Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong công tác đánh giá cán bộ doc - Pdf 16

V ậ n d ụ ng t ư t ưở ng H ồ Chí Minh trong công tác đánh giá cán b ộ
15:05 | 03/10/2007 Nếu nói cán bộ là một trong những khâu quan trọng quyết định thành công
hay thất bại của công tác, thì đánh giá là khâu rất quan trọng trong việc sử dụng cán bộ.
Đánh giá cán bộ chính xác là cơ sở cho việc bố trí, bổ nhiệm, đề bạt cán bộ. Sinh thời, Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã dạy, mỗi lần xem xét lại nhân lực, một mặt thì tìm thấy những nhân
tài mới, mặt khác sẽ tìm ra những cán bộ thiếu năng lực và tư cách
Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII về Chiến lược cán
bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã xác định: "Trách nhiệm đánh
giá cán bộ thuộc về cấp ủy, tổ chức đảng nơi cán bộ sinh hoạt, cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp
của cán bộ và bản thân cán bộ tự đánh giá". Đồng thời, Nghị quyết cũng yêu cầu "Cán bộ được
thông báo ý kiến nhận xét của cơ quan có thẩm quyền về bản thân mình, được trình bày ý kiến,
có quyền bảo lưu và báo cáo lên cấp trên, nhưng phải chấp hành ý kiến kết luận của cơ quan có
thẩm quyền".
Thời gian qua, chúng ta đã triển khai tương đối đồng bộ các khâu trong công tác cán bộ như đánh
giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí, sử dụng và thực hiện chính sách cán bộ.
Qua sơ kết, tổng kết công tác cán bộ của các địa phương, ban, ngành và trong cả nước thời gian
qua cho thấy, công tác này có những chuyển biến trong nhận thức, trong quan điểm về đánh giá
cán bộ. Đánh giá cán bộ không đơn thuần chỉ căn cứ vào thành tích cũ, quá trình công tác, trình
độ học lực, thành phần lý lịch, mà đã chú trọng hơn về tiêu chuẩn cán bộ, nhất là về phẩm chất
chính trị, đạo đức, năng lực, kiến thức, lấy hiệu quả thực hiện nhiệm vụ, chức trách được giao
trong điều kiện công tác cụ thể làm thước đo chủ yếu. Công tác đánh giá cán bộ đã có sự phối
hợp chặt chẽ hơn với các cấp ủy và đã thực hiện tốt hơn nguyên tắc tập thể, dân chủ, công khai
tự phê bình và phê bình; cá nhân được đánh giá đã nghiêm túc tự đánh giá, quần chúng bước đầu
tham gia đánh giá cán bộ, đánh giá cán bộ có văn bản; một số nơi cán bộ được thông báo ý kiến
nhận xét của cơ quan có thẩm quyền
Song nhiều nơi đều thừa nhận công tác đánh giá cán bộ là một khâu rất khó và còn nhiều yếu
kém. Đại hội X của Đảng cũng nêu rõ: "Nhiều khuyết điểm, yếu kém trong công tác cán bộ chậm
được khắc phục Chậm đổi mới cơ chế, phương pháp và quy trình đánh giá, bổ nhiệm, miễn
nhiệm, từ chức đối với cán bộ". Vì khó và yếu nên nhiều nơi nhận xét, đánh giá cán bộ chưa thật
sự khách quan, đầy đủ, chính xác.
Quan điểm và phương pháp đánh giá cán bộ một số nơi chưa đổi mới. Trong nhận xét, đánh giá

là vì "bộc lộ trình độ hơn sếp".
Để làm tốt hơn công tác đánh giá cán bộ, thiết nghĩ chúng ta cần trở lại với tư tưởng Hồ Chí
Minh, hiện thực hóa quan điểm, chủ trương của Đảng và quan tâm thực hiện tốt một số vấn đề
sau đây:
Thứ nhất, xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý, đội ngũ làm công tác tổ chức cán bộ
vững mạnh.
Đây là đội ngũ có vai trò rất quan trọng trong xây dựng đội ngũ cán bộ, trong việc đánh giá, sắp
xếp, bố trí, bổ nhiệm, đề bạt cán bộ. Do vậy, đội ngũ này phải thật sự là những người hội đủ cả
đức lẫn tài, phải vừa có tâm vừa có tầm; phải biết nhìn xa, trông rộng, phải hiểu biết về con
người, thực sự quan tâm và yêu thương cán bộ, phải thật sự vô tư trong sáng, phải có tư chất của
người làm công tác tổ chức cán bộ, phải được đào tạo, huấn luyện nghiệp vụ về công tác này
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, đội ngũ này phải tránh những chứng bệnh "tự cao, tự đại", "ưa
nịnh", "do lòng yêu ghét của mình mà đối với người", "Đem một cái khuôn khổ nhất định, chật
hẹp mà lắp vào tất cả mọi người khác nhau". Theo Người, cán bộ lãnh đạo mà phạm một trong
bốn bệnh đó thì cũng như mắt đã mang kính màu, không bao giờ thấu rõ mặt thật của những cái
mình trông. Bởi vì, người lãnh đạo mà không khiêm tốn, luôn tự cao, tự đại thì không nhìn thấy,
không thừa nhận người khác tài giỏi hơn mình; thậm chí có nhìn thấy nhưng lại sinh lòng đố kỵ,
sợ người khác hơn mình, nên muốn dìm người giỏi, hại người ngay.
Bệnh thích xu nịnh dễ đưa đến lựa chọn lầm lẫn, cất nhắc nhầm kẻ xấu, bất tài, lại giỏi nịnh hót
người trên, không muốn cất nhắc, đề bạt hoặc bỏ sót người ngay thẳng, tài giỏi thật sự. Đối xử
với cán bộ mà dựa vào tình cảm cá nhân, vị kỷ cũng khiến nhìn người không đúng. Hơn nữa, xét
người phải có cái nhìn rộng rãi, thoáng đạt, không nên nhìn mọi người theo một khuôn khổ chật
hẹp, suy nghĩ nông cạn, phiến diện, chủ quan.
