ThS . GVC HOÀNG NGỌC VĨNH - ĐẠI HỌC KHOA HỌC HUẾ - ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG ÔN THI
TUYỂN SINH SAU ĐẠI HỌC – MÔN TRIẾT HỌC (DÀNH CHO CÁC NGÀNH KHÔNG CHUYÊN TRIẾT) - 2009
1. Vấn đề cơ bản của triết học.
Triết học nghiên cứu hàng loạt các vấn đề chung của thế giới, nhưng vấn đề cơ
bản của triết học là vấn đề về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức (giữa tồn tại và tư
duy, hay giữa tự nhiên và tinh thần).
Nó là vấn đề cơ bản của triết học bởi lẽ, trong thế giới có vô vàn sự vật, hiện
tượng, nhưng chung quy lại chúng chỉ phân thành hai loại: hiện tượng vật chất (tồn tại,
tự nhiên) và hiện tượng ý thức (tư duy, tinh thần). Mặt khác, từ phương Đông sang
phương Tây, từ cổ đại đến hiện đại tất cả các trường phái triết học trước khi nghiên cứu
các vấn đề chung khác, bao giờ cũng nghiên cứu và giải quyết vấn đề mối liên hệ giữa
vật chất và ý thức trước tiên. Việc giải quyết vấn đề này là cơ sở nền tảng cho việc giải
quyết những vấn đề khác của triết học. Nói cách khác việc giải quyết nó là giải quyết về
thế giới quan và phương pháp luận của triết học.
Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt.
Mặt thứ nhất giải quyết về thế giới quan. Tất cả các nhà triết học đều phải trả lời
câu hỏi: “Giữa vật chất và ý thức cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái
nào?”. Tùy theo câu trả lời của các nhà triết học, mà các học thuyết triết học đã chia
thành hai trào lưu chính Duy Vật và Duy Tâm.
Các nhà triết học Duy Vật khẳng định vật chất có trước và quyết định đối với ý
thức. Ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc người. Chủ nghĩa duy vật
trong tiến trình phát triển từ cổ đại đến hiện đại đã trãi qua nhiều hình thức khác nhau:
cổ đại, tầm thường, cơ học, máy móc nói chung là duy vật siêu hình, và duy vật biện
chứng.
Ngược lại, các nhà triết học Duy Tâm lại khẳng định ý thức có trước và quyết
định đối với vật chất. Trong tiến trình phát triển của mình, chủ nghĩa duy tâm cũng đã
trãi qua nhiều hình thức khác nhau: duy cảm chủ quan, duy lý, nhị nguyên, duy thức,
duy ngã, nói chung là duy tâm chủ quan và duy tâm khách quan.
Mặt thứ hai giải quyết về vấn đề nhận thức luận: tất cả các nhà triết học đều
phải trả lời câu hỏi: “Con người có khả năng nhận thức thế giới không?”. Tùy theo câu
trả lời của các nhà triết học mà các triết thuyết đã chia thành hai phái:
trong thực tiễn, được hình thành qua sự khái quát hóa, trừu tượng hóa của tư duy lý luận
và ngày càng được bổ sung thêm những phạm trù mới. Phạm trù là kết quả của hoạt
động nhận thức và hoạt động cải tạo thực tiễn, nội dung của nó mang tính khách quan,
bị thế giới khách quan quy định, mặc dù hình thức tồn tại của chúng là chủ quan. Là
hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, chịu sự chi phối của thế giới khách quan
nên các phạm trù cũng như phạm trù triết học luôn được bổ sung bằng những phạm trù
mới.
Mỗi khoa học cụ thể đều có phạm trù riêng của mình. Phạm trù triết học khác
phạm trù của các khoa học cụ thể ở chỗ nó là những khái niệm chung nhất, phản ánh
những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ cơ bản và phổ biến nhất của toàn bộ
thế giới hiện thực. Trong các phạm trù cơ bản của triết học thì phạm trù vật chất và ý
thức là phạm trù cơ bản nhất.
a) Quan niệm của các nhà triết học duy vật trước Mác về vật chất.
- Các nhà triết học duy vật cổ đại: Quy vật chất về vật thể. Nói cách khác là quy
bản nguyên của thế giới về một hay một số dạng cụ thể của vật chất. Chẳng hạn:
Đêmôcrít quy vật chất về nguyên tử; Hêraclit quy vật chất về lửa; phái Âm-Dương sơ
kỳ quy vật chất về âm và dương; v.v.
- Các nhà triết học duy vật tầm thường: Hoặc hạ thấp vai trò của ý thức đối với
vật chất (họ quan niệm óc tiết ra ý thức giống như gan tiết ra mật), hoặc hòa tan ý thức
vào vật chất ( họ quan niệm tư duy là bản chất của máu, hoặc linh hồn được cấu tạo từ
nguyên tử).
- Các nhà triết học duy vật cơ học máy móc: Quy vận động của vật chất về vận
động cơ học. Điển hình là F. Bêcơn đã quy vận động của vật chất về 19 hình thức vận
động cơ học.
- Các nhà triết học duy vật siêu hình thế kỷ XVIII-XIX: thế giới quan của họ là
duy vật, nhưng phương pháp xem xét thế giới của họ là siêu hình.
b) Định nghĩa vật chất của Lênin.
Phạm trù vật chất là một trong những phạm trù cơ bản nền tảng của chủ nghĩa
duy vật. Nó chứa đựng nội dung thế giới quan và phương pháp luận rất khái quát và sâu
sắc. Các triết thuyết duy vật trước Mác, tuy siêu hình nhưng vật chất luôn được coi là
giác, Lênin đã không tách rời vật chất với ý thức mà đặt chúng trong mối quan hệ quy
định ràng buộc lẫn nhau.
