đề thi môn kinh tế vi mô k33 - Pdf 16

ĐỀ THI KINH TẾ VI MÔ K33
Chọn câu đúng trong các câu a, b, c, d và đánh dấu X vào bảng trả lời
Câu 1: Hàng hóa X có Ep=-0,5. Giá hàng hóa X tăng lên 10%, vậy doanh
thu của hàng hóa X sẽ:
A Tăng lên 5% B Tăng lên 20% C Tăng lên 4,5% D
Tất cả đều sai
Câu 2: Hàm số cầu của hàng hóa X có dạng: Qd=100-2P. Tại mức giá bằng
40 để tăng doanh thu doanh nghiệp nên:
A Giảm giá, giảm lượng B Tăng giá, giảm lượng
C Giảm giá, tăng lượng D Tăng giá, tăng lượng
Câu 3: Hàm số cầu của hàng hóa X có dạng: Qd=100-2P. Để doanh thu của
doanh nghiệp đạt cực đại thì mức giá phải bằng:
A 20 B 25 C 30 D
50
Câu 4: Hàng hóa X ngày càng phù hợp hơn với thị hiếu, sở thích của người
tiêu dùng, những yếu tố khác không đổi, vậy giá và lượng cân bằng cho hàng
hóa X sẽ:
A Giá tăng, lượng giảm B Giá giảm, lượng giảm
C Giá giảm, lượng tăng D Giá tăng, lượng tăng
Câu 5: Giá hàng hóa thay thế cho hàng hóa X đang giảm mạnh, những yếu
tố khác không đổi, vậy giá và lượng cân bằng cho hàng hóa X sẽ:
A Giá giảm, lượng tăng B Giá giảm, lượng giảm
C Giá tăng, lượng giảm D Giá tăng, lương tăng
Câu 6: Trên cùng một đường cầu tuyến tính dốc xuống theo qui luật cầu,
tương ứng với mức giá càng cao thì độ co giãn của cầu theo giá sẽ:
A Không đổi B Càng thấp C Không biết được D
Càng cao
Câu 7: Hàm số cầu của hàng hóa X có dạng: Qd=100-2P. Tại mức giá bằng
20 để tăng doanh thu doanh nghiệp nên:
A Tăng giá, tăng lượng B Giảm giá, giảm lượng
C Giảm giá, tăng lượng D Tăng giá, giảm lượng

100
Câu 15: Mức lợi nhuận cực đại bằng:
A 24.800 B Tất cả đều sai C 50.000 D
88.000
Câu 16: Để tối đa hóa lợi nhuận, doanh nghiệp sẽ sản xuất ở mức sản
lượng:
A 100 B Tất cả đều sai C 150 D
500
Câu 17: Doanh thu tối đa sẽ bằng
A 150.000 B 250.000 C 125.000 D
Tất cả đều sai
Câu 18: Để tối đa hóa doanh thu thì mức sản lượng Q phải bằng:
A 300 B 500 C 250 D
Tất cả đều sai
Dùng số liệu sau để trả lời các câu hỏi có liên quan.
Hàm sản xuất có dạng Q=4L
0,6
K
0,8
; Pl=2; Pk=4; Qmax=10.000
Câu 19: Kết hợp sản xuất tối ưu thì vốn K bằng:
A 225 B 325 C Cả ba câu đều sai D
555
Câu 20: Kết hợp sản xuất tối ưu thì chi phí sản xuất tối thiểu TCmin bằng:
A 1.200 B 1.574 C 3.000 D
Cả ba câu đều sai
Câu 21: Kết hợp sản xuất tối ưu thì lao động L bằng:
A 250 B Cả ba câu đều sai C 337 D
450
Dùng số liệu sau để trả lời các câu hỏi có liên quan.