Muốn hiểu biết đúng những phải trái ở người khác, hiểu biết cán bộ, thì đội ngũ lãnh đạo và làm
công tác tổ chức cán bộ, trước hết phải biết rõ sự phải trái của mình, không hiểu được mình thì
khó mà có thể hiểu người. Đội ngũ này phải biết sửa chữa khuyết điểm của mình vì "mình càng
ít khuyết điểm thì cách xem xét cán bộ càng đúng", và mình phải là những người "độ lượng vĩ
đại"; phải thật sự công tâm, khách quan, phải xác định rõ công tác cán bộ không phải là việc
riêng ai, mà là việc chung cho nhân dân, cho đất nước; phải có bản lĩnh và am hiểu, thực hiện
đúng quy trình, quy chế trong công tác đánh giá cán bộ.

phát huy sức mạnh của tập thể, tạo ra sự tiến bộ và kết quả cụ thể trong ngành, lĩnh vực, địa
phương, đơn vị mình phụ trách; không tham nhũng, lãng phí, quan liêu và kiên quyết chống tham
nhũng, lãng phí, quan liêu".
Thứ ba, đánh giá cán bộ phải xem xét cả một quá trình.
Khi đánh giá cán bộ không thể chỉ xét một lúc, một thời điểm, một thời gian ngắn, hoặc chỉ thấy
hiện tại, mà cần có thời gian dài, có một quá trình. Bởi vì, mọi việc đều có sự biến chuyển, con
người cũng có sự thay đổi về nhiều mặt, cho nên nhận xét về một con người không thể cố định
bất biến mà phải trong quá trình vận động, biến đổi. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: "Trong
thế giới, cái gì cũng biến hóa. Tư tưởng của người cũng biến hóa. Vì vậy cách xem xét cán bộ,
quyết không nên chấp nhất, vì nó cũng phải biến hóa
Một người cán bộ khi trước có sai lầm, không phải vì thế mà sai lầm mãi. Cũng có cán bộ đến
nay chưa bị sai lầm, nhưng chắc gì sau này không phạm sai lầm? Quá khứ, hiện tại và tương lai
của mọi người không phải luôn giống nhau".
Muốn đánh giá cán bộ đúng đắn, chính xác, người có trách nhiệm phải kiên nhẫn tìm hiểu, theo
dõi cán bộ trong một thời gian dài. Do đó, người làm công tác này phải có kế hoạch thật chặt
chẽ, hợp lý trong quản lý cán bộ, phải có các bước đánh giá phù hợp, khoa học, phải hợp lực với
nhiều người, tham khảo ý kiến số đông trong đánh giá cán bộ. Muốn vậy, phải thực hành dân chủ
rộng rãi trong Đảng và quần chúng.
Thứ tư, mở rộng dân chủ, công khai, minh bạch trong đánh giá cán bộ.
Để cho tập thể và quần chúng tham gia đánh giá cán bộ. Mỗi một con người có nhiều mối
quan hệ ngang dọc, trên dưới, trong ngoài. Cán bộ là một thành viên của một tập thể, một cộng
đồng, cùng làm việc, cùng sinh hoạt với nhau, nên cũng có rất nhiều mối liên hệ. Công việc mà
cán bộ phụ trách thường liên quan đến nhiều việc, nhiều người. Do vậy, khi đánh giá cán bộ, bên
cạnh ý kiến nhận xét của cán bộ lãnh đạo quản lý, của cơ quan tham mưu, còn phải coi trọng ý
kiến của tập thể cán bộ và ý kiến của đông đảo quần chúng. Nếu chỉ riêng ý kiến nhận xét, đánh
giá của cán bộ lãnh đạo quản lý, cán bộ phụ trách công tác tổ chức cán bộ thì sẽ không thể thấy
hết mọi mặt của người cán bộ, mọi vấn đề có liên quan đến cán bộ. Những đồng nghiệp cùng làm
việc với cán bộ từng thường xuyên cộng tác, gánh vác, chia sẻ trách nhiệm với nhau, gần gũi,
trao đổi với nhau nhiều việc, nhiều vấn đề, cho nên họ hiểu nhau hơn là giữa cán bộ lãnh đạo với
cấp dưới. Mỗi cán bộ cũng có nhiều mối quan hệ với quần chúng qua công tác, qua sinh hoạt và

huống chi trường hợp người lãnh đạo lại thiếu công tâm, khách quan.
Có nhiều cách thức, kinh nghiệm khác nhau khi nhìn nhận về con người. Những ai đã từng trải
nghiệm, lăn lộn với cuộc sống, từng cộng tác, tiếp xúc, va chạm với nhiều hạng người thường
tích lũy những kinh nghiệm hay về nhìn nhận con người. Vốn là người đã từng bôn ba khắp năm
châu, bốn biển, rất có kinh nghiệm về việc này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giúp chúng ta nhận
diện những tính cách, hành vi của từng loại cán bộ, của người tốt, kẻ xấu:
"Ai mà hay khoe công việc, hay a dua, tìm việc nhỏ mà làm, trước mặt thì theo mệnh lệnh, sau
lưng thì trái mệnh lệnh, hay công kích người khác, hay tự tâng bốc mình, những người như thế,
tuy họ làm được việc, cũng không phải cán bộ tốt"
"Ai cứ cắm đầu làm việc, không ham khoe khoang, ăn nói ngay thẳng, không che giấu khuyết
điểm của mình, không ham việc dễ, tránh việc khó, bao giờ cũng kiên quyết làm theo mệnh lệnh
của Đảng, vô luận hoàn cảnh thế nào, lòng họ cũng không thay đổi, những người như thế, dù
công tác kém một chút cũng là cán bộ tốt".
