Đề cương ôn tập môn Luật Hành chính Việt Nam – Phần 5 - Pdf 19

Đề cương ôn tập môn Luật Hành chính
Việt Nam – Phần 5
Đề cương ôn tập môn Luật Hành chính
Việt Nam – Phần 5

Câu 23. Vấn đề cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực hải quan và giải
pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về hải quan trong giai đoạn hiện
nay?
TRẢ LỜI:
Nhằm thực hiện mục tiêu: tạo thuận lợi cho thương mại, phát triển đầu tư trong
nước, nước ngoài và phát triển du lịch, bảo vệ cộng đồng, an ninh quốc gia, hỗ trợ
Việt Nam thực hiện các cam kết của Tổ chức thương mại thế giới, trong đó có mục
tiêu tạo thuận lợi và đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu, vấn đề cải cách thủ tục
hành chính trong lĩnh vực hải quan được chính phủ ta hết sức quan tâm.
Quá trình triển khai Chương trình cải cách, hiện đại hóa hải quan mà ngành Hải
quan thực hiện thời gian qua đã đạt được một số kết quả: quản lý rủi ro đã bước
đầu được triển khai áp dụng trong hoạt động hải quan; thủ tục hải quan đã đơn
giản, thuận lợi hơn, bước đầu được chuẩn hóa theo các chuẩn mực và thông lệ
quốc tế, được cộng đồng doanh nghiệp và dư luận xã hội đồng tình ủng hộ; nhận
thức của cán bộ, công chức hải quan về cải cách, hiện đại hóa, cải cách thủ tục
hành chính tạo thuận lợi cho doanh nghiệp đã được nâng lên.
Tuy nhiên, so với yêu cầu và mục tiêu đề ra, nhìn chung công tác cải cách, hiện
đại hóa hải quan hiện nay vẫn còn bộc lộ nhiều bất cập, tiến độ triển khai còn
chậm, chưa đồng bộ; một bộ phận cán bộ, công chức hải quan không tích cực ủng
hộ hoặc tỏ thái độ hoài nghi về mục tiêu của chương trình cải cách, hiện đại hóa

pháp khắc phục tình trạng phân loại hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu không thống
nhất, xác định giá, thuế suất, ưu đãi thuế,… không đúng quy định.
5- Sơ kết, đánh giá kết quả thực hiện trong ngành Hải quan Chỉ thị số 32/2006/CT-
TTg ngày 07/9/2006 của Thủ tướng Chính phủ về một số biện pháp cần làm ngay
để chấn chỉnh kỷ luật, kỷ cương hành chính trong giải quyết công việc của người
dân và doanh nghiệp.
Tiếp tục quán triệt và đẩy mạnh, quyết liệt thực hiện các chỉ đạo của Chính phủ về
phòng chống tham nhũng, chấn chỉnh kỷ cương, kỷ luật hành chính, phòng chống
các biểu hiện gây phiền hà, sách nhiễu, tiêu cực trong đội ngũ cán bộ, công chức
Hải quan.
Thủ trưởng các cấp trong ngành Hải quan phải đẩy mạnh hơn nữa hoạt động thanh
tra, kiểm tra công vụ và hoạt động nghiệp vụ tại các đơn vị hải quan cơ sở, nâng
cao chất lượng và hiệu quả của các hoạt động tự kiểm tra, tăng cường kiểm tra đột
xuất. Xử lý kiên quyết, kịp thời, nghiêm minh đối với các trường hợp gây phiền
hà, sách nhiễu, tiêu cực trong thi hành công vụ, xử lý nghiêm khắc trách nhiệm
người đứng đầu, cấp phó người đứng đầu để xảy ra sai phạm, tiêu cực trong đơn vị
hoặc trong lĩnh vực mình phụ trách.
6- Cùng với việc tiếp tục thực hiện có hiệu quả thiết thực cuộc vận động “Học tập
và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, ngành Hải quan phải đẩy mạnh
hơn nữa công tác giáo dục truyền thống, giáo dục ý thức nghề nghiệp và ý thức
trách nhiệm với công tác tài chính, công tác hải quan.
Câu 24. Quản lý nhà nước về văn hoá?
TRẢ LỜI:
1. Khái niệm và phương thức quản lý nhà nước về văn hoá:
Quản lý nhà nước về văn hoá là những hoạt động của bộ máy nhà nước nhằm giữ
gìn, xây dựng và phát triển nền văn hoá VN.
Nhà nước tiến hành quản lý văn hoá bằng chính sách và pháp luật về văn hoá.
2. Một số nội dung cơ bản của quản lý nhà nước về văn hoá:
Có thể chia hoạt động quản lý nhà nước về văn hoá thành các mảng cơ bản sau:
- Quản lý nhà nước về văn hoá nghệ thuật.