Như vậy, định nghĩa vật chất của Lênin đã giải quyết được vấn đề cơ bản của
triết học trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng. Nó chống lại các quan niệm
duy tâm về phạm trù vật chất; Đấu tranh khắc phục triệt để tính trực quan, siêu hình,
máy móc cùng các biến tướng của nó trong quan niệm về vật chất của các nhà khoa học
tự nhiên và triết gia tư sản hiện đại; Định nghĩa vật chât của Lênin khẳng định thế giới
này chỉ duy nhất là thế giới vật chất, vật chất là vô cùng, vô tận, vận động và phát triển
không ngừng đã cổ vũ, khích lệ các nhà khoa học đi sâu nghiên cứu thế giới vật chất để
ngày càng tìm ra nhiều dạng mới, thuộc tính mới của vật chất.
3. Phạm trù vận động:
a) Khái niệm vận động.
Vận động hiểu theo nghĩa chung nhất là bao gồm mọi sự biến đổi nói chung của
vật chất, nó bao gồm mọi thay đổi trong vũ trụ, kể từ những sự thay đổi vị trí đơn giản
đến tư duy. Vận động là phương thức tồn tại của vật chất. Ăng-ghen nói: ”Vận động
hiểu theo nghĩa chung nhất, tức được hiểu là phương thức tồn tại của vật chất, là một
thuộc tính cố hữu của vật chất, thì bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn
ra trong vũ trụ, kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy”
2
.
1
V.I. Lênin toàn tập, Tập 18, Nhà xuất bản Tiến bộ, Mat-xcơ-va 1980, Trang 151.
2
Ph. Ăng-ghen : Biện chứng của tự nhiên - Nxb Sự thật - Hà Nội 1974 - Tr 92
3
ThS . GVC HOÀNG NGỌC VĨNH - ĐẠI HỌC KHOA HỌC HUẾ - ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG ÔN THI
TUYỂN SINH SAU ĐẠI HỌC – MÔN TRIẾT HỌC (DÀNH CHO CÁC NGÀNH KHÔNG CHUYÊN TRIẾT) - 2009
b) Vận động là phương thức tồn tại của vật chất.
Vật chất tồn tại bằng vận động, thông qua vận động để biểu hiện sự tồn tại của
mình. Không có vật chất không vận động, cũng như không có vận động nào không là
Nói vật chất đứng im tạm thời vì nó chỉ đứng im trong một thời gian nhất định
khi nó chưa tích lũy đủ về lượng.
Như vậy, đứng im tương đối và tạm thời của vật chất là sự vận động trong thăng
bằng, là sự đứng im có điều kiện.
Lênin nói: “Thế giới không có gì khác ngoài vật chất đang vận động và vật chất
đang vận động không thể vận động ở đâu ngoài không gian và thời gian”
3
.
Không gian, thời gian là những hình thức tồn tại của vật chất, là thuộc tính
chung vốn có của mọi dạng vật chất.
3
Lênin toàn tập (bản tiếng Việt) - Tập 18 - Nxb tiến bộ, Matxcơva - Tr 209
4
ThS . GVC HOÀNG NGỌC VĨNH - ĐẠI HỌC KHOA HỌC HUẾ - ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG ÔN THI
TUYỂN SINH SAU ĐẠI HỌC – MÔN TRIẾT HỌC (DÀNH CHO CÁC NGÀNH KHÔNG CHUYÊN TRIẾT) - 2009
Không gian là hình thức tồn tại của vật chất biểu hiện những thuộc tính như
cùng tồn tại và tách biệt, có kết cấu quãng tính. Không gian của vật chất có ba chiều và
cả ba chiều đều vô tận. Không gian của vật thể là hữu hạn.
Thời gian là hình thức tồn tại của vật chất biểu hiện những thuộc tính độ lâu của
sự phát triển, trình tự xuất hiện và mất đi của các sự vật, các trạng thái khác nhau của
thế giới vật chất. Thời gian của vật chất chỉ có một chiều từ quá khứ đên hiện tại, đến
tương lai và thời gian của vật chất cũng là vô tận. Thời gian của mọi vật thể là hữu hạn.
d) Ý nghĩa của quan điểm triết học duy vật biện chứng về vận động.
- Với sự phân loại vận động của vật chất thành 5 hình thức cơ bản trên, các hình
thức này luôn quan hệ với nhau theo những nguyên tắc nhất định: 1) Các hình thức ấy
khác nhau về chất. Từ vận động cơ học đến vận động xã hội là sự khác nhâu về trình độ
của sự vận động. Những trình độ này tương ứng với trình độ của các kết cấu vật chất. 2)
Các hình thức vận động cao xuất hiện trên cơ sở các hình thức vận động thấp, bao hàm
trong nó các hình thức vận động thấp hơn. Nhưng các hình thức vận động thấp không
bao hàm trong nó các vận động cao hơn, vì vậy mọi sự quy giản hình thức vận động cao
4. Phạm trù ý thức.
a) Nguồn gốc của ý thức.
4
C.Mác và Ph.Awngghen Toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 1994, t 20, tr 740.
5
Sđd, t 20, tr 740.
6
Sđd, t 20, tr 471.
5
ThS . GVC HOÀNG NGỌC VĨNH - ĐẠI HỌC KHOA HỌC HUẾ - ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG ÔN THI
TUYỂN SINH SAU ĐẠI HỌC – MÔN TRIẾT HỌC (DÀNH CHO CÁC NGÀNH KHÔNG CHUYÊN TRIẾT) - 2009
Ý thức có hai nguồn gốc: Nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội.
Nguồn gốc tự nhiên.
Nguồn gốc tự nhiên của ý thức chính là bộ não người. Nói cách khác, ý thức là
thuộc tính phản ánh của bộ óc người.
Phản ánh là thuộc tính chung của mọi dạng vật chất. Phản ánh là năng lực lưu
lại, giữ lại, tái hiện lại những đặc điểm của một hệ thống vật chất này trong một hệ
thống vật chất khác và ngược lại. Phản ánh của vật chất phát triển từ thấp đến cao, từ
đơn giản đến phức tạp. Phản ánh ý thức là phản ánh cao nhất.