Câu 26: Nếu giá thị trường Pe bằng 500 thì sản lượng tối ưu để lợi nhuận
cực đại là:
A Q=4,14 B Q=20,15 C Q=10,15 D
Cả ba câu đều sai
Câu 27: Doanh nghiệp theo đuổi mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận nhưng bị
hòa vốn, khi ấy sản lượng hòa vốn bằng:
A Q=20,50 B Q=15,25 C Cả ba câu đều sai D
Q=2,99
Câu 28: Nếu giá thị trường Pe bằng 500 thì lợi nhuận cực đại của doanh
nghiệp bằng:
A ∏=100,50 B ∏=2.000 C Cả ba câu đều sai D
∏=846,18
Câu 29: Điểm hòa vốn cũng chính là điểm ngừng kinh doanh của doanh
nghiệp khi doanh nghiệp có:
A FC=0 B Cả ba câu đều sai C TR=TC D
TR=VC
Câu 30: Mục tiêu tối đa hóa doanh thu cũng chính là mục tiêu tối đa hóa lợi
nhuận khi:
A Cả ba câu đều đúng B VC=0 C
MC=0 D TC=FC
Câu 31: Nhà độc quyền đang bán 4 đơn vị sản phẩm ở mức giá là 10000
đồng/sản phẩm. Nếu doanh thu biên của đơn vị thứ 5 là 6 ngàn đồng, thì
doanh nghiệp bán 5 sản phẩm với mức giá là:
A Tất cả đều sai B 9.200 C 10.000 D
6.000
Câu 32: Nếu doanh nghiệp trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo định mức
sản lượng tại đó có doanh thu biên bằng chi phí biên bằng chi phí trung bình,
thì lợi nhuận kinh tế sẽ:
A Bằng không B Lớn hơn không C Nhỏ hơn không D
Tất cả đều sai

Câu 40: Đường cung ngắn hạn của doanh nghiệp trong thị trường cạnh
tranh hoàn toàn là:
A Đường chi phí biên MC nằm trên điểm cực tiểu của đường chi phí
trung bình B Đường chi phí biên C Đường chi phí biên
MC nằm trên điểm cực tiểu của đường chi phí biến đổi trung bình D
Tất cả đều sai
Câu 41: Nếu hữu dụng biên có xu hướng dương và giảm dần khi gia tăng
lượng tiêu dùng thì:
A Tổng hữu dụng sẽ giảm dần B Tổng hữu dụng sẽ tăng
nhanh dần C Tổng hữu dụng sẽ tăng chậm dần D
Tổng hữu dụng sẽ không đổi
Câu 42: Nếu doanh nghiệp độc quyền định mức sản lượng tại đó có doanh
thu biên bằng chi phí biên bằng chi phí trung bình, thì lợi nhuận kinh tế sẽ:
A Bằng không B Nhỏ hơn không C Lớn hơn không D
Tất cả đều sai
Câu 43: Doanh nghiệp tăng giá sản phẩm X lên 20%. Kết quả làm doanh
thu tăng lên 8%. Vậy Ep của mặt hàng này bằng:
A -1,5 B Tất cả đều sai C -5 D
-0,5
Câu 44: Khi doanh nghiệp tăng sản lượng mà làm lợi nhuận giảm,điều này
có thể là do:
A Doanh thu biên nhỏ hơn chi phí biên B Doanh thu biên bằng
chi phí biên C Doanh thu biên lớn hơn chi phí biên D
Tất cả đều sai
Câu 45: Lợi nhuận kinh tế (∏) thì bằng:
A (P-AC)*Q B P.S – FC C Cả ba câu đều đúngD
TR - TC
Câu 46: Khi cung và cầu của cùng một sản phẩm tăng lên thì:
A Lượng cân bằng chắc chắn tăng, giá cân bằng không biết chắc B
Lượng cân bằng chắc chắn giảm, giá cân bằng không biết chắc C

