Phương pháp khám tuyến giáp
(Kỳ 2)
2.2. Khám mắt và triệu chứng run ở bệnh nhân có bệnh lý tuyến giáp:
2.2.1. Khám mắt:
Lồi mắt là một triệu chứng có thể gặp ở bệnh nhân cường chức năng tuyến
giáp do Basedow. Lồi mắt có thể một hoặc hai bên. Nếu hai bên có thể không cân
đối, bên lồi nhiều, bên lồi ít. Lồi mắt hay kèm theo phù mi mắt, phù giác mạc,
xung huyết giác mạc. Để xác định độ lồi của mắt, người ta dùng thước Haptel để
đo. Bình thường, độ lồi mắt của người Việt Nam là 12 ± 1,7mm ( Mai Thế Trạch -
1996).
Ngoài triệu chứng lồi mắt, còn có thể phát hiện tình trạng rối loạn trương
lực thần kinh của các cơ vận nhãn do co cơ mi trên (cơ Muller).
Người ta dựa vào các dấu hiệu của mắt để xác định tổn thương mắt trong
bệnh lý tuyến giáp:
- Dấu hiệu Dalrymple: hở khe mi còn gọi là “lồi mắt giả”.
- Dấu hiệu Von Graefer: mất đồng tác giữa nhãn cầu và mi mắt.
- Dấu hiệu Stellwag: mi mắt nhắm không kín.
- Dấu hiệu Joffroy: mất đồng tác giữa nhãn cầu và cơ trán.
- Dấu hiệu Jellinek: viền sậm màu ở quanh mi mắt.
- Dấu hiệu Moebius: liệt cơ vận nhãn gây nhìn đôi, hội tụ của 2 nhãn cầu
không đều.
Những rối loạn bệnh lý trong lồi mắt là do phù, tăng thể tích sau nhãn cầu
và tổ chức liên kết của cơ ngoài nhãn cầu, ứ đọng trong tổ chức này các
mucopolysacharit và các axit có tính hút nước mạnh (axit hyaluronic và axit
chondrohytinsulfuric) gây cản trở lưu thông tĩnh mạch, tăng sinh tổ chức liên kết
của nhãn cầu, thâm nhiễm các tế bào lympho và tương bào. Các cơ hốc mắt có thể
bị viêm sau đó phì đại và xơ hoá làm giảm lực giữ nhãn cầu ở vị trí sinh lý, do vậy
lồi mắt trở thành khó hồi phục.
2.2.2. Triệu chứng run do bệnh lý tuyến giáp:
Run là một triệu chứng hay gặp ở bệnh nhân cường chức năng tuyến giáp
do Basedow: run tay thường có biên độ nhỏ, tần số cao, thường run đầu ngón; có
- Bất thường về vị trí: tuyến giáp kéo dài xuống trung thất, tuyến giáp lạc
chỗ dưới gốc lưỡi.
- Bất thường về độ tập trung: nhân cố định ít tia xạ nhân giảm xạ (nhân
lạnh). Nhân cố định nhiều tia xạ nhân tăng xạ (nhân nóng).
3.2. Các phương pháp thăm dò chức năng:
3.2.1. Định lượng hormon trong máu:
+ Định lượng T
3
, T
4
toàn phần.
Định lượng nồng độ T
3
, T
4
bằng phương pháp miễn dịch phóng xạ - RIA
hoặc miễn dịch enzyme - EIA. Trị số bình thường T
3
, T
4
của các labo thay đổi tùy
theo phương pháp định lượng.
Nồng độ bình thường (Bộ môn Sinh lý bệnh - Học viện Quân y).
T
3
: 0,92 - 2,79 nmol/l.
T
4
: 58,1 - 140,9 nmol/l.
+ Định lượng T