Mọi dạng vật chất đều phản ánh, nhưng chỉ phản ánh ở bộ óc người mới là ý
thức. Oc người là dạng vật chất có tổ chức cao nhất, nó có cấu tạo từ 15 tỷ đên 17 tỷ
nơron thần kinh. Ý thức không tách rời khỏi sự hoạt động của bộ não người. Ý thức
phản ánh thế giới khách quan, nhưng diễn ra trong quá trình hoạt động thần kinh của bộ
não người.
Trẻ sơ sinh chưa có ý thức.
Người bị điên, bị bệnh đao nặng là không có ý thức.
Nguồn gốc xã hội.
Nguồn gốc xã hội của ý thức là lao động. Sau lao động và đồng thời với lao
động là ngôn ngữ.
Lao động là hoạt động đặc thù của con người. Nhờ lao động mà vượn người cổ
TUYỂN SINH SAU ĐẠI HỌC – MÔN TRIẾT HỌC (DÀNH CHO CÁC NGÀNH KHÔNG CHUYÊN TRIẾT) - 2009
mục đích của con người thông qua hoạt động thực tiễn, vì thế nó mang bản chất sáng
tạo. Sáng tạo của ý thức nằm trong khuôn khổ của quy luật phản ánh. Phản ánh và sáng
tạo là hai mặt của một quá trình đồng thời xảy ra trong bộ não người.
Từ nguồn gốc xã hội, thì ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan một cách chủ
động và tích cực. Con người thông qua hoạt động thực tiễn có mục đích, tác động vào
thế giới khách quan buộc chúng phải bộc lộ những đặc tính, kết cấu và quy luật vận
động để phản ánh và nhận thức. Khi đã nhận thức được bản chất, quy luật của các sự
vật, hiện tượng thì con người vận dụng tri thức đó vào cải biến thế giới khách quan vì
mục đích và nhu cầu của con người. Ý thức như thế là mang bản chất xã hội.
Tóm lại: Bản chất của ý thức là sự phản ánh sáng tạo thế giới khách quan vào
bộ não người thông qua hoạt động thực tiễn. Nói cách khác, ý thức là hình ảnh chủ
quan của thế giới khách quan được sáng tạo trong bộ óc người thông qua hoạt động
thực tiễn.
5. Quan niệm của triết học Mác-Lênin về mối quan hệ biện chứng giữa vật
chất và ý thức, ý nghĩa phương pháp luận.
Tính quyết định của vật chất đối với ý thức.
Vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất quyết định ý thức. Trong đời sống xã
hội, điều đó được biểu hiện là tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội. Tính quyết định
đó được biểu hiện ở vật chất là nguồn gốc, động lực, mục đích và là tiêu chuẩn, thước
đo kiểm tra tính chân lý của ý thức.
Nhưng nếu chỉ thấy tính quyết định của vật chất mà không thấy vai trò của ý
thức thì sẽ mắc phải những sai lầm của chủ nghĩa duy vật siêu hình.
Sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất.
Sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất theo hai hướng: Khi ý thức phản
ánh đúng, phản ánh một cách khoa học những quy luật khách quan của sự vận động
khách quan của vật chất, thì ý thức có tác dụng tích cực là một động lực của sự vận
động và phát triển của vật chất. Ngược lại, nếu ý thức phản ánh sai, phản ánh xuyên tạc
những quy luật khách quan của sự vận động khách quan của vật chất, thì ý thức có tác
dụng tiêu cực làm cản trở hoặc phá vỡ sự vận động và phát triển của vật chất.
cảm làm điểm xuất phát cho chiến lược, sách lược cách mạng.
Nắm vững mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức sẽ tránh cho chúng ta
những căn bệnh chủ quan duy ý chí trong hoạt động thực tiễn, chống thái độ trông chờ,
ỷ lại vào điều kiện vật chất, không phát huy sức mạnh của trí tuệ tinh thần con người
trong quá trình cải biến thế giới.
6. Phép biện chứng duy vật là một khoa học về mối liên hệ phổ biến và sự
phát triển.
Phép biện chứng ra đời từ thời cổ đại. Trong lịch sử triết học đã có ba hình thức
cơ bản về phép biện chứng: Phép biện chứng ngây thơ, phép biện chứng duy tâm, phép
biện chứng duy vật.
Phép biện chứng duy vật là sự thống nhất hữu cơ gữa thế giới quan duy vật và
phương pháp luận biện chứng, bao hàm nội dung hết sức phong phú bởi đối tượng phản
ánh của nó là thế giới vật chất vô cùng vô tận. Trong đó nguyên lý về mối liên hệ phổ
biến và nguyên lý về sự phát triển có ý nghĩa khái quát nhất. Ph.Ăngghen viết: “Phép
biện chứng là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và phát
triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy”
10
.
Nguyên lý có ý nghĩa như các tiên đề trong các khoa học cụ thể. Nó là cái không
phải chứng minh mà phải chấp nhận và tuân thủ nghiêm nghặt nó. Nếu không tuân thủ
sẽ dẫn đến sai lầm cả trong nhận thức lẫn hành động.
a) Nội dung của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến.
Tất cả mọi sự vật hiện tượng cũng như thế giới, bao giờ cũng tồn tại trong mối
liên hệ phổ biến quy định ràng buộc lẫn nhau, không có sự vật hiện tượng nào tồn tại cô
lập, riêng lẻ, không liên hệ.
Phân tích nội dung của nguyên lý.
Quan niệm của các nhà triết học duy tâm nếu có thừa nhận có mối liên hệ, thì
mối liên hệ đó do các đấng siêu nhiên hoặc do ý thức quyết định.