Hoặc là, khi nói chữ chính trong các đức tính của con người Việt Nam thời đại mới, Người cũng
giải thích rõ rằng, trên quả đất có hàng muôn triệu người và có thể chia làm hai hạng là người
thiện và kẻ ác; trong xã hội tuy có trăm công nghìn việc, song những công việc ấy có thể chia
làm hai thứ là việc chính và việc tà. "Làm việc chính, là người thiện. Làm việc tà là người ác",
"siêng năng (cần), tần tiện (kiệm), trong sạch (liêm), chính là thiện. Lười biếng, xa xỉ, tham lam,
là tà, là ác". Sự hiểu biết, óc quan sát tinh tường về con người, về cán bộ như vậy, chắc chắn sẽ
giúp cho việc nhận xét, phân định cán bộ chính xác, rõ ràng, khoa học hơn.
Những kinh nghiệm, những lời dạy quý báu, thấu đáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã và đang
được cụ thể hóa thành những quan điểm, chủ trương của Đảng ta luôn có ý nghĩa to lớn và có giá
trị sâu sắc. Nghiên cứu, học tập, vận dụng tư tưởng của Người và quan điểm chủ trương của
Đảng để nhanh chóng khắc phục những thiếu sót, lệch lạc trong đánh giá cán bộ sao cho đạt kết
quả chính xác hơn, góp phần thực hiện tốt, đổi mới đồng bộ các khâu trong công tác cán bộ
nhằm xây dựng đội ngũ vững mạnh cho nhiệm vụ cách mạng là một yêu cầu, nhiệm vụ quan
trọng hiện nay.
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CÁN BỘ
VÀ CÔNG TÁC CÁN BỘ
Cán bộ - theo Chủ tịch Hồ Chí Minh đó “là những người đem chính sách của

chọn cán bộ, song không bao giờ Người coi nhẹ tài năng, năng lực. Vị trí cuả cán
bộ, là “cầu nối” giữa Đảng, Chính phủ với quần chúng, nhưng không phải là “vật
mang”, là “dây dẫn”, là chuyển tải cơ học mà chính là con người có đủ tư chất, tài
năng và đạo đức để làm việc đó. Bởi lẽ để có thể đem chính sách của Đảng và
Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành, đòi hỏi người cán bộ, công
chức phải có một trình độ, trí tuệ nhất định. Nếu không, trong quá trình thực hiện
nhiệm vụ, người cán bộ sẽ làm sai lệch tinh thần, nội dung của đường lối, chính
sách và khi đó thì thật là nguy hiểm.
Việc truyền đạt, giải thích và triển khai thực hiện chính sách của Đảng và Nhà
nước là một việc khó khăn; nhưng khó khăn và phức tạp hơn nhiều là nắm chắc
được tình hình, tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nhân dân, cũng như phản ánh
được đúng thực chất của tình hình để làm căn cứ cho việc tham mưu, hoạch định
chính sách. Công việc này đòi hỏi người cán bộ phải đạt tiêu chuẩn ở mức cao hơn
để có thể tổng kết thực tiễn, khái quát, nâng lên thành lý luận. Chủ tịch Hồ Chí
Minh đặt cán bộ ở vị trí có tính chất quyết định. Chính sách đúng đắn có thể không
thu được kết quả nếu cán bộ làm sai, cán bộ yếu kém. Tức là, “khi đã có chính sách
đúng, thì sự thành công hoặc thất bại của chính sách đó là nơi cách tổ chức công
việc, nơi lựa chọn cán bộ và do nơi kiểm tra. Nếu ba điểm ấy sơ sài, thì chính sách
đúng mấy cũng vô ích”(3). Muốn tổ chức công việc tốt, phải có người cán bộ đạt
tiêu chuẩn vừa có tài, vừa có đức.
Trong kiến quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH), cán bộ nhất định phải có
học thức; phải có văn hoá làm gốc, phải có nghề, thạo nghề. Cán bộ lãnh đạo
ngành nào phải biết ngành đó, xây dựng CNXH không thể lãnh đạo chung chung
được. Tức là, “cán bộ và đảng viên chẳng những thạo về chính trị mà còn phải giỏi
về chuyên môn; không thể lãnh đạo chung chung ra sức đào tạo thật nhiều cán bộ
kỹ thuật, cán bộ quản lý cần thiết cho sản xuất phát triển, chỉ có như thế chúng ta
mới xây dựng thắng lợi CNXH”(4).
Chủ tịch Hồ Chí Minh coi đạo đức là gốc, là cái quan trọng nhất nhưng nó phải
gắn với tài và tài phải có đức đảm bảo. Có đức mà không có tài thì làm việc gì
cũng khó, còn có tài mà không có đức sẽ không làm được điều ích lợi cho đời,

đơn vị khi cán bộ có sai phạm khuyết điểm, “làm bậy”, cũng cứ bao dung, che chở,
khiến cho cán bộ ngày càng hư hỏng. Đối với những người tốt, người chính trực lẽ
ra phải được cất nhắc, nhưng do không ưng ý với mình thì bới lông tìm vết để trả
thù, hạ uy tín, tìm cách cô lập, dèm pha nói xấu
Ngoài ra, trong công tác cán bộ phải biết khéo léo kết hợp các lứa tuổi không coi
thường cán bộ trẻ, đồng thời biết phát huy và sử dụng kinh nghiệm của những cán
bộ đi trước. Tức là, “Đảng ta phải khéo kết hợp cán bộ già với cán bộ trẻ. Không
nên coi thường cán bộ trẻ Còn cán bộ trẻ không được kiêu ngạo, phải khiêm tốn
học hỏi các đồng chí già có kinh nghiệm”(7). Cùng với đó, trong hoạt động thực
tiễn luôn nảy nở rất nhiều nhân tài ngoài Đảng. “Chúng ta không được bỏ rơi họ,
xa cách họ. Chúng ta phải thật thà đoàn kết với họ, nâng đỡ họ. Phải thân thiết với
họ, gần gũi họ, đem tài năng của họ giúp ích vào công cuộc kháng chiến cứu nước,
phải luôn tùy theo hoàn cảnh mà vẽ cho họ về phương hướng công tác, để cho họ
phát huy năng lực và sáng kiến của họ, phải cho họ điều kiện sinh sống đầy đủ mà
làm việc”
Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ luôn giữ vai trò, vị trí trọng
yếu, cấp thiết, là “cái gốc” và “công việc gốc” của Đảng qua các thời kỳ cách
mạng. Đặc biệt, trong điều kiện hiện nay khi mà đội ngũ cán bộ nước ta có bước
trưởng thành và tiến bộ về nhiều mặt, cùng với đó Đảng và Nhà nước đã thường
xuyên thể chế hóa, cụ thể hóa nhiều chủ trương, quan điểm, giải pháp lớn về công
tác cán bộ đề ra trong chiến lược cán bộ Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã
đạt được, thì công tác cán bộ và đội ngũ cán bộ hiện nay vẫn còn bộc lộ một số mặt
yếu kém như: chính sách, môi trường làm việc của cán bộ chưa tạo động lực để
khuyến khích, thu hút, phát huy năng lực, sự cống hiến của cán bộ, thiếu cán bộ
lãnh đạo, quản lý giỏi, cán bộ đầu ngành, cán bộ có trình độ cao, có khả năng dự
báo, xử lý tốt những vấn đề phức tạp nảy sinh. Tình trạng suy thoái về tư tưởng,
chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ diễn ra nghiêm
trọng, kéo dài, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, với chế độ
Chính vì vậy, đòi hỏi Đảng và Nhà nước phải thường xuyên tiến hành đổi mới
công tác cán bộ, phải “xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng,

chính. Đặc biệt quan tâm chống sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống. Kiên quyết
đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ đường lối, quan điểm
của Đảng; phê phán, bác bỏ các quan điểm sai trái, thù địch.