biên độ 66.34%, riêng Công ty CATACO là 80,88%.
Ngày 6/9, Công ty QVD đã có công văn kiến nghị gửi cho DOC trong đó nêu rõ hai sai
sót lớn trong cách tính toán biên độ thuế chống bán phá giá của DOC đưa ra đối với QVD
(công ty chịu mức biên độ 66.34%), đó là việc áp dụng sai tỷ giá hối đoái và tính giá phí
kho lạnh không đúng.
Ngày 11/9/2006, Ông Alex Villanueva, đại diện Văn phòng 9 thuộc Cục Quản lý Nhập
khẩu của DOC, đã có thư gửi QVD trong đó thừa nhận sai sót trong cách tính toán, khiến
mức thuế sơ bộ QVD phải chịu bị sai lệch tới hơn 400% so với mức thuế thực tế. Nếu
không mắc phải các sai sót trên thì mức thuế chống bán phá giá của QVD chỉ là 14,51%.
Bức thư cũng cho biết, những kiến nghị về sai sót trên sẽ được xem xét trong việc xác
định kết quả đánh giá hành chính cuối cùng của DOC.
VASEP cũng cho biết, riêng công ty Vĩnh Hoàn, trong đánh giá hành chính năm thứ nhất
DOC đã áp mức thuế 6,81% cho công ty. Đợt đánh giá hành chính năm thứ 2 này, Vĩnh
Hoàn không tham gia và giữ nguyên mức thuế cũ.
MỸ GIẢM THUẾ CHỐNG PHÁ GIÁ VỚI CÁ TRA VIỆT NAM
Theo tin từ Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), Bộ Thương
mại Hoa Kỳ (DOC) vừa giảm thuế chống bán phá giá cho cá tra Việt Nam.
Theo đó, thuế chống bán phá giá cá tra của một số doanh nghiệp Việt Nam xuất sang Mỹ
từ giai đoạn 1/8/2008 đến 31/7/2009 giảm xuống 0% thay cho đề xuất 130% trước đó.
Ông Trương Đình Hòe, Tổng thư ký VASEP cho biết, đây là kết quả cuối cùng của đợt
xem xét hành chính lần 6 (POR6) về thuế chống bán phá giá cá tra.
Việc thuế chống bán phá giá cá tra giảm thấp so với mức 130% của lần xem xét trước
(công bố vào tháng 9/2010) do DOC chọn Bangladesh làm quốc gia thứ ba thay thế để
tính biên độ chống bán phá giá cho cá tra Việt Nam thay vì Philippines.
Các bị đơn tự nguyện khác cũng được giảm thuế còn 0-0,2%. Mức thuế áp cho các doanh
nghiệp còn lại không tham gia đợt xem xét trên (ngoài danh sách bị đơn bắt buộc và tự
nguyện) là 2,11 USD/kg (khoảng 63,38%), bằng mức thuế của POR5.
Theo Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản VN (VASEP), nguyên nhân có sự thay đổi
về thuế “ngoạn mục” trên do DOC đã quay lại sử dụng số liệu từ Bangladesh thay vì
Philippines bởi sự ổn định và chính xác hơn về các nguồn số liệu so sánh. Các năm trước

buộc trên chỉ phải chịu mức thuế chống bán phá giá 0% và các công ty khác chịu mức
thuế thấp hơn nhiều. Mức thuế lần này tăng đột biến không chỉ khiến doanh nghiệp mà cả
hiệp hội ngỡ ngàng. “Đây là mức thuế hết sức phi lý gây ảnh hưởng đến xuất khẩu của
doanh nghiệp cá tra VN vào Mỹ trong thời gian tới” - ông Hòe cho biết.
Khó khăn mà các doanh nghiệp xuất khẩu cá tra sang Mỹ trong thời gian tới gặp
phải khi DOC thông qua mức thuế chính thức là ngoài việc phải đóng thuế cho các
lô hàng đã xuất khẩu, các doanh nghiệp sẽ phải đóng tiền đặt cọc tương đương với
mức thuế mà DOC đưa ra kể từ tháng 3-2011. Ví dụ, nếu một doanh nghiệp có
doanh số xuất khẩu 100 triệu USD thì với mức thuế 130% sẽ phải đóng quỹ 130
triệu USD trước khi xuất hàng vào Mỹ. Đây là một khoản tiền không hề nhỏ, doanh
nghiệp khó có thể đáp ứng.
Theo một nhà nhập khẩu cá tra thuộc Hiệp hội Thủy sản Hoa Kỳ (NFI), mức thuế tăng
đồng nghĩa với việc giá bán cá tra tại thị trường Mỹ thời gian tới tăng và sức cạnh tranh
của cá tra VN so với các sản phẩm thủy sản khác sẽ giảm.
Không theo thông lệ quốc tế
Theo luật sư Andrew B.Schroth thuộc Hãng luật Grunfeld, Desiderio, Lebowitz,
Silverman & Klestadt LLP (Mỹ), tư vấn về kiện chống bán phá giá cho các doanh nghiệp
thủy sản VN, việc thuế chống bán phá giá POR6 tăng vọt trong thời gian qua là do DOC
đã thay đổi quốc gia thay thế của VN trong việc tính các yếu tố đầu vào từ Philippines
thay vì Bangladesh như trước.
Ông Hòe giải thích thêm so với Bangladesh, giá nguyên liệu nuôi của Philippines tăng
2,5 lần, chi phí nhân công tăng 2 lần và chi phí quản lý cao hơn đến trên 40% nên giá
thành nuôi tại đây cao hơn nhiều. Vấn đề là cả nước Philippines chỉ có 36 ao nuôi cá với
sản lượng khoảng 12.000 tấn/năm và chỉ dành cho tiêu thụ nội địa chứ không xuất khẩu.
Trong khi sản lượng của Bangladesh cao gấp 10 lần của Philippines.
Theo ông Andrew B.Schroth, kết quả của POR6 mang tính trừng phạt các doanh nghiệp
VN hơn là thay đổi việc bán phá giá cá tra VN vào Mỹ. Kết quả cuối cùng sẽ có ít nhất
trong sáu tháng nữa, vậy nên các doanh nghiệp VN phải làm việc cật lực để có thể thay
đổi được kết quả này.
Đại diện công ty luật cũng cho biết đơn vị này đang tiến hành điều tra và thu thập dữ liệu