Quan niệm của các nhà triết học duy vật siêu hình coi sự vật, hiện tượng tồn tại
tách rời nhau, nếu có mối liên hệ thì là những mối liên hệ ngẫu nhiên, hoặc không xét
Phân tích nội dung nguyên lý.
Trong phép biện chứng duy vật, nguyên lý về mối liên hệ phổ biến gắn liền với
nguyên lý về sự phát triển. Hai nguyên lý này thống nhất với nhau bởi liên hệ là vận
động, không vận động không có sự phát triển nào cả.
Khái niệm vận động là chỉ mọi biến đổi nói chung. Khái niệm phát triển là chỉ
những vận động đi lên, cái mới ra đời cao hơn, tiến bộ hơn cái cũ. Sự phát triển diễn ra
theo nhiều chiều hướng, đi từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện
đến hoàn thiện.
Sự phát triển và đổi mới là hiện tượng khách quan diễn ra không ngừng trong vũ
trụ. Nó diễn ra trên mọi lĩnh vực và trên mọi mối liên hệ. Nguồn gốc của phát triển là sự
đấu tranh và thống nhất giữa các mặt đối lập nằm ngay trong bản thân sự vật hiện
tượng. Sự phát triển không phải bao giờ cũng diễn ra thẳng tắp, xét từng sự vật hiện
tượng cụ thể, riêng lẻ thì có những vận động tuần hoàn, đi lên hoặc đi xuống, nhưng xét
trong quá trình dài và phạm vi rộng thì vận động đi lên là khuynh hướng thống trị.
Quan điểm biện chứng xem xét thế giới như là một quá trình tiến lên thông qua
những bước nhảy vọt, cái cũ mất đi cái mới ra đời, sự đấu tranh của các mặt đối lập
ngay trong bản thân sự vật hiện tượng là nguồn gốc của sự phát triển. Lênin nói:
“Lôgích biện chứng đòi hỏi phải xem xét sự vật trong sự phát triển, trong sự vận động,
trong sự biến đổi của nó”
12
Đối lập với phép biện chứng, quan điểm duy tâm nếu thừa nhận có sự phát triển
thì sự phát triển đó bị lệ thuộc bởi các đấng siêu nhiên hoặc do ý thức quyết định. Các
quan điểm siêu hình lại hoặc phủ nhận phát triển tuyệt đối hóa tính ổn định của sự vật
hiện tượng, hoặc xem sự phát triển chỉ là sự tăng, giảm đơn thuần về lượng, hoặc sự lặp
đi lặp lại đơn thuần về chất.
Ý nghĩa phương pháp luận.
11
Ph. Ăng-ghen - Biện chứng của tự nhiên - Nxb Sự thật - Hà Nội 1963 - Tr 32.
12
V.I. Lênin toàn tập (bản tiếng Việt) - Tập 29 - Nxb Tiến bộ Mátxcơva 1980 - Tr 364.
hướng phát triển trái ngược nhau, cùng tồn tại trong một sự vật. Mâu thuẫn là hiện
tượng phổ biến tồn tại bên trong mỗi sự vật hiện tượng ở tất cả mọi lĩnh vực của thế
giới.
Trong mỗi sự vật hiện tượng không chỉ có một mâu thuẫn mà có nhiều mâu
thuẫn và mỗi mâu thuẫn đều có đặc trưng riêng, có vai trò riêng đối với sự vận động và
phát triển. Ph.Ăngghen viết: “Nếu bản thân sự di động một cách máy móc đơn giản đã
chứa đựng mâu thuẫn, thì tất nhiên những hình thức vận động cao hơn của vật chất và
đặc biệt là sự sống hữu cơ lại càng phải chứa đựng mâu thuẫn như vậy. Sự sống trước
hết là ở chỗ một sinh vật trong mỗi lúc vừa là nó nhưng lại vừa là cái khác.”
13
Khái niệm mặt đối lập trong quy luật là khái quát những mặt, những thuộc tính,
những khuynh hướng trái ngược nhau trong một chỉnh thể làm nên sự vật hiện tượng.
Mỗi mâu thuẫn ít nhất có hai mặt đối lập, nhưng không phải bất kỳ mặt đối lập nào
cũng tạo thành mâu thuẫn. Chỉ những mặt đối lập cùng nằm trong một chỉnh thể có liên
hệ khăng khít với nhau, tác động lẫn nhau mới tạo thành mâu thuẫn. Mâu thuẫn mà quy
luật nói đến là một chỉnh thể, trong đó hai mặt đối lập vừa thống nhất với nhau, vừa đấu
tranh với nhau.
13
Ph. Ăng-ghen - Chống Đuy Rinh - Nxb Sự thật - Hà Nội 1975 - Tr 202.
10
ThS . GVC HOÀNG NGỌC VĨNH - ĐẠI HỌC KHOA HỌC HUẾ - ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG ÔN THI
TUYỂN SINH SAU ĐẠI HỌC – MÔN TRIẾT HỌC (DÀNH CHO CÁC NGÀNH KHÔNG CHUYÊN TRIẾT) - 2009
Khái niệm đấu tranh giữa các mặt đối lập có nghĩa là các mặt đối lập bài trừ lẫn
nhau, phủ định lẫn nhau. Các mặt đối lập vẫn luôn có xu hướng phát triển trái ngược
nhau, không thể nằm yên bên nhau nhưng tồn tại trong mối liên hệ quy định ràng buộc
nhau.
Sự đấu tranh của các mặt đối lập là một quá trình phức tạp chia ra nhiều giai
đoạn. Khi hai mặt đối lập mâu thuẫn xung đột gay gắt nếu có điều kiện chín muồi chúng
sẽ chuyển hóa lẫn nhau, mâu thuẫn được giải quyết. Sự đấu tranh giữa các mặt đối lập
làm cho sự vật hiện tượng không thể tồn tại một cách vĩnh viễn. Chính thế đấu tranh
hiện tượng. Nó có vai trò là nhân tố quyết định sự vận động và phát triển của sự vật hiện
tượng. Nó là nguồn gốc, động lực bên trong của sự vận động và phát triển.
