp giúp đào tạo các chuyên gia cho nước nhận
viện trợ.
Đối với Việt Nam, là một nước nông nghiệp, hơn 60% dân cư sống bằng
nghề nông. Nông nghiệp đóng vai trò rất to lớn trong nền kinh tế Việt Nam nói
chung và người dân nông thôn nói riêng, sự phát triển của ngành sẽ góp phần cải
thiện mức sống cho người dân. Do vậy, Nhật Bản đã đặt trọng tâm ODA về hợp
tác kĩ thuật về nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam.
Trong 10 năm qua, 7 dự án về lĩnh vực này đã được thực thi như dự án
“nâng cao kỹ thuật thụ tinh nhân tạo bò”, dự án cung cấp nước sạch nông thôn, dự
án cải tạo môi trường nông thôn…Các dự án đều ít nhiều tác động tích cực đến
thực tiễn sản xuất của nông dân cũng như diện mạo của nông thôn Việt Nam.
Ngoài ra, phát triển nguồn nhân lực cũng là lĩnh vực rất được phía Nhật Bản
quan tâm trong việc tăng cường hợp tác kỹ thuật. Mục đích của các dự án để nâng
cao kiến thức và trình độ của các tổ chức, các doanh nghiệp cũng như đội ngũ kỹ
thuật sản xuất. Những đóng góp to lớn của ODA Nhật Bản trong viện trợ phát
triển nguồn nhân lực là rất đáng kể, và chúng ta luôn đánh giá cao sự hỗ trợ quí
báu này.
3. Hỗ trợ khu vực công cộng trong việc cung ứng hàng hoá công, cải cách
kinh tế và xây dựng thể chế vững mạnh hơn.
Ở các nước đang phát triển hiện nay, có một thực tế rằng khu vực công
cộng vẫn luôn đóng một vai trò vô cùng quan trọng. Khi mà mức sống dân cư còn

chứng cứ gần đây đã chỉ ra rằng điều lo ngại này là không thể có.
Nếu việc phân phối thu nhập không thay đổi nhiều theo thời gian, mức tăng
thu nhập đầu người sẽ tác động đến các bộ phận khác nhau trong xã hội một cách
khá đồng đều. Do vậy ở các nước có tốc độ tăng trưởng nhanh, thu nhập bình quân
15
Tìm hiểu về ODA Nhật Bản cho Việt Nam: Một số đánh giá và đề xuất hoàn thiện
đầu người tăng, thì mức nghèo khổ sẽ giảm xuống. Nhưng ở các nước có thu nhập
không tăng và mức phân phối thu nhập ổn định thì tỉ lệ nghèo khổ sẽ không thay
đổi.
Trong các nền kinh tế đang tăng trưởng,thu nhập bình quân đầu người tăng
4% thì mức nghèo khổ giảm 5%. Trong các nền kinh tế đang suy thoái, thu nhập
bình quân đầu người giảm 7% đã dẫn đến mức độ nghèo khổ tăng lên 19%.
Theo Bruno, Ravallion và Squire( 1998), ở các nước đang phát triển, thu
nhập bình quân đầu người tăng 1% dẫn tới tỉ lệ nghèo khổ giảm 2%. Nói cách
khác, ở những nước có cơ chế quản lý tốt, viện trợ tăng lên 1% GDP thực tế tạo
thêm 0,5% tăng trưởng và do vậy giảm tỉ lệ nghèo khổ xuống 1%. Một minh
chứng về mối quan hệ giữa viện trợ và giảm tỉ lệ tử vong trẻ sơ sinh là với cơ chế
quản lí tốt, viện trợ tăng lên 1% GDP làm cho tỉ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh giảm
0,9%.
Biểu 1: Tỉ lệ giảm tử vong ở trẻ sơ sinh khi tăng 1% viện trợ
0
0.1
0.2
0.3
0.4
0.5
0.6
0.7
0.8
0.9