sở so sánh chi phí đầu vào. Trong những lần xem xét trước, Mỹ lấy Bangladesh (nước có nền
kinh tế và công nghệ nuôi cá tra tương đương Việt Nam) làm nước thay thuế để điều tra thuế
chống bán phá giá nhưng lần này Mỹ lại chọn Philippines.
Hiện nay, các chi phí đầu vào sản xuất cá tra của Philippines đều cao hơn rất nhiều so với Việt
Nam và Bangladesh. Cụ thể như, giá thức ăn cho cá tra Việt Nam chỉ khoảng 0,5 USD/kg còn
tại Philippines xấp xỉ những 2 USD/kg, mức chi phí nguyên liệu của Philippines cao hơn
Bangladesh 2,5 lần, chi phí nhân công cao gấp đôi và chi phí quản lý cao hơn đến 40%. Đó là
chưa kể Philippines là nước chưa có nghề nuôi cá tra phát triển như ở Việt Nam, họ chỉ sản
xuất được 12 tấn cá trên 36 ao, thấp hơn 10 lần so với Bangladesh và nước này chưa bao giờ
xuất khẩu cá tra. Do đó, việc sử dụng Philippines làm nước thay thuế để điều tra thuế chống
bán phá giá cá tra Việt Nam- một nước hàng đầu về nuôi và chế biến cá tra xuất khẩu trên thế
giới- là hoàn toàn không hợp lý.
Với tinh thần trách nhiệm và bằng tất cả khả năng của mình, VASEP đang tiến hành đàm phán
với DOC theo đúng lịch trình của đợt xem xét trước khi phía Mỹ đưa ra kết luận cuối cùng vào
tháng 3/2011. Hiện những thông tin, tư liệu cần thiết cho quá trình xem xét này đã được
VASEP cung cấp cho phía DOC, đồng thời thuyết phục DOC lấy Bangladesh làm quốc gia thay
thế trong việc tính giá thành sản phẩm cá tra chứ không phải là Philippines như trong kết luận
sơ bộ. “Tuy nhiên, dù bất luận kết quả thế nào chăng nữa, các nhà chế biến xuất khẩu cá tra
Việt Nam cũng không thể chấp nhận mức thuế áp đặt một cách vô lý như vậy”- ông Hoè nhấn
mạnh.
Càng ngày các DN xuất khẩu càng gặp nhiều khó khăn hơn, từ vấn đề chất lượng, giá cả cho
đến các vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm, gian lận thương mại, …. Tháng 3 tới đây, nếu cá
tra Việt Nam bị áp thuế vào thị trường Mỹ thì các DN xuất khẩu cá tra vào thị trường này “khó
sống”. Theo ông Nguyễn Văn Phấn- Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần chế biến thủy sản Hiệp
Thanh (Cần Thơ)- mức thuế 0-5% đã gây khó khăn cho DN xuất khẩu vào Mỹ, nếu chịu mức
thuế 130% thì không có bất cứ DN nào có thể bán được tại thị trường này.
NHỮNG GIẢI PHÁP GIÚP DAONH NGHIỆP VIỆT NAM ĐỐI PHÓ VỚI RÀO CẢN “CHỐNG
BÁN PHÁ GIÁ” Ở NƯỚC NHẬP KHẨU
GS.TS. VÕ THANH THU & GS.TS. ĐOÀN THỊ THANH XUÂN
Nhằm giúp các doanh nghiệp Việt Nam (VN) đối phó với rào cản “Chống bán phá