Mâu thuẫn bên ngoài là mâu thuẫn giữa các sự vật hiện tượng với nhau. Nó
không giữ vai trò quyết định nhưng có ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của sự vật
hiện tượng. Sự ảnh hưởng này muốn phát huy tác dụng phải thông qua các mâu thuẫn
bên trong.
14
V. I. Lênin toàn tập - Tập 29 - Nxb Tiến bộ - Mátxcơva - 1981 - Tr 379.
11
ThS . GVC HOÀNG NGỌC VĨNH - ĐẠI HỌC KHOA HỌC HUẾ - ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG ÔN THI
TUYỂN SINH SAU ĐẠI HỌC – MÔN TRIẾT HỌC (DÀNH CHO CÁC NGÀNH KHÔNG CHUYÊN TRIẾT) - 2009
Sự phân biệt mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài chỉ có ý nghĩa tương
đối, nó hoàn toàn tùy thuộc các mối quan hệ cụ thể.
Mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản.
Mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn xuất hiện, tồn tại và phát triển cùng sự xuất
hiện, tồn tại và phát triển của sự vật hiện tượng. Nó quyết định sự phát triển của sự vật
hiện tượng từ khi hình thành cho đến khi kết thúc. Khi mâu thuẫn cơ bản được giải
quyết thì sự vật hiện tượng có sự thay đổi về chất.
Mâu thuẫn không cơ bản là mâu thuẫn xuất hiện, tồn tại và phát triển cùng sự
xuất hiện, tồn tại và phát triển của sự vật hiện tượng nhưng không giữ vai trò quyết định
mà chỉ ảnh hưởng đến sự vận động và phát triển của sự vật hiện tượng.
Mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn không chủ yếu.
Mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn nổi lên hàng đầu ở mỗi giai đoạn phát triển
nhất định của sự vật hiện tượng. Nó giữ vai trò quyết định đối với những mâu thuẫn
khác trong cùng giai đoạn của quá trình phát triển.
Mâu thuẫn không chủ yếu là những mâu thuẫn phát sinh trong từng giai đoạn
phát triển của sự vật hiện tượng, không giữ vai trò quyết định mà chỉ ảnh hưởng đến sự
phát triển của sự vật hiện tượng.
Ranh giới giữa mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn không chủ yếu chỉ là tương đối.
Tùy điều kiện cụ thể chúng có thể chuyển hóa cho nhau. Mâu thuẫn chủ yếu thường là
tắt là quy luật lượng chất. Quy luật này nói rõ cách thức của sự vận động và phát triển
của sự vật hiện tượng và thế giới.
Nội dung của quy luật.
Mọi sự vật hiện tương cũng như thế giới là một thể thống nhất của hai mặt lượng
và chất. Sự tích lũy dần dần về lượng sẽ dẫn đến sự thay đổi về chất. Khi chất mới ra
đời đến lượt nó lại tạo tiền đề điều kiện cho sự tích lũy dần dần về lượng mới. Sự tích
lũy dần dần về lượng mới sẽ dẫn đến sự thay đổi về chất tiếp theo Quá trình cứ thế
tiếp tục, đó là cách thức của sự phát triển.
Phân tích nội dung của quy luật.
Khái niệm lượng và chất.
Chất là phạm trù triết học dùng để chỉ những thuộc tính cơ bản vốn có quy định
cấu thành nên bản thân các sự vật hiện tượng, nói lên sự vật hiện tượng đó là gì và phân
biệt nó với các sự vật hiện tượng khác.
Mỗi sự vật, hiện tượng có nhiều thuộc tính cơ bản, nhưng không phải thuộc tính
cơ bản nào cũng là chất. Chỉ những thuộc tính cơ bản nào nói lên sự vật, hiện tượng đó
là gì và phân biệt nó với các sự vật, hiện tượng khác mới là chất. Chất không tồn tại một
cách thuần túy. Chất là cái khách quan vốn có của sự vật, hiện tượng và chỉ tồn tại
thông qua các mối quan hệ cụ thể. Chính thế sự phân biệt chất và thuộc tính cơ bản chỉ
có ý nghĩa tương đối. Chất biểu hiện tình trạng tương đối ổn định của sự vật, hiện
tượng, không tách rời với sự vật, hiện tượng. Mỗi sự vật, hiện tượng có nhiều chất. Khi
chất thay đổi thì sự vật, hiện tượng cũng thay đổi.
Lượng là phạm trù triết học dùng để chỉ những thuộc tính cơ bản vốn có quy
định của bản thân sự vật, hiện tượng nói lên quy mô, trình độ, tốc độ của sự phát triển
của sự vật, hiện tượng.
Lượng bao giờ cũng được biểu thị bằng số lượng, nhưng không phải mọi số
lượng đều là lượng. Mỗi sự vật, hiện tượng hiện tượng có nhiều lượng. Cũng như chất,
lượng không tồn tại một cách thuần túy mà tồn tại thông qua các mối liên hệ cụ thể.
Lượng tồn tại khách quan và là thuộc tính bên trong năng động của sự vật, hiện tượng.
Tuy nhiên, lượng đôi khi còn phải được xác định không phải là các con số mà phải tư
duy một cách trừu tượng, thậm chí còn xác định lượng dường như là nhân tố bên ngoài.
trình thay đổi về chất diễn ra bằng con đường tích lũy dần dần những nhân tố của chất
mới và mất đi dần dần những nhân tố của chất cũ.
Sự nhảy vọt dần dần là sự chuyển hóa chất này sang chất khác, là sự đứt đoạn
của tính liên tục. Sự tích lũy dần dần về lượng diễn ra một cách liên tục trong khuôn
khổ của chất đang có.
