TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 3(26).2008
123
HỘI NHẬP MỞ CỬA VÀ SỰ PHÁT TRIỂN
KINH TẾ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
INTERGRATION, OPENESS, AND ECONOMIC DEVELOPMENT
OF DANANG CITY
BÙI QUANG BÌNH
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng
TÓM TẮT
Lịch sử hình thành và phát triển của Thành phố Đà Nẵng luôn chứa trong đó yếu
tố hội nhập và mở cửa. Mười năm qua, sự phát triển kinh tế của địa phương luôn
duy trì ở mức độ nhanh. Sự hội nhập và mở cửa của Việt Nam ngày càng sâu và
rộng sẽ ảnh hưởng thế nào tới sự phát triển kinh tế của Đà Nẵng? Thành phố
phải làm thế nào để tận dụng được những cơ hội đó? Bài viết này sẽ góp phần
trả lời cho câu hỏi trên.
ABSTRACT
In the history of establishment and development of Danang City, there are always
the factors for integration, openess and economic development. In the past ten
years, the local economic development has been kept at a fast pace. How will the
integration and openess of Vietnam affect the economic development of the City?
How can Danang City take the best of those opportunities. This paper will
contribute an answer to these questions.
1. Đặt vấn đề
Quá trình hội nhập và mở cửa nền kinh tế đã có những ảnh hưởng lớn tới
sự phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam nói chung và Thành phố Đà Nẵng nói
riêng. Kể từ khi ra nhập WTO cho đến nay, Việt Nam bắt đầu thực hiện các cam
kết theo lộ trình đã ký như việc bắt đầu xóa bỏ dần các rào cản, mở cửa hơn nền
là 9,4% năm
(4)
. Như vậy, tăng trưởng kinh tế của Đà Nẵng cao hơn mức trung
bình của cả nước.
Cơ cấu kinh tế của Đà Nẵng đã có những thay đổi đáng kể. Từ năm 1997
tới 2006 công nghiệp – xây dựng có nhiều biến động, từ 54,4 % năm 1997 giảm
xuống còn 39,8% năm 2000 (- 14,6%), sau năm 2000 tăng trở lại đến 51,9% năm
2006 (+ 11.1%). Dịch vụ tăng mạnh từ 35,8% năm 1997 lên 51,1% năm 2000 (+
16,2%) và giảm dần xuống 43,2% năm 2006 (- 12.1%). Nông nghiệp giảm dần
trong cơ cấu kinh tế từ 9,7% năm 1997 còn 4,8% năm 2006 (- 4,9%)
(5)
. Xu hướng
điều chỉnh tăng công nghiệp xây dựng liên tục, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp và
dịch vụ. Nhưng nếu xu hướng này tiếp tục duy trì trong thời gian tới sẽ không tốt
tới sự phát triển của nền kinh tế. Mặc dù nền kinh tế đã có sự chuyển dịch theo
hướng công nghiệp hóa, để khai thác những điều kiện thuận lợi về địa lý, tài
nguyên và cơ sở hạ tầng cho phát triển kinh tế cần phải thúc đẩy sự phát triển
mạnh mẽ hơn khu vực thương mại và dịch vụ, qua đó thúc đẩy sự tăng trưởng
mạnh hơn và giúp cho Đà Nẵng tận dụng được những cơ hội do quá trình hội nhập
và mở cửa đưa tới.
Theo tỷ lệ đóng góp vào 1% tăng trưởng, ngành công nghiệp xây dựng
luôn đóng góp nhiều nhất trên 50%, tiếp theo là ngành dịch vụ. Nông nghiệp đóng
góp không nhiều, và cần phải chuyển dịch cơ cấu mạnh hơn.