2. Bảo đảm vai trò nền tảng và hạt nhân chính trị của tổ chức cơ sở Đảng, nâng cao chất
lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Mỗi tổ chức cơ sở Đảng có trách nhiệm tổ chức và qui tụ sức mạnh của toàn đơn vị hoàn thành
nhiệm vụ chính trị được giao; làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, quản lý và giám sát
đảng viên về năng lực hoàn thành nhiệm vụ và phẩm chất, đạo đức, lối sống; đấu tranh chống
chủ nghĩa cá nhân và những biểu hiện tiêu cực trong Đảng.
Kiện toàn hệ thống tổ chức cơ sở Đảng. Xác định vị thế pháp lý, thể chế hóa về mặt nhà nước vai
trò, chức năng, nhiệm vụ của các loại hình cơ sở, đặc biệt là tổ chức cơ sở Đảng trong khu vực
kinh tế tư nhân, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Chú ý xây dựng tổ chức cơ sở Đảng trong các
doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, vùng sâu, vùng xa; tập trung giải
quyết cơ sở yếu kém.
Xây dựng đội ngũ đảng viên thật sự tiên phong, gương mẫu, có phẩm chất, đạo đức cách mạng,
có ý thức tổ chức kỷ luật và năng lực hoàn thành nhiệm vụ; kiên định lập trường giai cấp công
nhân, phấn đấu cho mục tiêu lý tưởng của Đảng, vững vàng trước mọi khó khăn, thử thách; năng
động, sáng tạo, góp phần tích cực vào công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc VN xã hội chủ nghĩa.
Đảng viên làm kinh tế tư nhân không giới hạn về qui mô phải gương mẫu chấp hành điều lệ
Đảng, pháp luật, chính sách của Nhà nước và qui định cụ thể của Ban chấp hành trung ương.
Phân công đảng viên đúng người, đúng việc, tạo điều kiện để đảng viên hoàn thành nhiệm vụ.
Đẩy mạnh tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt Đảng theo đúng qui định của điều lệ Đảng.
Nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên gắn với việc nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở Đảng.
Đẩy mạnh công tác phát triển Đảng gắn với bảo đảm chất lượng. Chú trọng trẻ hóa và nâng cao
trình độ của đảng viên; lấy đạo đức làm gốc, đồng thời bồi dưỡng về kiến thức, trí tuệ, năng lực
để làm tròn nhiệm vụ người lãnh đạo, người đi tiên phong trong các lĩnh vực công tác được giao.
Thường xuyên sàng lọc đảng viên. Động viên quần chúng giám sát, đóng góp ý kiến về đảng
viên, kịp thời đưa ra khỏi Đảng những người không đủ tư cách.
3. Thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng; thắt chặt mối quan hệ

Đặc biệt quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp cao.
Đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ thật sự dân chủ, khoa học, công minh. Xây dựng và hoàn
thiện chế độ bầu cử, cơ chế bổ nhiệm và miễn nhiệm cán bộ; mở rộng quyền đề cử và tự ứng
cử, giới thiệu nhiều phương án nhân sự để lựa chọn.
Có cơ chế, chính sách bảo đảm phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng và đãi ngộ
xứng đáng người có đức, có tài; thay thế những người kém năng lực, không đủ uy tín, nhất là
những người kém phẩm chất, hư hỏng, có khuyết điểm nghiêm trọng.
Kiên quyết khắc phục những biểu hiện cá nhân, độc đoán, thiếu công tâm và khách quan, cũng
như tình trạng nể nang, tùy tiện, trì trệ trong công tác cán bộ.
Cụ thể hóa, thể chế hóa nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ
cán bộ, đồng thời phát huy vai trò, quyền hạn và trách nhiệm của các tổ chức thành viên trong hệ
thống chính trị. Tổ chức Đảng có thẩm quyền phải chủ trì công tác cán bộ theo nguyên tắc tập
trung dân chủ, tập thể quyết định đi đôi với phát huy trách nhiệm của người đứng đầu tổ chức
trong hệ thống chính trị, tổ chức cơ quan, đơn vị công tác của cán bộ. Qui định trách nhiệm của
cơ quan tham mưu trong công tác cán bộ. Có cơ chế để đảng viên và nhân dân giám sát cán bộ
và công tác cán bộ.
5. Đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng.