Sự phân biệt giữa nhảy vọt đột biến và nhảy vọt dần dần vừa dựa trên thời gian,
vừa dựa trên tính chất của sự thay đổi về chất. Sự khác nhau giữa nhảy vọt đột biến và
nhảy vọt dần dần thể hiện không chỉ ở thời gian diễn ra sự biến đổi mà còn cả ở cơ chế
của sự thay đổi đó. Bước nhảy dần dần là quá trình rất phức tạp, trong đó bao gồm cả
bước nhảy toàn bộ lẫn bước nhảy cục bộ.
Bước nhảy toàn bộ là bước nhảy làm thay đổi về chất ở tất cả các mặt, các bộ
phận, các yếu tố cấu thành sự vật, hiện tượng. Bước nhảy cục bô là bước nhảy làm
thay đổi một số mặt, một số bộ phận, một số yếu tố cấu thành sự vật, hiện tượng ấy.
Những sự vật, hiện tượng phức tạp về cấu trúc, tính chất, bộ phận cấu thành thì bước
nhảy thường từ nhảy vọt cục bộ đến nhảy vọt toàn bộ.
Tóm lại, quy luật lượng chất chỉ rõ cách thức biến đổi của sự vật, hiện tượng. Đó
là quá trình tác động lẫn nhau giữa hai mặt lượng - chất. Chất tương đối ổn định, lượng
thường xuyên biến đổi. Lượng biến đổi mâu thuẫn với chất cũ. Mâu thuẫn được giải
quyết chất mới được hình thành với lượng mới. Những lượng mới lại tiếp tục biến đổi
đến những điểm nút mới phá vỡ chất cũ đang kìm hãm nó tạo nên những chất mới. Sự
vận động liên tục của sự vật, hiện tượng từ biến đổi dần dần về lượng đến nhảy vọt về
chất, rồi biến đổi dần dần về lượng chuẩn bị cho bước nhảy về chất tiếp theo. Quá trình
cứ thế tiếp diễn làm cho sự vật, hiện tượng không ngừng biến đổi và phát triển.
Ý nghĩa phương pháp luận.
Trong tư duy cũng như trong hoạt động thực tiễn, cần xác định quy mô, tốc độ,
trình độ của những bước nhảy một cách khách quan, khoa học. Cần tạo điều kiện thuận
lợi cho sự tích lũy về lượng và biết chớp thời cơ để thực hiện các bước nhảy về chất
không được rập khuôn giáo điều hay bảo thủ ngại khó.
16
Các Mác - Tư bản, quyển I, tập 1, Nxb Sự thật Hà Nội 1973, Tr 573.
chứng của phủ định biện chứng (gọi tắt là phủ định của phủ định).
Phủ định của phủ định xuất hiện với tư cách là cái tổng hợp tất cả những yếu tố
tích cực và loại bỏ những yếu tố tiêu cực trong các giai đoạn trước. Chính thế, cái mới
ra đời có nội dung phong phú, toàn diện, cao hơn cái cũ.
Phủ định của phủ định là giai đoạn kết thúc của một chu kỳ phát triển, đồng thời
là điểm xuất phát cho một chu kỳ tiếp theo.
c) Số lần phủ định biện chứng trong một chu kỳ của sự phát triển.
Sự vật hiện tượng trong thế giới là rất phong phú đa dạng, vì thế chu kỳ của sự
phát triển ở từng sự vật, hiện tượng cũng rất khác nhau. Số lần phủ định trong mỗi chu
kỳ vì thế ít hoặc nhiều là tùy theo từng sự vật, hiện tượng cụ thể.
Chẳng hạn, vòng đời của cây lúa trãi qua hai lần phủ định biện chứng, nhưng
vòng đời của con ếch phải trãi qua ba lần, con tằm phải trãi qua bốn lần phủ định biện
chứng Số lượng các lần phủ định trong một chu kỳ phát triển cụ thể nhiều hay ít,
nhưng để đạt được sự phát triển thì ít nhất phải trải qua hai lần.
Con đường của sự phát triển.
Sự phát triển biện chứng thông qua những lần phủ định biện chứng như nêu trên
là sự thống nhất giữa loại bỏ, giữ lại và phát triển. Nó biểu hiện sự phát triển do mâu
15
ThS . GVC HOÀNG NGỌC VĨNH - ĐẠI HỌC KHOA HỌC HUẾ - ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG ÔN THI
TUYỂN SINH SAU ĐẠI HỌC – MÔN TRIẾT HỌC (DÀNH CHO CÁC NGÀNH KHÔNG CHUYÊN TRIẾT) - 2009
thuẫn, khái quát tính chất tiến lên của phát triển. Sự phát triển đó không diễn ra theo con
đường thẳng mà theo đường “xoáy ốc”. Lênin viết: “Sự phát triển dường như diễn lại
những giai đoạn đã qua, nhưng dưới một hình thức khác, ở một trình độ cao hơn; sự
phát triển có thể nói là theo đường trôn ốc chứ không theo đường thẳng”
17
.
Mỗi vòng mới của đường xoáy ốc thể hiện một trình độ, tính chất cao hơn của
sự phát triển, đồng thời dường như quay lại cái đã qua. Sự nối tiếp của các vòng xoáy
thể hiện tính liên tục, tính vô tận của sự phát triển từ thấp đến cao.
Ý nghĩa phung pháp luận của quy luật
tồn tại tạm thời và mất đi (tiêu biểu là Platôn). Ngược lại phái duy danh lại cho rằng chỉ
cái riêng tồn tại thực sự, còn cái chung chỉ là tên gọi do lý trí đặt ra chứ không phản ánh
một cái gì hiện thực.
Quan niệm của phép biện chứng duy vật cho rằng: Cái riêng và cái chung tồn tại
một cách khách quan và luôn quan hệ lẫn nhau. Không có riêng, chung tồn tại thuần túy
không liên hệ.
17
V.I Lênin toàn tập - Nxb Tiến bộ - Mátxcơva 1980 - Tập 26 - Tr 65.
