THÔNG TIN KHÍ TƯỢNG THUỶ VĂN PHỤC VỤ PHÒNG CHỐNG THIÊN TAI VÀ ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU - Pdf 16

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
CỤC KHÍ TƯỢNG THUỶ VĂN VÀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
CỤC KHÍ TƯỢNG THUỶ VĂN VÀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
THÔNG TIN KHÍ TƯỢNG THUỶ VĂN
PHỤC VỤ PHÒNG CHỐNG THIÊN TAI
VÀ ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
NỘI DUNG
1. Đặc điểm của thiên tai KTTV ở Việt Nam
2. Nhu cầu về thông tin KTTV trong công tác phòng chống
thiên tai
3. Nhu cầu về thông tin KTTV trong công tác ứng phó với
biến đổi khí hậu
4. Sử dụng thông tin KTTV trong phòng tránh thiên tai và
ứng phó với biến đổi khí hậu
5. Kết luận và khuyến nghị
ĐẶC ĐIỂM THIÊN TAI KTTV Ở VIỆT NAM (1)
Thiên tai KTTV ở Việt Nam thường xảy ra nhiều nhất là bão, lũ
lụt, mưa lớn và hạn hán.
Bão
Việt Nam nằm trong phạm vi ảnh hưởng của khu vực Tây Bắc
Thái Bình Dương, một ổ bão lớn trong 5 ổ bão trên thế giới.
Có nhiều năm có tới hơn 10 cơn bão đổ bộ vào nước ta như: năm
1964 (18 cơn bão), năm 1973 (12 cơn bão), 1978 (12 cơn bão).
Theo thống kê, trong vòng hơn 50 năm (1954-2006) đã có 380 trận
bão và áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng đến Việt Nam, trong đó 31%
đổ bộ vào Bắc Bộ, 36% đổ bộ vào Bắc và Trung Trung bộ, 33% đổ
bộ vào Nam Trung bộ và Nam bộ.
Có tới 80 - 90% dân số Việt Nam chịu ảnh hưởng của bão.
ĐẶC ĐIỂM THIÊN TAI KTTV Ở VIỆT NAM (2)
Lũ lụt
Lũ ở Bắc bộ

ảnh hưởng hẹp, thường mang đặc điểm lũ núi, lũ quét
ĐẶC ĐIỂM THIÊN TAI KTTV Ở VIỆT NAM (5)
Lũ lụt ở Đồng bằng sông Cửu Long
Hàng năm ở Đồng bằng sông Cửu Long đều có lũ với mức độ
khác nhau. Lũ chủ yếu từ thượng nguồn sông Mê Kông đổ về
và chịu ảnh hưởng trực tiếp của thủy triều kết hợp với khả
năng điều tiết của Biển Hồ.
Ở Đồng bằng sông Cửu Long lũ và lụt là 2 hiện tượng đặc
biệt có quan hệ với nhau. Tuy nhiên nguyên nhân gây ngập
lụt không phải hoàn toàn do lũ cao. Chẳng hạn ngập lụt tại
Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên ngoài nước sông đổ
vào còn có nước từ phía Campuchia tràn sang, thủy triều từ 2
vùng biển phía Đông và phía Tây v.v.
ĐẶC ĐIỂM THIÊN TAI KTTV Ở VIỆT NAM (6)
Lũ quét
Lũ quét thường xảy ra rất bất ngờ, tuy chỉ xảy ra trong phạm
vi hẹp nhưng rất nguy hiểm và thường gây ra những tổn thất
nghiêm trọng về người và của
Ở nước ta có lũ quét có khả năng xảy ra trong 33 tỉnh miền
núi trong cả nước thuộc 4 vùng: vùng núi phía Bắc, Trung
bộ, Tây Nguyên và Đông Nam bộ. Do sự biến động của thời
tiết, trong những năm gần đây lũ quét xuất hiện ngày càng
nhiều. Bình quân có từ 2 đến 4 trận lũ quét xảy ra trong mùa
lũ hàng năm. Có những nơi lũ quét xảy ra nhiều lần ở cùng
một địa điểm. Các trận lũ quét điển hình như năm 1991 tại
thị xã Sơn La; năm 1994 tại Mường Lay, Lai Châu; năm
2002 tại Hà Tĩnh; năm 2005 tại Yên Bái
ĐẶC ĐIỂM THIÊN TAI KTTV Ở VIỆT NAM (7)
Hạn hán và hoang mạc hoá
Hạn hán là loại hình thiên tai thường xảy ra ở Việt Nam