- Khôi phục và phát triển hệ thống thư viện từ trung ương đến cơ sở.
- Củng cố sắp xếp lại tổ chức và hoạt động của ngành văn hó – thông tin, củng cố
các hoạt động báo chí, xuất bản, in ấn, phát hành, phổ biến rộng rãi những tác
phẩm có giá trị về tư tưởng, nghệ thuật.
- Coi trọng công tác tuyên truyền đối ngoại, mở rộng giao lưu quốc tế trong lĩnh
vực văn hoá – thông tin.
- Tăng cường hoạt động kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về văn hoá – thông tin.
Trong quản lý nhà nước về văn hoá – thông tin, một số nội dung được đặc biệt chú
ý là công tác quản lý về báo chí, xuất bản, thanh tra, kiểm tra, xử lý các vi phạm
pháp luật về văn hoá – thông tin, thực hiện hợp tác quốc tế về thông tin.
c. Quản lý nhà nước về văn hoá – xã hội:
Trong quản lý văn hoá – xã hội, chủ thể mquản lý cần:
- Nhận thức đúng đắn những vấn đề cơ bản của lối sống, nếp sống gắn liền với
tình hình diễn biến trên phạm vi thế giới và trong nước.
- Do lối sống gắn liền với phương thức sản xuất nên điều căn bản để xây dựng một
lối sống văn minh, hiện đại là làm thế nào để nâng cao năng suất lao động. con
người có thể thoả mãn những nhu cầu của mình bằng lao động chân chính.
- Cần phát huy tính tích cực chính trị - xã hội trong mỗi con người để mỗi người
đều có ý thức về một lối sống đẹp, sống đạo đức.
- Khôi phục những thuần phong, mĩ tục và xây dựng nếp sống mới. Cần phân biệt
những lễ giáo phong kiến với những nét truyền thống đẹp về lối sống đạo đức.
d. Quản lý nhà nước về hoạt động bảo tồn, bảo tàng, phát guy giá trị các di sản văn
hoá:
Nhà nước thống nhất quản lý các di tích lịch sử, văn hoá và danh lam thắng cảnh.
Nội dung quản lý gồm:
- Kiểm kệ, đăng ký, công nhận và xác định các loại hình di tích lịch sử, văn hoá và
danh lam thắng cảnh.
- Quy định chế độ bảo vệ, sử dụng di tích lịch sử, văn hoá và danh lam thắng cảnh
và tổ chức thực hiện các chế độ đó.
- Thanh tra việc thu hành những quy định của pháp luật về việc bảo vệ, sử dụng di

mình. Hiến pháp nước CHXHCNVN quy định: công dân có quyền đi lại và tự do
cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước theo quy
định của pháp luật.
Nơi cư trú được xác định theo quy định của pháp luật.
Đăng ký và quản lý hộ khẩu là biện pháp quản lý hành chính của nhà nước nhằm
xác định việc cư trú của công dân, bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ của công
dân, tăng cường quản lý xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.
Pháp luật nước ta quy định: công dân nước CHXHCNVN có quyền và nghĩa vụ
thực hiện việc đăng ký và quản lý hộ khẩu với cơ quan công an theo quy định.
Mọi công dân phải đăng ký hộ khẩu ở nơi cư trú gọi là hộ khẩu thường trú. Khi
chuyển đến cư trú ở nơi mới phải thực hiện đầy đủ chế độ đăng ký, quản lý hộ
khẩu lại theo quy định, trừ một số đối tượng bị hạn chế đăng ký hộ khẩu là những
người đang trong thời gian thi hành bản án của toà án và những người đang phải
thi hành quyết định cư trú bắt buộc, chịu sự quản lý hành chính của chính quyền
địa phương thì chưa được chuyển đến đăng ký hộ khẩu thường trú nơi khác.
Những người đang thi hành bản án, quyết định của toà án hoặc quyết định của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền cấm cư trú thì không được đăng ký hộ khẩu thường
trú ở khu vực bị cấm.
Những người có quan hệ về gia đình, cùng ở chung một nhà thì đăng ký thành một
hộ gia đình, mỗi hộ gia đình phải có một người đứng tên chủ hộ.
Những người đang làm việc trong các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế - xã
hội sống độc thân tại nhà ở tập thể cơ quan thì đăng ký theo nhân khẩu tập thể và
từng người phải trực tiếp đăng ký hộ khẩu vối cơ quan công an.
Đối với sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, công nhân, nhân viên của
quân đội nhân dân và Công an nhân dân ở trong doanh trại hoặc nhà tập thể của
quân đội, công an thì đăng ký, quản lý hộ khẩu theo quy định riêng của Bộ Quốc
phòng và Bộ Công an.
Những công dân đang trong thời gian làm nghĩa vụ quân sự thì không được đăng
ký hộ khẩu gia đình.
Chính phủ giao Bộ Công an phụ trách việc đăng ký, quản lý hộ khẩu.