Việc đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng phải đồng bộ với
đổi mới hệ thống chính trị, đổi mới kinh tế; thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ
chức, sinh hoạt và hoạt động của Đảng.
Khâu mấu chốt cần tập trung hiện nay là đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với
Nhà nước ở cấp trung ương và chính quyền ở cấp địa phương. Đảng lãnh đạo Nhà nước
bằng đường lối, quan điểm, các nghị quyết, quyết định, nguyên tắc giải quyết những vấn đề trọng
đại về quốc kế dân sinh; lãnh đạo thể chế hóa, cụ thể hóa đường lối, quan điểm, chủ trương,
chính sách lớn của Đảng thành hiến pháp, pháp luật, kế hoạch, các chương trình công tác lớn của
Nhà nước; xây dựng Nhà nước thật sự trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả;
bố trí đúng cán bộ ngang tầm nhiệm vụ và thường xuyên kiểm tra việc tổ chức thực hiện.
Đảng không buông lỏng lãnh đạo, đồng thời không bao biện, làm thay Nhà nước; trái lại, phát
huy mạnh mẽ vai trò chủ động, sáng tạo của Nhà nước trong quản lý đất nước và xã hội.
Khẩn trương nghiên cứu, xây dựng, hoàn thiện hệ thống văn bản qui định cụ thể về nguyên

đức, lối sống lành mạnh, không quan liêu, tham nhũng, lãng phí ", " Nhiệm vụ quan trọng nhất là xây
dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, trước hết là cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược và người đứng đầu tổ chức
các cấp, các ngành của hệ thống chính trị ", "Đổi mới mạnh mẽ, triển khai đồng bộ các khâu: đánh giá,
quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí, sử dụng, xây dựng và thực hiện chính sách cán
bộ ", " Xây dựng và thực hiện chính sách phát triển và trọng dụng nhân tài "
(1)
.
Đảng ta thực hiện đúng đắn nguyên tắc thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ,
đi đôi với phát huy trách nhiệm của các tổ chức và người đứng đầu các tổ chức trong hệ thống chính trị
về công tác cán bộ. Làm tốt công tác quy hoạch và đào tạo nguồn cán bộ. Đánh giá, bồi dưỡng, lựa
chọn, sử dụng cán bộ trên cơ sở tiêu chuẩn, lấy hiệu quả công tác thực tế và sự tín nhiệm của nhân dân
làm thước đo chủ yếu. Đổi mới, trẻ hóa đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý, kết hợp các độ tuổi, bảo đảm
tính liên tục, kế thừa và phát triển. Thực hiện chủ trương luân chuyển cán bộ lãnh đạo và quản lý. Xây
dựng, chỉnh đốn hệ thống các học viện, trường và trung tâm chính trị, nâng cao chất lượng và hiệu quả
đào tạo, bồi dưỡng cán bộ.
Trước những thời cơ và thách thức mới của tình hình trong nước và quốc tế, Đảng ta đã xác định công
tác cán bộ trong thời kỳ mới cần quán triệt các quan điểm cơ bản :
Một là, phải xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm
thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, vững bước đi
lên chủ nghĩa xã hội. Công tác cán bộ được đổi mới có vai trò quyết định thực hiện thắng lợi mục tiêu đó.
Mặt khác, quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là
môi trường thực tiễn để rèn luyện, tuyển chọn và đào tạo cán bộ, nâng cao phẩm chất, kiến thức, năng
lực của đội ngũ cán bộ.
Hai là, quán triệt quan điểm giai cấp công nhân của Đảng, phát huy truyền thống yêu nước và đoàn kết
dân tộc. Thường xuyên giáo dục, bồi dưỡng lập trường, quan điểm, ý thức tổ chức của giai cấp công
nhân cho đội ngũ cán bộ. Đồng thời, tăng cường số cán bộ xuất thân từ công nhân, trước hết là cán bộ
chủ chốt trong hệ thống chính trị các cấp. Phát huy truyền thống yêu nước, đoàn kết, tập hợp rộng rãi
các loại cán bộ, trọng dụng nhân tài, không phân biệt đảng viên hay người ngoài Đảng, dân tộc, tôn giáo,
người trong nước hay người Việt Nam định cư ở nước ngoài ; không định kiến với những người có sai
lầm trong quá khứ, nay đã hối cải và sửa chữa. Kế thừa, phát huy truyền thống tốt đẹp của đội ngũ cán

- Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức các cấp từ trung ương đến cơ sở, đặc biệt là cán bộ đứng đầu, có
phẩm chất và năng lực, có bản lĩnh chính trị vững vàng trên cơ sở lập trường giai cấp công nhân, đủ về
số lượng, đồng bộ về cơ cấu, bảo đảm sự chuyển tiếp liên tục và vững vàng giữa các thế hệ cán bộ
nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, giữ vững độc lập tự chủ, đi lên chủ
nghĩa xã hội. Bảo đảm có đủ nguồn cán bộ để mỗi nhiệm kỳ có thể đổi mới khoảng 30-40% số cán bộ
lãnh đạo đảng, nhà nước, đoàn thể các cấp, cán bộ lãnh đạo lực lượng vũ trang. Phấn đấu đến năm
2020 số người có trình độ đại học, cao đẳng trở lên bằng khoảng 4% dân số cả nước.
- Tiêu chuẩn chung của cán bộ trong thời kỳ mới của sự nghiệp cách mạng, trước hết là, phải có tinh thần
yêu nước sâu sắc, tận tụy phục vụ nhân dân, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội,
phấn đấu thực hiện có kết quả đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Cần, kiệm,
liêm, chính, chí công vô tư. Không tham nhũng và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng. Có ý thức tổ
chức kỷ luật. Trung thực, không cơ hội, gắn bó mật thiết với nhân dân, được nhân dân tín nhiệm. Có
trình độ hiểu biết về lý luận chính trị, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà
nước; có trình độ văn hóa, chuyên môn, đủ năng lực và sức khỏe để làm việc có hiệu quả, đáp ứng yêu
cầu nhiệm vụ được giao. Các tiêu chuẩn có quan hệ mật thiết với nhau. Coi trọng cả đức và tài, đức là
gốc.