lại rất mạnh (tương đương gió bão mạnh), do đám mây dông mạnh
và có cấu trúc đặc biệt tạo nên. Trong một đám mây dông có thể tạo
ra hai hoặc ba lốc xoáy cùng lúc và hợp thành cơn lốc. Lốc thường
kéo theo mưa rào, mưa dông và có thể có cả mưa đá kèm theo cát,
bụi
Tố và lốc là những thiên tai xảy ra bất ngờ thường thấy ở vùng trung
du miền núi và nhiều tỉnh khác ở Nam Bộ và Trung Bộ.
ĐẶC ĐIỂM THIÊN TAI KTTV Ở VIỆT NAM (10)
Nắng nóng
Nắng nóng thường xảy ra trong các tháng hè. Nắng nóng
tuy không gây ra những hậu quả nặng nề như các thiên
tai khác nhưng cũng làm ảnh hưởng đến sức khỏe, gây
tác hại đối với nông nghiệp.
Xâm nhập mặn
Bờ biển Việt Nam dài 3.260 km với nhiều cửa sông do vậy
xâm nhập mặn xảy ra suốt dọc bờ biển với mức độ khác
nhau. Có 3 vùng có nguy cơ xâm nhập mặn cao, đó là:
các tỉnh ven biển Tây Nam bộ, các tỉnh duyên hải miền
Trung và khu vực hạ lưu sông Đồng Nai. Các tỉnh ven
biển Tây Nam bộ là khu vực chịu ảnh hưởng xâm nhập
mặn nghiêm trọng nhất
NHU CẦU THÔNG TIN KTTV
TRONG CÔNG TÁC PHÒNG TRÁNH THIÊN TAI (1)
Các thông tin cần thiết trong giai đoạn giảm nhẹ thiệt hại
Giai đoạn giảm nhẹ thiệt hại thực chất là việc phòng ngừa từ xa. Vì
vậy các biện pháp trong giai đoạn này mang tính lâu dài như qui
hoạch các khu dân cư và sản xuất để khỏi bị ảnh hưởng của thiên
tai, thiết kế xây dựng các công trình có thể chịu đựng được thiên
tai.
Nhìn chung, giai đoạn giảm nhẹ thiệt hại ở nước ta chưa được coi

ngoài. Ở đây ngoài các vấn đề về tính pháp lý và khoa học, có một
thực tế là để ra quyết định, người sử dụng phải căn cứ vào một
thông tin chứ không thể dựa vào nhiều thông tin. Chẳng hạn đối
với dự báo bão, để phát lệnh sơ tán cần phải biết lúc nào bão vào, ở
đâu, mạnh hay yếu. Các thông tin rất cụ thể này chỉ có thể căn cứ
vào duy nhất một nguồn nào đó.
NHU CẦU THÔNG TIN KTTV
TRONG CÔNG TÁC PHÒNG TRÁNH THIÊN TAI (4)
Các thông tin cần thiết trong giai đoạn ứng phó
Trong giai đoạn ứng phó, các cơ quan phòng chống thiên tai cần
thu thập và xử lí thông tin ở những vùng đang chịu tác động
của thiên tai để có các quyết định kịp thời xử lý các tình huống
như: sơ tán dân ra khỏi những vùng nguy hiểm, tổ chức tìm
kiếm, cứu hộ, cứu nạn. thành lập các đoàn cứu trợ v.v.
Thông thường thông tin KTTV trong giai đoạn này không cần
nhiều như giai đoạn trước nên các cơ quan phòng chống thiên
tai không còn phải tham khảo nhiều nguồn mà thông tin mang
tính tập trung của một nguồn duy nhất vì chỉ có các Trung
tâm KTTV quốc gia và các địa phương mới có đầy đủ thông
tin chi tiết cần thiết tại nơi thiên tai đang xảy ra cũng như
những tác hại mà nơi có thiên tai đang phải gánh chịu.
NHU CẦU THÔNG TIN KTTV
TRONG CÔNG TÁC PHÒNG TRÁNH THIÊN TAI (5)
Các thông tin cần thiết trong giai đoạn khắc phục
Trong giai đoạn khắc phục hậu quả các hoạt động nhằm
giúp cho cộng đồng khôi phục lại đời sống bình thường
hàng ngày. Các cơ quan và tổ chức cần biết thông tin
trong giai đoạn này ngoài các cấp chính quyền là các
đoàn thể, tổ chức phi chính phủ như: mặt trận, hội chữ
thập đỏ, các hội thanh niên, phụ nữ, cựu chiến binh v.v.

