Đề cương ôn tập môn Luật Hành chính
Việt Nam – Phần 2
Câu 7. Thủ tục hành chính. Vấn đề cải cách thủ tục hành chính trong giai
đoạn hiện nay?
TRẢ LỜI:
1. Thủ tục hành chính:
Thủ tục hành chính là cách thức thực hiện thẩm quyền quản lý hành chính nhà
nước của các chủ thể quản lý hành chính nhà nước và cách thức tham gia vào các
công việc quản lý hành chính nhà nước của các tổ chức, cá nhân nhằm thực hiện
các quyền và nghĩa vụ của mình trong quản lý hành chính nhà nước theo quy định
của pháp luật.
Là một loại thủ tục pháp lý, thủ tục hành chính có một số đặc điểm sau:
- Thủ tục hành chính là một loại thủ tục do nhiều cán bộ, công chức, cơ quan nhà
nước thực hiện, những cơ quan hành chính nhà nước và các cán bộ, công chức
thuộc cơ quan này là chủ thể chủ yếu thực hiện thủ tục hành chính.
- Thủ tục hành chính được quy định trong Luật hành chính.
- Thủ tục hành chính có tính phong phú, đa dạng.
- Thủ tục hành chính là những loại thủ tục gắn với các loại công văn, giấy tờ.
2. Vấn đề cải cách thủ tục hành chính trong giai đoạn hiện nay:
+ Công cuộc cải cách nền hành chính nhà nước ở nước ta hiện nay tập trung vào
ba nội dung lớn:
- Cải cách bộ máy hành chính nhà nước trong đó tập trung vào việc điều chỉnh tổ
chức và các mối quan hệ trong bộ máy hành chính nhà nước.
- Xây dựng đội ngũ cán bộ công chức nhà nước có năng lực, phẩm chất, đủ sức để
thực hiện nhiệm vụ được giao.
- Cải cách thể chế của nền hành chính và cải cách thủ tục hành chính, trong đó cải
cách thủ tục hành chính là khâu đột phá.
+ Ở nước ta, thủ tục hành chính còn bộc lộ một số nhước điểm sau:
- Đòi hỏi quá nhiều giấy tờ, gây phiền hà cho nhân dân nhất là đối với những
người ít biết các quy định vể lề lối làm việc trong cơ quan nhà nước.
- Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương chịu trách nhiệm tổ chức chỉ đạo thực hiện việc cải cách thủ tục
hành chính trong phạm vi quản lý của mình và phối hợp để giải quyết các khâu
liên quan đến cơ quan khác.
Thực hiện công việc trên nhằm:
- Tinh giản thủ tục hành chính;
- Lập lại trật tự trong việc ban hành thủ tục hành chính và lệ phí, không được tuỳ
tiện đặt thêm các thủ tục;
- Xây dựng quy chế công vụ và quy chế phối hợp giữa các cơ quan, công chức có
trách nhiệm giải quyết công việc của dân để thực hiện nguyên tắc một cửa;
- Mở rộng thông tin công việc nhà nước có liên quan đến dân để dân biết, bảo đảm
quyền được thông tin của dân.
Câu 8. Quyết định hành chính. Phân loại quyết định hành chính?
TRẢ LỜI:
1. Quyết định hành chính:
Quyết định hành chính là kết quả của sự thể hiện ý chí quyền lực đơn phương của
các chủ thể quản lý hành chính nhà nước, được biểu hiện dưới những hình thức
nhất định tác đống đến các đối tượng nhất định trong qua 1trình hành pháp.
Với ý nghĩa như vậy. Quyết định hành chính cói thể là một hanh động hoặc một
quyết định bằng văn bản. Quyết định hành chính có những dấu hiệu sau:
- Được ban hành, được thực hiện trên cơ sở luật và để thi hành lluật.
- Để tác động các quan hệ xã hội hoặc hành vi xử sự của con người (đối tượng)
trong quá trình hành pháp.
- Do các chủ thể quản lý hành chính nhà nước có thhẩm quyền ban hành thực hiện
theo quy định của pháp luật.