Theo các yếu tố đầu vào thì việc đầu tư cho nông nghiệp thấp, nhưng khu
vực này tạo ra 21-25% tổng số việc làm cho lao động. Nhưng năng suất lao động
nông nghiệp rất thấp vì lao động nông nghiệp chỉ tạo ra khoảng 4,8% GDP năm
2006. Tỷ lệ vốn đầu tư cho ngành công nghiệp- xây dựng trong tổng số vốn đầu tư
đang có xu hướng giảm dần, từ trên 30% năm 2001 chỉ còn chiếm gần 21% năm
2006 và khu vực này đang có số việc làm lớn nhất chiếm hơn 41% tổng số và đóng
góp gần 52% GDP năm 2006. Ngành dịch vụ đang là ngành có lượng vốn lớn nhất
1989
1991
1993
1995
1997
1999
2001
2003
2005
Năm
%
Tốc độ tăng
GDP
Tốc độ tăng
thuế Nhập khẩu
Tốc độ tăng FDI
Tốc độ tăng
doanh thu du
lịch
Nếu xem xét một số chỉ tiêu như tỷ lệ tăng thu thuế nhập khẩu, tỷ lệ tăng
doanh thu từ du lịch và tỷ lệ tăng trưởng vốn đầu tư nước ngoài của nền kinh tế Đà
Nẵng cho thấy dường như tồn tại mối quan hệ giữa chúng với tốc độ tăng GDP
theo thời gian. Tỷ lệ tăng của thuế nhập khẩu giảm dần theo thời gian trong khi
GDP tăng lên. Tỷ lệ tăng của doanh thu từ du lịch và tỷ lệ tăng FDI của Đà Nẵng
cũng tăng dần cùng chiều với sự gia tăng GDP. Các xu hướng này được thể hiện
qua biểu 1.
Kết quả đó cho thấy dường như quá trình cải cách và mở của nền kinh tế
theo thời gian đổi mới của Việt Nam cũng là thời kỳ kinh tế địa phương này có sự
tăng trưởng cao hơn. Nhưng cũng đặt ra vấn đề cần thiết phải ước lượng cho được
của mình, Mei Wen đã sử dụng mô hình Cobb-Douglas để xác định những ảnh
hưởng của FDI và xuất khẩu tới tăng trưởng kinh tế. Ở đây ảnh hưởng của FDI
thông qua tỷ lệ FDI và GDP, và tỷ lệ tăng xuất khẩu.
Từ những nghiên cứu và thực tiễn đó chúng tôi hình thành giả thuyết
nghiên cứu mà theo đó các yếu tố chính sách tạo ra độ mở của nền kinh tế, đây là
những yếu tố ảnh hưởng tích cực tới tăng trưởng của nền kinh tế. Dựa trên giả
thuyết này chúng tôi xây dựng dữ liệu liên qua tới biến giải thích (biến độc lập)
như dưới đây và biến phụ thuộc (biến mục tiêu) GDP.
Trong nghiên cứu này chúng tôi cũng sẽ sử dụng mô hình Cobb – Douglas
tổng quát để đo lường sự ảnh hưởng từ các nhân tố sản xuất nói chung, và các yếu
tố liên qua tới chính sách hội nhập và mở cửa. Số liệu ở đây là số liệu thống kê của
Thành phố Đà Nẵng về tư bản lao động làm việc trong nền kinh tế, cũng như tổng
thuế nhập khẩu, tổng FDI vào thành phố, tổng doanh thu từ du lịch và tổng chi tiêu
cho giáo dục của thành phố bao gồm cả của nhà nước và người dân. Từ các số liệu
trên chúng tôi đã xây dựng biến chính sách gọi tắt là chính sách thuế nhập khẩu
(poTexIm), chính sách thu hút đầu tư nước ngoài vào Thành phố Đà Nẵng (poFDI)
và chính sách phát triển du lịch (potour).
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 3(26).2008
127
Ngoài ra chúng tôi cũng tạo thêm một biến chính sách giáo dục (Poedu)
qua đó đánh giá ảnh hưởng từ việc đầu tư vào vốn con người (human capital) tới
sự phát triển kinh tế. Như kinh nghiệm của thế giới cho thấy nguồn vốn này ảnh
hưởng ngày càng lớn trong sự phát triển kinh tế xã hội, nâng cao khả năng cạnh
tranh của mỗi nước trong quá trình hội nhập mở cửa giữa các thành viên WTO.
Nguồn số liệu từ thống kê của thành phố từ năm 1981, do vậy những số
liệu từ trước khi Thành phố Đà Nẵng tách ra từ tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng cũ năm
1997 được tính tách riêng từ số liệu tỉnh cũ được Cục Thống kê Thành phố Đà
Nẵng thực hiện trong chú thích (2) và những năm sau 1997 là số liệu từ Niên giám
thống kê thành phố Đà Nẵng.
tại mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế của Thành phố Đà Nẵng và quá trình hội
nhập mở cửa đặc biệt sau khi ra nhập WTO của Việt Nam. Quá trình hội nhập và
mở cửa được thể hiện qua các nhân tố chính sách thu hút FDI, chính sách thuế