hiện tại và dự báo KTTV).
- Tác động của biến đổi khí hậu là lâu dài nhưng cũng bao gồm cả
những tác động trước mắt vì vậy các kế hoạch và biện pháp ứng
phó với biến đổi khí hậu không thể chỉ đơn thuần dựa trên các kịch
bản biến đổi khí hậu (chưa nói đến kịch bản biến đổi khí hậu chưa
phải là căn cứ chuẩn xác cho các quyết định ứng phó với biến đổi
khí hậu) mà phải dựa trên các thông tin KTTV có độ tin cậy cao.
NHU CẦU VỀ THÔNG TIN KTTV
ĐỐI VỚI CÔNG TÁC ỨNG PHÓ VỚI BĐKH (3)
- Để thực hiện các kế hoạch và biện pháp thích ứng với
biến đổi khí hậu, ngoài thông tin KTTV còn cần các
công cụ và phương pháp đánh giá tác động của biến
đổi khí hậu, trong đó việc xử lý thông tin KTTV có vai
trò cốt yếu. Trong khi không có một kịch bản tin cậy
để áp dụng lâu dài, việc xử lý thông tin KTTV từ ngắn
hạn đến dài hạn là rất cần thiết nhằm đưa ra giải pháp
tối ưu để ứng phó với biến đổi khí hậu.
- Để đáp ứng yêu cầu của các ngành, các cấp, đặc biệt
là địa phương, nơi thực hiện trực tiếp các biện pháp
ứng phó với biến đổi khí hậu, cần có cơ quan cung cấp
đầy đủ các loại thông tin KTTV và hướng dẫn chi tiết
phù hợp với từng địa phương.
NHU CẦU VỀ THÔNG TIN KTTV
ĐỐI VỚI CÔNG TÁC ỨNG PHÓ VỚI BĐKH (4)
Trong việc giảm nhẹ tác động của biến đổi khí hậu,
thông tin KTTV cũng có vai trò quan trọng trong
việc quyết định các biện pháp giảm nhẹ thông qua
những đánh giá về nguồn năng lượng mới hoặc tiêu
thụ năng lượng trong điều kiện khí hậu thay đổi.
SỬ DỤNG THÔNG TIN KTTV TRONG PHÒNG

nhất là đối với một địa phương. Các dự báo đều mang tính xác suất dù
đó là những dự báo hàng giờ, hàng tuần hoặc hàng năm. Mức độ
chính xác của dự báo các thiên tai KTTV phụ thuộc vào đặc điểm của
từng loại thiên tai. Nhìn chung thiên tai có qui mô càng nhỏ càng khó
dự báo.
Như vậy người sử dụng các bản tin dự báo KTTV phải coi các bản tin dự
báo như một loại thông tin không khẳng định. Rõ ràng việc xử lý với loại
thông tin không khẳng định phải khác với thông tin khẳng định. Chẳng
hạn yêu cầu của các cơ quan chỉ đạo phòng chống đòi hỏi phải dự báo
trước 48 giờ thậm chí tới 72 giờ. Vì các bản tin dự báo bão càng sớm sai
số càng lớn nên với bản tin dự báo bão phải theo dõi liên tục, không thể
chỉ nghe một lần. Việc chỉ đạo phòng chống phải thường xuyên bám sát
các dự báo để chỉ đạo kịp thời. Vì vậy, đối với công tác chỉ đạo phòng
chống dự báo quá sớm nhưng không chắc chắn có thể là không cần thiết.
SỬ DỤNG THÔNG TIN KTTV TRONG PHÒNG
CHỐNG THIÊN TAI VÀ ỨNG PHÓ VỚI BĐKH (4)
-
Cũng với yêu cầu dự báo sớm, việc đưa các thông tin bão từ khí
bão còn quá xa ngoài kinh tuyến 120
o
không những không cần thiết
mà có thể gây ra những ảnh hưởng không tốt đến sản xuất và sinh
hoạt. Các thống kê cho thấy, mỗi năm có khoảng 20 – 30 cơn bão
xuất hiện ở vùng biển Tây bắc Thái Bình Dương (ngoài kinh tuyến
120
o
) nhưng chỉ có khoảng 1/10 trong số đó đổ bộ vào nước ta. Như
vậy nếu đưa đầy đủ thông tin của các cơn bão ở vùng biển Tây bắc
Thái Bình Dương, sẽ có tới 90% thông tin là thừa.
-


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status