Ngoài các tiêu chuẩn chung nói trên, cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, đoàn thể nhân dân còn phải: Có
bản lĩnh chính trị vững vàng trên cơ sở lập trường giai cấp công nhân, tuyệt đối trung thành với lý tưởng
cách mạng, với chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Có năng lực dự báo và định hướng sự
phát triển, tổng kết thực tiễn, tham gia xây dựng đường lối, chính sách, pháp luật; thuyết phục và tổ chức
nhân dân thực hiện. Có ý thức và khả năng đấu tranh bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách
và pháp luật của Nhà nước. Gương mẫu về đạo đức, lối sống. Có tác phong dân chủ, khoa học, có khả
năng tập hợp quần chúng, đoàn kết cán bộ. Có kiến thức về khoa học lãnh đạo quản lý. Cán bộ lãnh đạo
Đảng, Nhà nước và đoàn thể cần học tập có hệ thống ở các trường của Đảng; trải qua hoạt động thực
tiễn có hiệu quả.
Đảng ta chủ trương quy hoạch cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý phải thể hiện được sự kết hợp chặt chẽ
giữa sắp xếp, kiện toàn cán bộ và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Hai mặt này gắn bó khăng khít với nhau.
Có tích cực đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nâng cao trình độ kiến thức mọi mặt của cán bộ thì mới có thể
sắp xếp, kiện toàn cán bộ đủ sức đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ chính trị và nhiệm vụ tổ chức. Mặt khác,
với lực lượng cán bộ hiện có, phải khéo sắp xếp, sử dụng để phát huy tốt hơn nữa mọi khả năng tiềm

và năng lực tổ chức hành động. Trong xem xét, lựa chọn cán bộ lãnh đạo, cùng với đức là gốc, không
thể coi nhẹ yêu cầu về năng lực, về trí tuệ. Nếu cán bộ lãnh đạo kém năng lực, kém trí tuệ thì sự nghiệp
cách mạng bị trì trệ, thậm chí bị chệch hướng, nguy cơ chẳng kém gì tình trạng suy thoái về phẩm chất
đạo đức.
Đảng ta đã chỉ rõ, đầu tư thích đáng cho việc đào tạo, bồi dưỡng những người ưu tú trở thành cán bộ chủ
chốt. Chú ý con em gia đình cách mạng, những người có công với nước, công nhân, nông dân, trí thức,
lực lượng vũ trang, cán bộ nữ, con em các dân tộc thiểu số, vùng căn cứ cách mạng. Có chính sách học
bổng và miễn giảm học phí cho con em các gia đình có công với cách mạng, gia đình liệt sĩ, thương binh,
con các gia đình nghèo vượt khó, cho học sinh giỏi, đạo đức tốt, sinh viên các ngành sư phạm. Bồi
dưỡng tài năng ngay từ các trường phổ thông, đại học và trung học chuyên nghiệp. Dành kinh phí để cử
cán bộ ưu tú và sinh viên xuất sắc đi đào tạo, tham gia, bồi dưỡng ở nước ngoài. Tổ chức tốt trường bổ
túc văn hóa, dự bị đại học, trường dân tộc nội trú. Nguồn đầu tư phát triển và nâng cao chất lượng đào
tạo, bồi dưỡng cán bộ bao gồm từ ngân sách Nhà nước các cấp, kinh phí của các tổ chức đảng, đoàn
thể, của doanh nghiệp, tài trợ của các tổ chức quốc tế và các nước.
Trong công tác xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, Đảng ta đặc biệt quan tâm đến
nhiệm vụ xây dựng đội ngũ cán bộ dự bị. Làm tốt công tác cán bộ dự bị, đào tạo cán bộ dự bị có tố chất
ưu tú, cơ cấu hợp lý và số lượng đông đủ cho cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp là biện pháp chiến lược
bảo đảm đường lối cơ bản lâu dài của Đảng không bị chệch hướng. Sự nghiệp phát triển đất nước theo
định hướng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải đào tạo, bồi dưỡng hàng triệu người kế nghiệp, đặc biệt là đội
ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp có tố chất cao, đủ sức đảm đương trọng trách và trải qua được thử
thách sóng gió. Đội ngũ cán bộ dự bị là nguồn quan trọng của cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp; chỉ có
xây dựng đội ngũ cán bộ dự bị có tố chất cao mới có thể đặt cơ sở vững chắc cho việc xây dựng cán bộ
lãnh đạo, quản lý các cấp. Hiện nay, đào tạo tuyển chọn một đội ngũ cán bộ dự bị các cấp thích ứng với
yêu cầu của nhiệm vụ chiến lược trong thế kỷ mới, giai đoạn cách mạng mới đang là một yêu cầu cấp
bách đối với Đảng và Nhà nước ta.
Đảng và Nhà nước ta có chính sách thích hợp bảo đảm lợi ích vật chất và động viên tinh thần cho cán
bộ. Tinh giảm biên chế, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả lao động, chống tham nhũng, lãng phí,
mở rộng bảo hiểm xã hội, tăng tỷ lệ động viên thu nhập quốc dân vào ngân sách nhà nước, đổi mới cơ
bản chính sách bảo đảm lợi ích vật chất cho từng loại cán bộ, trước hết là chế độ tiền lương, nhà ở và
phương tiện đi lại. Tiền lương phải thật sự trở thành bộ phận cơ bản trong thu nhập của cán bộ, bảo đảm

Thứ hai, về sử dụng và bố trí cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh phát huy và nâng giá trị truyền thống của cha ông “dụng nhân như dụng mộc” thành chuẩn mực, nguyên tắc của công tác cán bộ. Lời dạy giản dị mà sâu sắc của Bác luôn cần phải học hỏi và làm theo: “Người đời ai cũng có chỗ hay, chỗ dở. Ta phải dùng chỗ hay của người và giúp người chữa chỗ dở. Dùng người như dùng gỗ. Người thợ khéo thì gỗ to, nhỏ, thẳng, cong đều tùy chỗ mà dùng được! Nếu không biết tùy tài mà dùng người chẳng khác gì thợ rèn bảo đi đóng tủ, thợ mộc bảo đi rèn dao. Thành thử cả hai người đều lúng túng. Nếu biết tùy tài mà dùng người, thì hai người đều thành công”. Mặt khác, Bác hết sức quan tâm việc cất nhắc, đề bạt cán bộ. Bác nói, cất nhắc, đề bạt cán bộ là “vì công tác, vì tài năng”. Nếu vì “lòng yêu ghét,
vì thân thích, vì nể nang” thì nhất định không ai phục, mà lại gây nên mối lôi thôi trong Đảng”, là “có tội với Đảng, có tội với đồng bào”.