giải pháp đồng bộ, trong đó có giải pháp: bảo đảm cân đối cung cầu về hàng hóa, đẩy
mạnh xuất khẩu, giảm nhập siêu. Để đẩy mạnh XK bên cạnh việc cải tiến cơ cấu hàng
XK, cơ chế và chính sách XK, đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại,… phải đặc biệt
quan tâm đến việc đối phó với rào cản “Chống bán phá giá” ở nước nhập khẩu. Bởi bị
kiện bán phá giá ở nước nhập khẩusẽ gây khó khăn, tốn kém cho nhà XK và nếu bị thua
kiện thì bị áp thuế NK rất cao, khiến sức cạnh tranh của hàng XK VN đã yếu lại càng
thêm yếu, làm cản trở hoạt động XK, thậm chí có thể làm mất thị trường. Thời gian gần
đây, các vụ kiện bán phá giá đối với hàng XK của VN ngày càng gia tăng, nếu cách đây
10 năm chỉ có 1-2 vụ kiện, thì nay đã có trên 25 vụ kiện; nếu trước đây những mặt hàng
bị kiện là những mặt hàng thứ yếu, kim ngạch xuất khẩu không lớn, như: quẹt ga, bóng
đèn, xe đạp… thì nay bị kiện ở những mặt hàng xuất khẩu chủ lực: tôm sú, cá basa, giày
dép… trên những thị trường chủ lực. Các doanh nghiệp VN rất lo ngại, lúng túng trong
việc đối phó với những vụ kiện này và mong đợi có những đề tài nghiên cứu, những cẩm
nang hướng dẫn giúp vượt qua rào cản “Chống bán phá giá”.
Luật chống bán phá giá đầu tiên trên thế giới đã ra đời cách đây hơn 100 năm, cho đến
nay, có rất nhiều tài liệu trong và ngoài nước nghiên cứu về bán phá giá và chống bán phá
giá (Anti-Dumping – AD), có thể kể ra một số tác phẩm điển hình: Nước ngoài:Hiệp định
Chống bán phá giá của WTO; Thủ tục pháp lý khi áp dụng thuế chống bán phá giá:
hướng dẫn các nhà xuất khẩu, nhập khẩu UNCTAD/WTO, 1997; Cẩm nang thuế chống
bán phá giá và chống trợ cấp-Hội đồng Thương mại Quốc tế Mỹ 11/1999; Những vấn đề
liên quan đến chống bán phá giá và chống trợ cấp đối với các nước đang phát triển trong
vòng đàm phán thiên niên kỷ: những yếu tố chủ yếu cần cải cách. Thuộc Chương trình
nghị sự và đàm phán thương mại trong tương lai, UNCTAD 2000, Edwin Vermulst;Viet
Nam and the Non-Market Economy issue Dr. Adam Mc. Carty;,… Trong nước: Luật
pháp về Chống bán phá giá – Những điều cần biết, của Phòng Thương mại và Công
nghiệp VN, 2004; Chống bán phá giá, mặt trái của tự do hoá thương mại. Tạp chí
Thương mại số 38/2004 và một số bài viết đăng trên các báo tạp chí, các luận văn Thạc
sỹ, công trình nghiên cứu của nghiên cứu sinh,…. Các tác phẩm này đã khắc họa rõ nét
về bản chất bán phá giá và bị kiện bán phá giá; vai trò và mặt trái của bán phá giá; áp
dụng biện pháp chống bán phá giá; những thủ tục pháp lý mang tính nguyên tắc khi bị áp

là bán phá giá nếu như giá xuất khẩu của sản phẩm này xuất khẩu sang nước khác thấp
hơn mức giá có thể so sánh được của sản phẩm tương tự được tiêu thụ trên thị trường
nước xuất khẩu theo điều kiện thương mại thông thường.” (Định nghĩa của GATT nêu
trong điều 2.1-VI).Nghiên cứu cơ sở kinh tế để xây dựng cơ chế pháp lý xác định hiện
tượng bán phá giá và điều kiện để áp dụng các biện pháp chống bán phá giá. Đặc biệt,
trên cơ sở nghiên cứu các Hiệp định AD của WTO, luật chống bán phá giá của EU, Mỹ…
nhóm đề tài đã tóm tắt quá trình điều tra và xét xử các vụ kiện AD trong hoạt động
thương mại quốc tế trải qua 11 bước, nêu rõ những công việc thực hiện ở từng bước cần
thực hiện theo thời hạn nào? Và các doanh nghiệp xuất khẩu VN khi nền kinh tế của ta
chưa được thừa nhận có nền kinh tế thị trường sẽ gặp khó khăn ở 2 bước: bước 5 và bước
6. (Xem bảng 1). Kết quả nghiên cứu giúp cho các doanh nghiệp xuất khẩu VN khi bị
khởi kiện hình dung được các công việc cần làm trong khoảng thời gian là bao nhiêu? Để
tổ chức kháng kiện thành công.
Các bước Công việc tiến hành trong bước Thời gian thực
hiện
Bước 1
Ngành công nghiệp hoặc nhóm các doanh
nghiệp ở nước nhập khẩu nộp đơn đề nghị
điều tra bán phá giá hàng nhập khẩu bằng
văn bản
Ngày 0
Bước 2
− Cơ quan điều tra của nước nhập khẩu
xem xét đơn− Cơ quan điều tra thông báo
cho Chính phủ của nước xuất khẩu
Bước 3
− Cơ quan điều tra từ chối điều tra nếu
không nhận đủ bằng chứng, thông báo
chính thức tới các bên có liên quan− Hoặc
tổ chức điều tra và công bố công khai