nhất cho Thái Lan là Nhật Bản. Và Thái Lan đã tìm ra cách sử dụng hiệu quả
nguồn vốn này. Phần vốn không hoàn lại của ODA đã được chính phủ dùng để
xây dựng cơ sở hạ tầng xã hội như giáo dục, y tế, đầu tư cho nông nghiệp…Do
tính chất ưu đãi của phần vốn vay ODA như thời gian trả nợ dài, lãi suất thấp, có
thời gian ân hạn nên nguồn vốn này được dùng để đầu tư cho hạ tầng kinh tế như
giao thông, thông tin liên lạc, năng lượng, thuỷ lợi…là những lĩnh vực cần đầu tư
17
Tìm hiểu về ODA Nhật Bản cho Việt Nam: Một số đánh giá và đề xuất hoàn thiện
vốn lớn, thời gian thu hồi vốn lâu. Và chính cách sử dụng này đã mang lại thành
công cho Thái Lan.
• Thành công nhờ việc nhìn nhận được quan hệ giữa nguồn vốn ODA
và các nguồn vốn khác và tính chất của các nguồn vốn này.
Trong những thập niên vừa qua,các nước NICs trong khu vực châu Á như
Hàn Quốc, Singapore …luôn đạt được tỉ lệ đầu tư rất cao. Hàn quốc đạt tỉ lệ đầu
tư là 40% trong tổng GNP, các nước khác cũng phải trên dưới 30%. Để có được tỉ
lệ đầu tư ở mức cao như vậy các nước này đã dựa vào nguồn vốn nước ngoài.
Số vốn đầu tư này được tập trung từ 3 nguồn : Viện trợ và đi vay của nước
ngoài hoặc các tổ chức tài chính quốc tế, tích luỹ trong nước và đầu tư trực tiếp từ
nước ngoài.
Vốn vay dài hạn chủ yếu đựơc đầu tư cho cơ sở hạ tầng. Hạn chế vốn vay
ngắn hạn và tuyệt đối không sử dụng vốn vay thương mại để xây dựng cơ sở hạ
tầng. Chính cách sử dụng nguồn vốn vay như vậy đã giúp họ hạn chế ban đầu
những khó khăn về vốn đầu tư mà vẫn giữ được uy tín với quốc tế vì thời gian vay
dài đã giúp họ khi phải trả không gặp mấy khó khăn.
Hai nguồn vốn ODA và FDI có quan hệ chặt chẽ. Nếu không có đủ nguồn
vốn ODA cần thiết, việc hiện đại hoá cơ sở hạ tầng xã hội sẽ gặp khó khăn, dẫn
đến việc thu hút và hấp thụ kém hiệu quả nguồn vốn FDI. Ngược lại nếu chỉ tập
trung vào việc tìm kiếm ODA mà không thu hút FDI thì chính phủ sẽ không đủ
thu nhập để trả nợ ODA. Do việc xác định được mối quan hệ chặt chẽ đó, các
nước này đồng thời sử dụng ODA kết hợp hiệu quả với việc thu hút FDI.

nước ngoài hàng năm không vượt quá 10% kế hoạch thu ngân sách hàng năm của
chính phủ và không vượt quá 25% số dư nợ do Bộ tài chính đứng ra vay hoặc bảo
19
Tìm hiểu về ODA Nhật Bản cho Việt Nam: Một số đánh giá và đề xuất hoàn thiện
lãnh. Mức trả nợ bằng 9% kim ngạch xuất khẩu hoặc 20% chi ngân sách hàng
năm.
2. Bài học kinh nghiệm chưa thành công của các nước
• Công tác quản lý, điều phối ODA kém,tràn lan đã gây ra hiệu quả
thấp, dẫn tới các nước này trở thành những con nợ khó có khả năng
thanh toán.
Trong giai đoạn đầu, khi còn thời gian ân hạn, áp lực trả nợ chưa cao, một
số nước đã không tính đến nhu cầu thực tế và khả năng trả nợ của mình. Ở Châu
phi, một khối lượng viện trợ quá lớn đã đựơc sử dụng để xây công sở, biệt thự lớn,
đầu tư chủ yếu đựơc dành cho thành thị, xem nhược nông thôn. Việc sử dụng này
đã dẫn tới việc mất cân đối trong sự phát triển chung, gây ra sự kém hiệu quả của
các dự án.
Mỹ La Tinh, điển hình là Braxin, nước này đã sử dụng vốn nước ngoài đồng
thời với việc tiến hành một chương trình xây dựng kinh tế cực kì to lớn. Nước này
đã xây dựng nhiều nhà máy thuỷ điện mà chỉ riêng một nhà máy đã đòi hỏi vốn
lớn gấp 10 lần số vốn cần để đầu tư vào chương trình thuỷ lợi của toàn bộ vùng
Đông Bắc, xây dựng 9 nhà máy điện hạt nhân, tổ hợp nông công nghiệp gang thép
vùng Đông bắc hết 68 tỷ USD. Và kết quả là nước này đã trở thành con nợ lớn
nhất thế giới với tổng số nợ là 108 tỷ USD. Và Braxin đã là một trong hai nước
đầu tiên tuyên bố vỡ nợ vào tháng 8 năm 1992.
Ngoài việc sử dụng một cách ồ ạt, thì việc chính phủ đứng ra bảo lãnh
cho tất cả các khoản vay nước ngoài của các doanh nghiệp tư nhân và doanh
nghiệp nhà nước cũng gây ra việc tăng nguy cơ vỡ nợ về các khoản vay cho các
quốc gia này. Người đi vay không đối diện với người cho vay đã dẫn tới việc vay
nước ngoài tràn lan của các doanh nghiệp. Và vấn đề sẽ nảy sinh nếu doanh
nghiệp này không có khả năng thanh toán, người đứng ra gánh chịu hậu quả sẽ là