18
ĐCSVN - Văn kiện Hội nghị lần thứ năm BCHTW khóa VIII - Nxb CTQG - Hà Nội 1998 - Tr 46.
16
ThS . GVC HOÀNG NGỌC VĨNH - ĐẠI HỌC KHOA HỌC HUẾ - ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG ÔN THI
TUYỂN SINH SAU ĐẠI HỌC – MÔN TRIẾT HỌC (DÀNH CHO CÁC NGÀNH KHÔNG CHUYÊN TRIẾT) - 2009
Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng mà biểu hiện. Cái riêng
chỉ tồn tại trong mối liên hệ với cái chung. Chẳng hạn, vận động chỉ biểu hiện thông
qua các hình thức vận động cụ thể. Trong sản xuất, bất cứ nước nào cũng phải tuân thủ
quy luật quan hệ sản xuất phải luôn luôn phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng
sản xuất.
Cái riêng là cái toàn thể phong phú hơn cái chung, vì ngoài những mặt những
thuộc tính gia nhập vào cái chung, nó còn những cái đơn nhất. Cái chung là cái bộ
phận nhưng sâu sắc, bản chất hơn cái riêng. Bởi nó phản ánh những mặt những thuộc
tính, những mối liên hệ bên trong, tất nhiên, ổn định, phổ biến tồn tại trong cái riêng
cùng loại. Cái chung bởi thế thường gắn với bản chất quy định phương hướng tồn tại và
phát triển của sự vật, hiện tượng.
Cái đơn nhất và cái chung là những phạm trù cùng loại nên trong những mối liên
hệ nhất định chúng có thể chuyển hóa lẫn nhau. Sở dĩ có điều này là do trong hiện thực,
cái mới không bao giờ xuất hiện đầy đủ ngay một lúc, mà xuất hiện ở dạng cá biệt, đơn
nhất rồi theo quy luật phát triển, hoàn thiện thành cái chung. Trong khi đó cái cũ từ là
cái chung ngày càng biến dần thành cái đơn nhất.
Ý nghĩa phương pháp luận.
hợp những hiện tượng không phụ thuộc vào nguyên nhân, không tham gia vào kết quả,
nhưng để có kết quả thì không thể thiếu nó.
Mối quan hệ nhân - quả là khách quan của bản thân sự vật, hiện tượng. Nó tồn
tại không lệ thuộc vào ý muốn của con người. Nhân - quả là cái vốn có của bản thân sự
vật, hiện tượng vì thế nó cũng không thể đồng nhất với khả năng tiên đoán. Ngược lại,
Chủ nghĩa duy tâm lại cho rằng nó bị lực lượng siêu nhiên, hoặc ý thức của con người
quyết định (Công giáo, Hium).
Mối quan hệ nhân - quả là phổ biến trong tồn tại của sự vật, hiện tượng và thế
giới (nguyên tắc quyết định luận). Chủ nghĩa duy tâm hiện đang phủ nhận nguyên tắc
này và thay thế vào đó nguyên tắc vô định luận, cho rằng có hiện tượng không có
nguyên nhân. Đây là vấn đề đang được tranh luận sôi nổi trong các hiện tượng vi mô.
Mối quan hệ nhân - quả là một tất yếu. Tức có những kết quả muốn ra đời phải
có những điều kiện nhất định (hoàn cảnh). Nhưng trong những hoàn cảnh nhất định, với
một nguyên nhân nhất định chỉ có thể gây ra kết quả nhất định. Chẳng hạn vật trong
chân không luôn rơi ở vận tốc 9,8m/s
2
. Nước ở áp suất 1 átmốtphe luôn sôi ở nhiệt độ
100
0
C v.v. Tính tất yếu của quan hệ nhân - quả cần được hiểu: Nếu nguyên nhân và
hoàn cảnh càng ít khác nhau bao nhiêu thì các kết quả do nguyên nhân gây nên càng ít
khác nhau bấy nhiêu.
Mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả.
- Nguyên nhân là cái sinh ra kết quả. Nguyên nhân luôn là cái có trước kết quả,
sản sinh ra trước kết quả. Kết quả chỉ xuất hiện sau khi nguyên nhân xuất hiện và bắt
đầu tác động. Nhưng mối quan hệ nhân - quả phải bao gồm đồng thời cả hai quan hệ thứ
tự và sản sinh. Mối quan hệ liên tục về thời gian mà thiếu quan hệ sản sinh như ngày -
đêm và bốn mùa không là quan hệ nhân- quả. S = π.R
2
là công thức tính diện tích hình
với nguyên nhân khách quan thì nó kìm hãm sự biến đổi ấy.
- Nguyên nhân sinh ra kết quả, nhưng kết quả không thụ động đối với nguyên
nhân mà nó có ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đối với nguyên nhân. Chẳng hạn, khi
nhấn một khối gỗ vào một chậu nước đầy sẽ làm cho nước trong chậu tràn ra. Đến lượt
nó, chính do nước tràn ra ngoài mà lực đẩy của nó đối với khối gỗ bị giảm đi.
- Trong chuỗi vô tận của thế giới vật chất, không có nguyên nhân nào được xem
là nguyên nhân đầu tiên, cũng như không có kết quả nào được xem là kết quả cuối cùng.
Tuy nhiên, nguyên nhân và kết quả là những khái niệm có ý nghĩa tương đối. Nó đúng
khi được áp dụng vào một trường hợp riêng biệt nhất định. Nói chung một hiện tượng
nào đó trong mối quan hệ này là nguyên nhân thì trong mối quan hệ khác có thể là kết
quả và ngược lại. Một hiện tượng nào đó được coi là nguyên nhân hay kết quả bao giờ
cũng ở trong những mối quan hệ xác định, cụ thể.
Ý nghĩa phương pháp luận.