bản câu hỏi chỉ
15 ngày
Bước 6
Cơ quan điều tra ở nước nhập khẩu:− Phân
tích các dữ liệu thu thập− Xác định biên
độ bán phá giá tạm thời
− 140 ngày sau
bước 3 (khởi sự
điều tra)− Tối đa
190 ngày với các
vụ kiện phức tạp
Bước 7
Cơ quan điều tra thông báo áp dụng biện
pháp tạm thời chống bán phá giá (nếu có
kết luận trong thời gian 6 tháng)
Không sớm hơn
60 ngày và
không muộn hơn
9 tháng kể từ
ngày đầu tiên
Bước 8
Các bên đưa ra quan điểm, tổ chức các
cuộc tiếp xúc để bảo vệ quyền lợi
Bước 9
Cơ quan điều tra đưa ra phán quyết cuối
cùng
Mỹ: 215 ngày
sau khi bắt đầu
điều tra (bước
3), tối đa là 275

xuất khẩu; hạn ngạch, giấy phép xuất khẩu… để tạo cơ cấu xuất khẩu hợp lý, giảm thiểu
các vụ kiện chống bán phá giá ở nước nhập khẩu.
- Nhà nước xuất khẩu (nước bị kiện) không can thiệp trực tiếp vào các vụ kiện mà chỉ
gián tiếp cung cấp thông tin về thị trường, về nguy cơ bị kiện chống bán phá giá hoặc
thông tin qua con đường ngoại giao để gây sức ép với nước nhập khẩu.
- Nâng cao vai trò của hiệp hội ngành hàng xuất khẩu trong điều tiết xuất khẩu ngành
hàng, trong tập hợp các doanh nghiệp đoàn kết tham gia tích cực vào các vụ kiện, phổ
biến kinh nghiệm và tổ chức huấn luyện đào tạo các doanh nghiệp đối phó với các vụ
kiện chống bán phá giá.
- Cần khởi kiện (đóng vai trò là nguyên đơn) khi có hiện tượng bán phá giá vừa để bảo hộ
thị trường nội địa, vừa trả đũa, tự vệ, đảm bảo sự công bằng trong thương mại quốc tế.
- Khi bị khởi kiện, doanh nghiệp phải tích cực ngay từ đầu tham gia “hầu kiện” để bảo vệ
quyền lợi của mình.
- Minh bạch hồ sơ, thu thập đầy đủ các chứng từ hạch toán chi phí kinh doanh của mình
phù hợp với chuẩn mực kế toán và kiểm toán quốc tế.
- Kích thích phát triển các công ty luật có khả năng bảo vệ các doanh nghiệp trước các vụ
kiện bán phá giá; khuyến khích sử dụng dịch vụ tư vấn luật.
- Nâng cao trình độ của các luật sư, của những nhà quản trị xuất khẩu về kiến thức đối
phó với các vụ kiện chống bán phá giá (cả khi doanh nghiệp là bị đơn, lẫn khi là nguyên
đơn). Để phân tích sâu hơn về thực trạng các vụ kiện bán phá giá đối với hàng xuất khẩu
VN trên thị trường quốc tế và những hệ lụy của chúng, nhóm đề tài tích đi sâu phân tích 3
vụ kiện AD của VN, đó là vụ kiện cá da trơn (cá basa), vụ kiện tôm sú trên thị trường Mỹ
và vụ kiện giày mũ da tại thị trường EU. Ở mỗi vụ kiện các tác giả đều phân tích lịch sử
vụ kiện, quá trình dẫn tiến, kết quả và rút ra những nhận xét có giá trị. Không dừng lại ở
đó, nhóm nghiên cứu còn đánh giá khả năng bị kiện bán phá giá đối với hàng dệt may
VN trên thị trường Mỹ và đi sâu phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến việc hàng VN bị
kiện bán phá giá.
Trên cơ sở phân tích một cách khách quan, toàn diện, sâu sắc thực trạng các vụ kiện bán
phá giá đối với hàng XK VN, nhóm nghiên cứu rút ra những kết luận sau:
Những điều đã làm được:

- Hoạt động đối ngoại chưa mang tính chiến lược và bài bản trong việc đối phó với các vụ
kiện chống bán phá giá nhằm vào hàng XK của VN
- Cơ chế, luật pháp để vận hành nền kinh tế thị trường chưa đạt chuẩn mực quốc tế
- Nguồn nhân lực được đào tạo bài bản và có kinh nghiệm về chống bán phá giá trong
hoạt động thương mại quốc tế còn ít và yếu
- Hoạt động của các Hiệp hội ngành hàng đa số còn mang tính nghiệp dư
- Đa số các doanh nghiệp XK chưa có chiến lược và phương pháp kinh doanh XK đáp
ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.
Các giải pháp và kiến nghị
Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá một cách khách quan, khoa học thực trạng các vụ kiện
bán phá giá đối với hàng XK VN, nhóm tác giả đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm
giúp các doanh nghiệp đối phó với rào cản “Chống bán phá giá” ở nước NK, gồm 2 nhóm
giải pháp: Giải pháp chung cho các doanh nghiệp xuất khẩu; Giải pháp cụ thể cho các
ngành hàng xuất khẩu chủ lực.
* Về nhóm giải pháp chung, gồm 3 nhóm giải pháp: Nhóm giải pháp phòng ngừa bị kiện;
Nhóm giải pháp đối phó khi bị kiện và nhóm giải pháp hạn chế thiệt hại khi bị thua kiện.
- Nhóm giải pháp phòng ngừa bị kiện gồm 4 giải pháp: Xây dựng chiến lược đa dạng hóa
thị trường xuất khẩu, đa dạng hóa mặt hàng kinh doanh XK; Tích cực tham gia xây dựng
và củng cố hoạt động của các Hiệp hội ngành hàng; Xây dựng chiến lược đầu tư ra nước
ngoài (áp dụng với các doanh nghiệp lớn); Xây dựng chiến lược phát triển các ngành
công nghiệp phụ trợ, các chuỗi cung ứng nội địa và chuẩn bị các điều kiện cần thiết để
tham gia vào các chuỗi giá trị sản xuất toàn cầu. ợp tác đầy đủ, kịp thời và thiện chí với
các cơ quan điều tra AD ở nước nhập khẩu; Hoàn thiện chế độ hạch toán kế toán và sổ
sách, hồ sơ ở các công ty XK; Các doanh nghiệp XK chủ động đề nghị được điều tra
chống bán phá giá(áp dụng đối với các doanh nghiệp xuất khẩu không nằm trong nhóm bị
đơn bắt buộc); Cam kết tăng giá xuất khẩu.
- Nhóm giải pháp hạn chế thiệt hại khi bị thua kiện gồm 2 giải pháp: Tiếp tục giữ thị
trường ở nước nguyên đơn,bằng các cách: Chuyển sang sản xuất ở những mặt hàng
không bị áp thuế chống bán phá giá, Tiếp tục kháng kiện đề nghị xem xét lại mức thuế
chống bán phá giá;