lập từ việc sát nhập hai tổ chức Quỹ hợp tác kinh tế hải ngoại Nhật Bản (OECF)
và Ngân hàng xuất nhập khẩu Nhật Bản( JEXIM). OECF đã nối lại hoạt động cho
vay tại Việt Nam vào tháng 11/1992 qua việc cung cấp một khoản cho vay hàng
hoá trị giá 45.500 triệu Yên Nhật, phân bổ cho 44 dự án phát triển và 4 khoản cho
vay hàng hoá. Từ đó đến nay, nguồn vốn phát triển chính thức ODA của Nhật Bản
cho Việt Nam luôn giữ ở mức cao và ổn định.
Theo tổng vay tích luỹ theo năm, ngành và theo tỷ trọng được minh hoạ
trong bảng sau đây:
Biểu 2. Các khoản vay cam kết theo ngành và năm của JBIC cho VN
(Đơn vị: triệu Yên)
Tài khoá
Ngành
1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999
Điện/Khí - 29.135 38.411 24.962 55.831 25.529 25.630 -
Giao thông vận tải - 20.669 8.383 38.038 7.739 29.605 46.370 59.867
Viễn thông liên lạc - - - - 1.997 11.930 - 21.414
Thuỷ lợi và phòng
chống lũ lụt
- - - - - - - -
Nông-Lâm-Ngư nghiệp - - - - - - - -
Khai thác và sản xuất - - - - - - 4.000 -
Dịch vụ xã hội - - 6.406 7.000 15.433 17.936 12.000 -
Vốn vay hàng hoá 45.500 2.500 4.800 - - - - 20.000
Tổng 45.500 52.304 58.000 70.000 81.000 85.000 88.000 101.281
22
Tìm hiểu về ODA Nhật Bản cho Việt Nam: Một số đánh giá và đề xuất hoàn thiện
Nguồn: Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản JBIC – 2005
Biểu 3: Cam kết theo ngành của JBIC
Tài khoá
Ngành

Thuỷ lợi và phòng
chống lũ lụt
Nông-Lâm-Ngư
nghiệp
Khai thác và sản
xuất
Dịch vụ xã hội
Vốn vay hàng hoá
Nguồn: Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản JBIC – 2005
Quan hệ Việt - Nhật bình thường trở lại từ đầu thập niên 1990. Không kể
45,5 tỷ Yên vốn vay mua hàng hoá vào cuối những năm 1992, ODA của Nhật
nhằm giúp xây dựng cơ sở hạ tầng cho Việt Nam bắt đầu với quy mô 52,3 tỷ Yên
( khoảng 500 triệu USD) vào năm 1993 và 58 tỷ Yên năm 1994. ODA của Nhật
cho Việt Nam liên tục sau đó, có năm lên tới 100 tỷ Yên( trung bình mỗi năm 80
tỷ Yên). Trong quá khứ chỉ có Hàn Quốc, Indonesia , Trung Quốc, Thái Lan và
Philippines là những nước tiếp nhận ODA của Nhật với quy mô lớn như vậy. Đây
có thể coi là thành công trong công tác ngoại giao của Chính phủ Việt Nam với
phía Nhật Bản.
Từ năm 1993, cộng đồng quốc tế đã mở Hội nghị các nhà tài trợ để nghe
Chính phủ Việt Nam trình bày kế hoạch phát triển kinh tế và theo đó cam kết
cung cấp ODA giúp Việt Nam xây dựng cơ sở hạ tầng thực hiện kế hoạch phát
triển. Nhật là nước tích cực nhất ở Hội nghị này. Trung bình Nhật cung cấp tới
30% tổng ODA mà Việt Nam nhận từ các nhà tài trợ, kể cả song phương ( giữa
Việt Nam với một nước khác) và đa phương (giữa Việt Nam với các tổ chức quốc
24
Tìm hiểu về ODA Nhật Bản cho Việt Nam: Một số đánh giá và đề xuất hoàn thiện
tế như Ngân hàng thế giới WB, Quỹ tiền tệ quốc tế IMF). Trong ODA song
phương, riêng Nhật chiếm khoảng 40%, có năm lên tới 50%. Kể cả ODA vừa kí
kết giữa Việt Nam với Nhật Bản ngày 31/3/2006 vừa qua thì từ năm 1992 đến
nay, Nhật đã cung cấp ODA cho Việt Nam với tổng số tiền là 1058 tỷ Yên ( xấp xỉ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status