2. Phân loại quyết định hành chính:
Trong các hình thức quyết định hành chính, quyết định hành chính bằng văn bản
thường có hai loại:
a. Quyết định quy phạm:
Trong Luật hành chính Việt nam- quyết định quy phạm hành chính được thể hiện
định hành chính cá biệt bằng văn bản do các cơ quan hoặc cán bộ có thẩm quyền
ban hành để giải quyết, xử lý một vấn đề nhất định trong lĩnh vực hành pháp; tác
động trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ, lợi ích của các đối tượng có liên quan.
Câu 9. Tài phán hành chính. Thẩm quyền xét xử hành chính của Toà án nhân
dân?
TRẢ LỜI:
1. Tài phán hành chính:
Tài phán hành chính Việt nam là hoạt động xét xử các vụ án hành chính theo quy
định của Luật tố tụng hành chính và chủ yếu do Toà hành chính, các thẩm phán
hành chính trong hệ thống Toà án nhân dân thực hiện nhằm bảo vệ quyền, lợi ích
hợp pháp của cá nhân, cơ quan nhà nước và tổ chức, góp phần nâng cao hiệu lực
quản lý nhà nước.
2. Thẩm quyền xét xử hành chính của Toà án nhân dân:
Theo Điều 11, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính thì Toà án có
thẩm quyền giải quyết các vụ án hành chính các loại việc sau:
- 1, Khiếu kiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính, quyết định áp dụng biện
pháp tháo dỡ công trình xây dựng trái phép đối với nhà ở, công trình, vật kiến trúc
kiên cố.
- 2, Khiếu kiện quyết định áp dụng các biện pháp xử phạt hành chính đối với hình
thức giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở
giáo dục; đưa vào cơ sở chữa bệnh; quản chế hành chính.
- 3, Khiếu kiện quyết định về buộc thôi việc, trừ các quyết định về buộc thôi việc
trong quân đội nhân dân và các quyết định về sa thải theo quy định của Bộ luật lao
động.
- 4, Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong việc cấp phép, thu
hồi giấy phép trong lĩnh vực xây dựng cơ bản, hoạt động sản xuất kinh doang,
quản lý đất đai.
- 5, Khiếu kiện quyết định trưng dụng, trưng mua tài sản, quyết định tịch thu tài
sản.
- 6, Khiếu kiện quyết định về việc thu thuế, truy thu thuế.
Ngoài ra trong trường hợp cần thiết, Toà án nhân dân cấp tỉnh có thể lấy lên để
giải quyết các vụ án hành chính thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân cấp huyện.
c. Thẩm quyền xét xử hành chính của Toà án nhân dân tối cao:
Toà án nhân dân tối cao giải quyết theo thủ tục sơ thẩm đồng thời chung thẩm
những khiếu kiện hành chính thuộc thẩm quyền của toà án nhân dân cấp tỉnh mà
Toà án nhân dân tối cao lấy lên để giải quyết đối với quyết định hành chính của cơ
quan nhà nước cấp trung ương và quyết định hành chính, hành vi hành chính của
thủ trưởng các cơ quan đó liên quan đến nhiều tỉnh, phức tạp hoặc trong trường
hợp khó xác định được thuộc thẩm quyền của toà án cấp tỉnh nào; khiếu kiện
quyết định hành chính của UBND tỉnh, Chủ tịch UBND cấp tỉnh liên quan đến
nhiều đối tượng, phức tạp hoặc trong trường hợp các thẩm phán của toà án cấp
tỉnh đều thuộc trường hợp phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi.
Câu 10. Các giai đoạn tố tụng hành chính theo pháp luật hiện hành?
TRẢ LỜI:
Căn cứ vào các quy định của pháp luật hiện hành về tổ chức toà án, căn cứ pháp
lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính. Tố tụng hành chính được phân thành
các giai đoạn chính sau:
1. Khởi kiện và thụ lý vụ án hành chính:
Khi công dân, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế tháy rằng quyết
định, hành vi hành chính cũ thể nào đó xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của
mình thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính để yêu cầu Toà hành chính giải
quyết. Trước khi khởi kiện, cá nhân, cơ quan nhà nước, tổ chức phải khiếu nại với
cơ quan hành chính mà họ mà họ cho là trái pháp luật; trong trường jợp không
đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại thì họ có quyền khiếu nại lên cấp trên
trực tiếp của cơ quan nhà nước, người đã ra quyết định hành chính hoặc có hành vi
mà theo quy định của pháp luật có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đó hay khởi
kiện vụ án hnàh chính tại toà án có thẩm quyền.