2. Quản lý hành chính nhà nước về tổ chức hoạt động của luật sư:
Theo pháp luật hiện hành: Tổ chức luật sư được thành lập để giúp bị cáo và các
đương sự khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và góp phần bảo vệ
pháp chế XHCN. Tổ chức luật sư ở nước ta hiện nay là các Đoàn luật sư được
thành lập ở các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương để giúp công dân và các tổ
chức về mặt pháp lý.
Đoàn luật sư được nhà nước khuyến khích, giúp đỡ và chịu sự hướng dẫn, kiểm
tra, giám sát của nhà nước theo quy định của pháp luật về tổ chức, hoạt động luật
sư.
Chính phủ quản lý thống nhất tổ chức và hoạt động luật sư trong phạm vi cả nước.
Bộ tư pháp hướng dẫn thủ tục thành lập đoàn luật sư; kiểm tra việc thực hiện quy
chế của các Đoàn luật sư và luật sư; hướng dẫn bồi dưỡng chính trị, nghiệp vụ cho
các luật sư; tổng kết, phổ biến kinh nghiệm và thực hiện các biện pháp khác nhằm
nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động luật sư.
HĐND, UBND cấp tỉnh phối hợp với uỷ ban mặt trận tổ quốc thường xuyên giám
sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động của Đoàn luật sư ở địa phương mình,
có những kiến nghị cần thiết và kịp thời với ban chủ nhiệm Đoàn luật sư.
Các cơ quan khác của nhà nước, các tổ chức xã hội có nhiệm vụ giúp đỡ Đoàn luật
sư và các luật sư trong khi thực hiện nhiệm vụ.
Về tổ chức, mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương được thành lập một đoàn
luật sư.
3. Quản lý hành chính nhà nước về thi hành án dân sự:
Quản lý hành chính nhà nước về thi hành án dân sự là hoạt động chấp hành điều
hành của các chủ thể quản lý hành chính nhà nước trong lĩnh vực thi hành án dân
sự theo quy định của pháp luật.
Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công tác thi hành án dân sự trong phạm
vi cả nước. Bộ tư pháp giúp chính phủ quản lý nhà nước về công tác thi hành án
dân sự và tổ chức việc thi hành án dân sự.
UBND cấp tỉnh, huyện thực hiện việc quản lý nhà nước về công tác thi hành án
dân sự và tổ chức việc thi hành án dân sự ở địa phương theo quy định của Chính

lập và tạo điều kiện thuận lợi khác cho Đoàn luật sư và các luật sư hoàn thành tốt
nhiệm vụ.
Thủ tục thành lập đoàn luật sư: theo quy định của pháp luật.
Về tổ chức Đoàn luật sư và các luật sư:
Tại mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương được thành lập một đoàn luật sư.
Đối với những tỉnh địa bàn rộng, số lượng luật sư đông có thể đặt thêm chi nhánh
giao dịch; mỗi chi nhánh ít nhất phải có từ 2 luật sư trở lên. Ban chủ nhiệm Đoàn
luật sư cử người phụ trách chi nhánh. Mọi hoạt động của chi nhánh chịu sự lãnh
đạo thống nhất của Ban chủ nhiệm.
Điều kiện gia nhập Đoàn luật sư được quy định tại Điều 11, Pháp lệnh tổ chức luật
sư và Điều 6 Quy chế Đoàn luật sư.
Con dấu của Đoàn luật sư được quy định tại Điều 2 Quy chế Đoàn luật sư. Dấu có
hình dạng và kích thước như con dấu của các tổ chức, đơn vị công tác chuyên
môn, sự nghiệp hoạt động độc lập trực thuộc UBND tỉnh.
Việc hướng dẫn kiểm tra về tổ chức và hoạt động của Đoàn luật sư:
- Bộ tư pháp thực hiện việc hướng dẫn, kiểm tra về tổ chức và hoạt động của Đoàn
luật sư theo Điều 5 Pháp lệnh tổ chức luật sư và Điều 45 Quy chế Đoàn luật sư. Để
thực hiện tốt các nhiệm vụ nói trên, Bộ trưởng Bộ tư pháp uỷ quyền cho Giám đốc
Sở Tư pháp tiến hành một số việc sau:
+ Hướng dẫn thủ tục chuẩn bị thành lập Đoàn luật sư.
+ Theo dõi tình hình hoạt động của Đoàn luật sư và kiểm tra việc thực hiện Quy
chế Đoàn luật sư tại địa phương để báo cáo với Bộ trưởng Bộ Tư pháp và UBND
cùng cấp.
+ Tiến hành các biện pháp nhằm bảo đảm cho luật sư thực hiện được các quyền
của mình trong hoạt động tố tụng.
+ Phối hợp với các cơ quan chức năng ở địa phương tham mưu cho UBND tỉnh
tạo điều kiện giúp đỡ về vật chất cho Đoàn luật sư và thực hiện chế độ, chính sách
đối với các luật sư.
+ Sưu tập và cung cấp các tài liệu cần thiết cho Đoàn luật sư và các luật sư; giúp
Bộ tiến hành một số công tác chuẩn bị việc bồi dưỡng chính trị, nghiệp vụ cho các