các cơ quan điều tra AD ở nước nhập khẩu; Hoàn thiện chế độ hạch toán kế toán và sổ
sách, hồ sơ ở các công ty XK; Các doanh nghiệp XK chủ động đề nghị được điều tra
chống bán phá giá(áp dụng đối với các doanh nghiệp xuất khẩu không nằm trong nhóm bị
đơn bắt buộc); Cam kết tăng giá xuất khẩu.
* Về nhóm giải pháp cụ thể cho các ngành hàng xuất khẩu chủ lực, gồm 2 nhóm giải
pháp: Giải pháp cho các doanh nghiệp XK thủy sản và giải pháp cho các doanh nghiệp
xuất khẩu hàng dệt may, da giày.
- Nhóm giải pháp cho các doanh nghiệp XK thủy sản gồm 4 giải pháp:
Khuyến khích các doanh nghiệp nuôi trồng chế biến thủy sản ở hai mặt hàng tôm sú và cá
basa, cá tra đầu tư sang Campuchia hoặc mượn sông, hồ để nuôi; Đầu tư công nghệ để
tạo ra sản phẩm thủy sản có giá trị tăng cao, có hương vị độc đáo, tạo ra các sản phẩm
khác biệt; Hoàn thiện quy hoạch nuôi trồng thủy sản trên cơ sở đánh giá điều kiện tự
nhiên của từng vùng; đánh giá cung cầu của thị trường trong và ngoài nước; Phát triển
thương mại nội địa ở mặt hàng thủy sản;
- Nhóm giải pháp cho các doanh nghiệp xuất khẩu hàng dệt may, da giày cũng gồm 4 giải
pháp: Bộ Công thương phối hợp với các Hiệp hội ngành hàng giám sát chặt mức độ gia
tăng xuất khẩu ở những Categorise – Cat (loại hàng) nhạy cảm, để tránh gia tăng xuất
khẩu quá mức; Chuyển dần từ phương thức gia công xuất khẩu sang phương thức tự
doanh; Cổ phần hóa doanh nghiệp và bán cổ phiếu cho các đối tác chiến lược nước ngoài
là những tập đoàn thương mại hoặc dệt, may; giày dép lớn trên thế giới; Đẩy mạnh liên
doanh, liên kết giữa các doanh nghiệp cùng ngành (áp dụng cho các doanh nghiệp vừa và
nhỏ) nhằm gia tăng quy mô để có thể nhận được các hợp đồng sản xuất lớn.
* Về kiến nghị: Để hệ thống giải pháp nêu trên được thực hiện một cách hiệu quả, nhóm
nghiên cứu đề xuất tập hợp kiến nghị với các cơ quan quản lý nhà nước (Thủ tướng
Chính phủ, Bộ Công thương, Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan) và kiến nghị với Phòng
Thương mại và Công nghiệp VN, các hiệp hội ngành hàng XK. Cụ thể:
Đối với Thủ tướng Chính phủ: Cần đẩy nhanh tiến trình cải cách kinh tế để VN sớm được
WTO thừa nhận là nước có nền kinh tế thị trường; Quan tâm hơn nữa đến công tác dự
báo kinh tế đối ngoại; Nâng cao năng lực hoạt động của các cơ quan đối ngoại của Nhà
nước đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế; Hoàn thiện bộ máy cơ quan chống bán

A
U
3
U
2
U
1
X
B
X
A
Y
B
Y
A
Y
X
- Xây dựng mối liên kết với Hải quan của các nước NK hàng VN để hợp tác trên các lĩnh
vực: chống buôn lậu; giả mạo hàng hoá VN; kiểm soát tốc độ tăng giảm hàng VN trên thị
trường nước NK(chú trọng ở mặt hàng XK chiến lược) để từ đó cung cấp thông tin cho
Bộ Công Thương; Hiệp hội ngành hàng, để những nơi này có những giải pháp điều chỉnh
phù hợp. Ngoài ra sự hợp tác chặt chẽ hoạt động hải quan giữa các nước sẽ góp phần
giảm thủ tục và thời gian thông quan góp phần đẩy mạnh tốc độ xuất khẩu mà không bị
áp dụng các biện pháp chống bán phá giá hoặc tự vệ ở nước NK.
Các giải pháp, kiến nghị nêu trên đều được trình bày rất chi tiết, với đối tượng thực hiện,
lộ trình thực hiện và điều kiện thực hiện cụ thể, các tác giả mong muốn trên cơ sở đó sẽ
xây dựng một cẩm nang nhằm giúp các doanh nghiệp VN đối phó với rào cản “Chống
bán phá giá” ở nước nhập khẩu một cách hiệu quả, góp phần đẩy mạnh XK, xây dựng đất
nước mạnh giàu.
TÍNH CHẤT CỦA ĐƯỜNG BÀNG QUAN

điểm A và C. Điều này vô lí hữu dụng khi tiêu dùng tập hợp hàng hóa tại C phải
cao hơn tại A vì tại C cả hai hàng hóa X và Y đều nhiều hơn tại điểm A. Như vậy,
đường bàng quan khác nhau không bao giờ căt nhau.
X


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status