Theo Bác, đối với cán bộ, chẳng những phải xem xét kỹ trước khi cất nhắc, đề bạt, mà sau khi đã cất nhắc, đề bạt vẫn phải tiếp tục giúp đỡ họ…Khi họ mới có dấu hiệu sai lầm, khuyết điểm là phải chấn chỉnh ngay, đừng để sai lầm, khuyết điểm trở nên to tát, rồi mới đem ra “chỉnh”… Bác căn dặn: “Phải có độ lượng vĩ đại thì mới có thể đối với cán bộ một cách chí công vô tư, không có thành kiến, khiến cho cán bộ khỏi bị bỏ rơi. Phải chịu khó dạy bảo mới có thể nâng đỡ những đồng chí còn kém, giúp cho họ tiến bộ. Phải vui vẻ, thân mật, các đồng chí mới vui lòng gần gũi mình”.
Đào tạo cán bộ là nhằm tạo ra những người có đủ nhiệt huyết, bản lĩnh, năng lực làm việc, làm việc có trách nhiệm, có hiệu quả. Bác Hồ nói: “Nếu đào tạo một mớ cán bộ nhát gan, dễ bảo, “đập đi, hò đứng”, không dám phụ trách, như thế là một việc thất bại của Đảng”.
Thứ Ba, trong đào tạo, sử dụng cán bộ, cần mạnh dạn giao việc cho cán bộ thực hiện. Giao việc theo tư tưởng của Bác là dân chủ, là phân nhiệm rõ ràng, là đề cao tinh thần trách nhiệm của cán bộ, là phát huy sáng tạo của cán bộ. Bác chỉ rõ:
nhất định sẽ được hoàn thành tốt đẹp.
Người nói: “Dân chủ, sáng kiến, hăng hái, ba điều đó rất quan hệ với nhau. Có dân chủ mới làm cho cán bộ và quần chúng đề ra sáng kiến. Những sáng kiến đó được khen ngợi, thì những người đó càng thêm hăng hái và người khác cũng học theo. Và trong khi tăng thêm sáng kiến và hăng hái làm việc thì những khuyết điểm lặt vặt cũng tự sửa chữa được nhiều”. Theo chúng tôi, biện chứng của quan hệ “chân kiềng” (chữ tạm gọi của tác giả) giữa dân chủ, sáng kiến, hăng hái rất cần được vận dụng ngày càng nhiều hơn trong công tác lãnh đạo, quản lý. Có dân chủ thì mọi người mới có sáng kiến, mới hăng hái làm việc. Càng dân chủ thì càng có nhiều sáng kiến. Sáng kiến chỉ ra đời khi người đó tâm huyết, hăng hái làm việc trong một môi trường dân chủ.
Bác căn dặn: “Khi giao trách nhiệm cho cán bộ, cần phải chỉ đạo rõ ràng, sắp đặt đầy đủ. Vạch ra những điểm chính và những khó khăn có thể xảy ra. Những vấn đề đã được quyết định rồi thì giao cho họ làm, khuyên họ cứ cả gan mà làm. Cũng như trong quân đội, khi chiến lược, chiến thuật đã quyết định rồi, thì Tổng tư lệnh không cần nhúng vào những vấn đề lặt vặt. Thà để cho các cấp chỉ huy có quyền “tuỳ cơ ứng biến” mới có thể phát triển tài năng của họ. Việc gì cấp trên cũng nhúng vào, cán bộ cũng như một cái máy, việc gì cũng chờ mệnh lệnh, sinh ra ỷ lại, mất hết sáng kiến”.
Để đảm bảo công việc chung, tuỳ mỗi công việc khi giao, cần phải bàn bạc cách thực hiện cho tốt và củng cố niềm tin hoàn thành nhiệm vụ cho cán bộ. Xong rồi, để cán bộ chủ động làm việc. Bác dạy chân tình: “
Thay lời kết, công tác cán bộ là công tác lớn của Đảng, bao gồm nhiều công việc và triển khai một cách đồng bộ các khâu: đánh giá, giám sát, quản lý, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí, sử dụng, xây dựng và thực hiện chính sách cán bộ, xây dựng và thực hiện chính sách phát triển và trọng dụng nhân tài, thu hút nhân tài vào những lĩnh vực quan trọng. Không phân biệt người trong Đảng, ngoài Đảng Có những khâu theo trình tự, nhưng cũng có những khâu tiến hành song cùng, đan xen nhau, Mục tiêu cuối cùng và tối thượng của Đảng ta là: “Xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, lối sống lành mạnh, không quan liêu tham nhũng, lãng phí, kiên quyết đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí; có tư duy đổi mới, sáng tạo, có kiến thức chuyên
môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa; có tinh thần đoàn kết, hợp tác, ý thức tổ chức kỷ luật cao và phong cách làm việc khoa học, tôn trọng tập thể, gắn bó với nhân dân, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Đội ngũ cán bộ phải đồng bộ, có tính kế thừa và phát triển, có số lượng và cơ cấu hợp lý” (2).