Sau khi nhận được đơn kiện, Toà hành chính phải xem xét nếu xét thấy không
tuộc trường hợp trả lại đơn thì Toà án thụ lý vụ việc kiện theo thẩm quyền.
2. Chuẩn bị xét xử:
thẩm. Tuy nhiên do tính chất của giai đoạn này, cho nên phiên toà phúc thầm có
những đặc thù so với phiên toà sơ thẩm.
Theo Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính, Hội đồng xét xử phúc
thẩm gồm ba thẩm phán. Quyền hạn của Hội đồng xét xử phúc thẩm cũng tương
tự như khi xét xử phúc thẩm các vụ án hình sự, dân sự, kinh tế, lao động
5. Xét lại bản án , quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo trình tự giám đốc
thẩm hoặc tái thẩm:
6. Thi hành bản án hành chính.
Câu 11. Vi phạm hành chính và cấu thành vi phạm hành chính?
TRẢ LỜI:
1. Khái niệm vi phạm hành chính:
Vi phạm hành chính là hành vi xâm phạm các quy định quản lý nhà nước, có lỗi
và phải bị xử lý hành chính.
2. Cấu thành vi phạm hành chính:
Cấu thành vi phạm hành chính là tổng hợp những dấu hiệu đặc trưng thể hiện đầy
đủ tính xâm hại cho trật tự quản lý nhà nước của một loại vi phạm hành chính.
- Mặt khách quan của hành vi vi phạm hành chính:bao gồm các dấu hiệu sau:
+ Hành vi vi phạm hành chính:
Hành vi vi phạm hành chính là những biểu hiện của con người hoặc tổ chức tác
động vào thế giới khách quan dưới những hình thức bên ngoài cụ thể gây tác hại
tới sự tồn tại và phát triển bình thường của các trật tự quản lý nhà nước. Những
biểu hiện này được kiểm soát và điều khiển bởi ý chí của chủ thể vi phạm hành
chính.
+ Hậu quả và mối quan hệ nhân quả;
Hậu quả của vi phạm hành chính là các quy tắc quản lý nhà nước bị hành vi vi
phạm hành chính tác động tới, gây xâm hại.
Quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hành chính và hậu quả của vi phạm hành
chính có mối liên hệ hữu cơ, trong đó hậu quả của vi phạm hành chính có tiền đề
xuất hiện của nó là hành vi khách quan của vi phạm hành chính. Việc xác định
mối quan hệ nhân quả dựa trên những căn cứ sau:
định, phần lớn động cơ trong vi phạm hành chính là không rõ rệt. Nó không được
coi là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành của tất cả mọi lọi vi phạm hành chính.
- Khách thể của vi phạm hành chính:
Là các quy tắc quản lý hành chính nhà nước. Khách thể của vi phạm hành chính là
yếu tố cơ bản bắt buộc phải có trong mọi cấu thành của vi phạm hành chính.
Khách thể của vi phạm hành chính gồm:
+ Khách thể chung: là các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực quản lý nhà
nước hay nói cách khác là trật tự quản lý nhà nước nói chung.
+ Khách thể loại: là những quan hệ xã hội có cùng hoặc gần tính chhất với nhau
trong từng lĩnh vực nhất định của quản lý nhà nước.
+ Khách thể trực tiếp: là quan hệ xã hội cụ thể được pháp luật quy định và bảo vệ
bị chính hành vi vi phạm hành chính gây tác hại.
- Chủ thể của vi phạm hành chính:
+ Cá nhân: một cá nhân khi có hành vi vi phạm hành chính sẽ trở thành chủ thể
của vi phạm hành chính khi có đủ hai điều kiện: có năng lực trách nhiệm hành
chính; đạt độ tuổi nhất định.
+ Tổ chức: Tổ chức là chủ thể đặc biệt của vi phạm hành chính. Trong cấu thành
vi phạm hành chính của tổ chức, do không thể xác định được lỗi của nó nên yếu tố
chủ quan không có ý nghĩa. Chỉ cần tổ chức đó có biểu hiện xâm hại đến khách thể
trong lĩnh vực quản lý nhà nước, trái pháp luật hành chính là xem như đủ cơ sở để
coi là chủ thể của vi phạm hành chính.