sát của các cơ quan điều tra, kiểm soát, toà án và việc giải quyết tranh chấp hợp
đồng kinh tế, xử lý vi phạm pháp luật hợp đồng kinh tế của cơ quan trọng tài kinh
tế.
2. Xem xét, kiến nghị cấp có thẩm quyền giải quyết hoặc giải quyết theo thẩm
quyền các khiếu nại, tố cáo.
3. Trong phạm vi chức năng của mình, chỉ đạo về tổ chức và hoạt động thanh tra
đối với cơ quan, tổ chức hữu quan.
4. Tuyên truyền, hướng dẫn việc thực hiện pháp luật về thanh tra.
5. Kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền những vấn đề về quản lý nhà
nước cần sửa đổi, bổ sung, hoặc ban hành các quy định phù hợp với yêu cầu quản
lý nhà nước.
Hệ thống tổ chức thanh tra:
Hệ thống thanh tra ở nước ta được tổ chức theo một trật tự, có mối liên hệ mật
thiết với nhau từ trung ương đến địa phương và trong các đơn vị cơ sở:
a. Thanh tra nhà nước:
Là cơ quan của chính phủ Cơ quan ngang Bộ, có chức năng quản lý nhà nước về
công tác thanh tra, thực hiện quyền thanh tra trong cả nước.
Thanh tra nhà nước gồm có: Tổng thanh tra nhà nước, các Phó tổng thanh tra nhà
nước và các thành viên.
b. Tổ chức thanh tra Bộ, cơ quan ngang Bộ:
Căn cứ vào Pháp lệnh thanh tra, Bộ trưởng sau khi thống nhất với Tổng thanh tra
nhà nước ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của Thanh tra Bộ. Mỗi Bộ chỉ
thành lập một tổ chức Thanh tra Bộ bao gồm các hoạt động thanh tra nhà nước
thuộc Bộ; chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ trưởng và sự chỉ đạo về công tác tổ
chức, nghiệp vụ của Thanh tra nhà nước.
Bộ máy của Thanh tra Bộ tuỳ tình hình cụ thể của mỗi Bộ có thể thành lập các
phòng hoặc tổ thanh tra theo từng lĩnh vực hoặc thực hiện theo quy chế thủ trưởng
trực tiếp với thanh tra viên, chuyên viên.
Đối với Bộ quản lý chỉ đạo theo ngành dọc hoặc theo ngành dọc là chủ yếu thì tổ
chức và mối quan hệ chỉ đạo của Thanh tra Bộ với tổ chức thanh tra của cơ quan

quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính hoặc quyết định kỷ
luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái
pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
- Chủ thể khiếu nại: Điều 1 Luật khiếu nại, tố cáo quy định: Công dân, cơ quan, tổ
chức có quyền khiếu nại quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính của cơ
quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền cán bộ, công chức có
quyền khiếu nại quyết định kỷ luật.
- Quyền của người khiếu nại: Luật khiếu nại, tố cáo quy định người khiếu nại có
các quyền cụ thể như sau:
Tự mình khiếu nại hoặc thông qua người đại diện hợp pháp để khiếu nại; Được
nhận văn bản trả lời về việc thụ lý giải quyết khiếu nại; nhận quyết định giải quyết
khiếu nại; Được khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp đã bị xâm phạm, được bồi
thường thiệt hại theo quy định của pháp luật; Được khiếu nại tiếp hoặc khởi kiện


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status