Thực hiện lời dạy của Bác, Đảng ta luôn quan tâm công tác cán bộ trong thời kỳ mới trên cơ sở các quan điểm: Công tác cán bộ phải phải xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; quán triệt quan điểm giai cấp công nhân của Đảng, phát huy truyền thống yêu nước và đoàn kết dân tộc; gắn việc xây dựng đội ngũ cán bộ với xây dựng tổ chức và đổi mới cơ chế, chính sách; thông qua hoạt động thực tiễn và phong trào cách mạng của nhân dân, nâng cao trình độ dân trí để tuyển chọn, giáo dục, rèn luyện, bồi dưỡng cán bộ; Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ theo nguyên tắc tập trung dân chủ, đồng thời phát huy trách nhiệm của các tổ chức thành viên trong hệ thống chính trị (3).
Bác Hồ với công tác cán bộ là một lĩnh vực rộng lớn, bao gồm nhiều nội dung, kể cả tư tưởng đối với người làm công tác cán bộ. Những lời dạy ấy đã thành nguyên tắc, phương pháp luận và là những bài học vô giá đối với công tác cán bộ của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, các cơ quan, đơn vị và đối với bản thân mỗi cán bộ. Học, làm theo Bác phải bắt đầu từ những tổ chức nhỏ nhất và mỗi cán bộ ■
Thứ Tư 06/10/2010 8:57:49pm
Tổ chức
Công tác tổ chức cán bộ của Đảng qua những năm Dần
6:36' 16/2/2010
Trong lịch sử vẻ vang của Đảng đã có nhiều sự kiện gắn với công tác tổ chức, cán bộ diễn ra vào
những năm Dần:
Năm Mậu Dần (1938)
Ngày 29 và 30-3-1938, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp quyết định tổ chức Mặt trận thống
nhất dân chủ, coi đó là một nhiệm vụ trung tâm của Đảng trong giai đoạn đó. Đảng phải củng cố
những cơ sở đảng đã có, lập thêm cơ sở mới, chú trọng phát triển cơ sở ở các châu thành, các
đồn điền, các vùng kỹ nghệ tập trung. Các tổ chức cơ sở dù hoạt động công khai hay bí mật đều
phải phục tùng cơ quan chỉ huy của Đảng ở các cấp. Tại Hội nghị này, đồng chí Nguyễn Văn Cừ
được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng thay đồng chí Hà Huy Tập.
Theo báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng gửi Quốc tế Cộng sản, đến tháng 3-1938,
Đảng bộ Nam kỳ có 655 đảng viên, Đảng bộ Trung kỳ có 740 đảng viên và Đảng bộ Bắc kỳ có
202 đảng viên. ở ba kỳ đều có xứ uỷ. Nam kỳ có 4 liên tỉnh uỷ, 11 tỉnh uỷ và 122 chi bộ. Trung
kỳ có tỉnh uỷ Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi.

Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 22 họp bàn về nhiệm vụ khôi phục kinh tế
của miền Bắc.
Năm 1974, ở miền Nam, quân ta liên tiếp đánh bại các cuộc hành quân lấn chiếm của địch, thực
hiện chiến lược tiến công. Miền Bắc tích cực khôi phục kinh tế và chi viện mạnh mẽ cho miền
Nam. Nguỵ quân, nguỵ quyền suy yếu nghiêm trọng. Trong bối cảnh đó, Bộ Chính trị trong các
kỳ họp tháng 10-1974, tháng 12-1974 và tháng 1-1975, đã đi đến kết luận: Chúng ta đang đứng
trước thời cơ lớn, có đầy đủ các điều kiện về quân sự và chính trị để hoàn thành cách mạng dân
tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, tiến tới hoà bình thống nhất đất nước. Nghị quyết lịch sử của
Bộ Chính trị năm 1974 và đầu năm 1975 là một điển hình của tư duy cách mạng khoa học và
sáng tạo lớn, dắt dẫn quân và dân ta đến mùa Xuân đại thắng năm 1975.
Cùng với sự lãnh đạo và tổ chức cuộc chiến đấu ở miền Nam và xây dựng ở miền Bắc, Trung
ương Đảng rất coi trọng công tác xây dựng đảng. Tháng 12-1974, Hội nghị lần thứ 23 của Ban
Chấp hành Trung ương Đảng đã ra nghị quyết về tăng cường sự lãnh đạo và nâng cao sức chiến
đấu của Đảng trong giai đoạn mới của cách mạng Việt Nam. Nghị quyết nêu rõ: “Để Đảng ta
tiếp tục làm tròn nhiệm vụ trước dân tộc và trước phong trào cộng sản quốc tế, phải tăng cường
công tác xây dựng đảng, đảm bảo cho Đảng ta luôn luôn nắm vững và vận dụng sáng tạo những
nguyên lý của Chủ nghĩa Mác-Lênin trong điều kiện mới của cách mạng nước ta, có đường lối,
chính sách đúng, có tư tưởng cách mạng triệt để, có tổ chức vững mạnh, có năng lực lãnh đạo và
chỉ đạo thực hiện đầy đủ, xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ trung thành của nhân
dân”.
Năm Bính Dần (1986)
Cuối tháng 5-1986, Hội nghị lần thứ 10 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá V) họp phân
tích những khuyết điểm, sai lầm trong việc chỉ đạo công tác giá lương tiền, khẳng định quyết tâm
chiến lược xoá bỏ tập trung quan liêu bao cấp, chuyển sang hạch toán kinh doanh xã hội chủ
nghĩa, Hội nghị còn thảo luận và góp ý cho Báo cáo chính trị trình bày tại Đại hội lần thứ VI của
Đảng.
Ngày 17-11-1986, Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Trung ương quyết định triệu tập Đại hội
VI sẽ họp công khai vào tháng 12-1986.
Đầu tháng 12-1986, Hội nghị lần thứ 12 của Ban Chấp hành Trung ương tiếp tục thảo luận vấn
đề nhân sự và thông qua danh sách giới thiệu Ban Chấp hành Trung ương mới để trình Đại hội


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status