Mọi sự vật, hiện tượng đều có nguyên nhân xuất hiện, tồn tại và tiêu vong của
nó. Mối quan hệ nhân - quả là khách quan nên chỉ có thể tìm nguyên nhân của sự vật,
hiện tượng trong chính thế giới sự vật, hiện tượng chứ không thể tìm ở ngoài nó.
Phải tìm nguyên nhân của sự vật, hiện tượng trong những mặt, những yếu tố,
những mối liên hệ đã xảy ra trước sự xuất hiện của sự vật, hiện tượng.
Cần phải biết phân loại các loại nguyên nhân, phân tích tỷ mỷ và thận trọng từng
nguyên nhân để có biện pháp xử lý đúng đắn. Khi muốn loại bỏ một sự vật, hiện tượng
nào đó thì phải loại bỏ nguyên nhân sinh ra nó. Muốn cho sự vật, hiện tượng xuất hiện
cần tạo ra những nguyên nhân và các điều kiện để nguyên nhân sinh ra nó phát huy tác
dụng. Khi sử dụng nguyên nhân tác động cho sự vật, hiện tượng xuất hiện cần tập trung
trước hết vào các nguyên nhân chủ yếu và nguyên nhân bên trong. Trong lĩnh vực xã
hội, khi muốn đẩy nhanh (kìm hãm hoặc loại trừ) sự biến đổi của một hiện tượng xã hội
nào đó cần phải làm cho nguyên nhân chủ quan tác động cùng chiều (lệch hoặc ngược
chiều) với sự vận động của mối quan hệ nhân - quả khách quan.
Kết quả không tồn tại một cách thụ động trước nguyên nhân, cần phải biết khai
thác vận dụng các kết quả đã đạt được để nâng cao nhận thức và tiếp tục thúc đẩy sự
vật, hiện tượng phát triển.
sự vật, hiện tượng bao giờ cũng bắt đầu từ nội dung. Khi nội dung biến đổi thì hình thức
của nó cũng biến đổi theo cho phù hợp với nội dung, nhưng sự biến đổi của hình thức
thường diễn ra chậm hơn.
Chịu sự quyết định của nội dung, nhưng hình thức có tính độc lập tương đối của
nó. Khi hình thức phù hợp với nội dung thì nó mở đường và thúc đẩy nội dung phát
triển. Khi không phù hợp với nội dung, hình thức sẽ cản trở và kìm hãm sự phát triển
của nội dung. Ví dụ như mối quan hệ biện chứng giữa quan hệ sản xuất và lực lượng
sản xuất ở nước ta trong giai đoạn 1975 - 1986 và giai đoạn 1986 - nay.
Ý nghĩa phương pháp luận.
Trong nhận thức cũng như trong hoạt động thực tiễn không được tách rời nội
dung với hình thức hoặc tuyệt đối hóa một trong hai mặt đó của sự vật, hiện tượng.
Trong hoạt động thực tiễn cải biến xã hội cần phải biết sử dụng mọi hình thức có
thể có (mới cũng như cũ) để phục vụ cho những nhiệm vụ cụ thể đạt hiệu quả cao. Cần
tránh hai thái cực: hoặc chỉ bám những hình thức cũ, chỉ muốn làm theo kiểu cũ sẽ dẫn
đến bảo thủ, trì trệ; hoặc phủ nhận vai trò của cái cũ trong hoàn cảnh mới, thay đổi hình
thức cũ một cách tùy tiện, không có căn cứ sẽ dẫn đến chủ quan, nóng vội.
Khi xét đoán sự vật, hiện tượng cần căn cứ vào nội dung, cũng như muốn làm
biến đổi sự vật, hiện tượng thì trước hết phải tác động để thay đổi nội dung của nó.
Đồng thời phải luôn theo dõi, tạo điều kiện sao cho hình thức của sự vật, hiện tượng
phù hợp hay không phù hợp cần thiết với nội dung đang biến đổi của nó nhằm thúc đẩy
hoặc kìm hãm sự phát triển đó theo yêu cầu của hoạt động thực tiễn.
8d) Cặp phạm trù Bản chất - Hiện tượng.
Các khái niệm.
Bản chất là phạm trù triết học dùng để chỉ sự tổng hợp tất cả những thuộc tính,
những mối liên hệ tất nhiên hợp thành một thể thống nhất hữu cơ bên trong, quy định sự
vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng.
20
ThS . GVC HOÀNG NGỌC VĨNH - ĐẠI HỌC KHOA HỌC HUẾ - ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG ÔN THI
TUYỂN SINH SAU ĐẠI HỌC – MÔN TRIẾT HỌC (DÀNH CHO CÁC NGÀNH KHÔNG CHUYÊN TRIẾT) - 2009
Hiện tượng là phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt, những mối liên hệ biểu
đổi thì hiện tượng cũng thay đổi, khi bản chất mất đi thì hiện tượng cũng mất đi.
Ngoài tính thống nhất ấy, giữa bản chất và hiện tượng cũng có tính mâu thuẫn:
Bản chất là cái bên trong, hiện tượng là cái bên ngoài; Bản chất là cái tương đối ổn
định, hiện tượng là cái linh hoạt luôn biến đổi; Trên thực tế không phải bao giờ cũng có
sự phù hợp tuyệt đối giữa bản chất với hiện tượng; Bản chất là cái biến đổi chậm, hiện
tượng là cái biến đổi nhanh; Bản chất là cái sâu sắc, hiện tượng là cái phong phú hơn.
Ý nghĩa phương pháp luận.
Vì bản chất là cái tất nhiên, tương đối ổn định ở bên trong bản thân sự vật, hiện
tượng, quy định sự vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng, còn hiện tượng là cái
biểu hiện bên ngoài, không ổn định của sự vật, hiện tượng, nên khi nhận thức sự vật,
hiện tượng không được dừng lại ở hiện tượng mà phải đi sâu vào bản chất, nắm được
bản chất và vạch ra được bản chất của sự vật, hiện tượng.
21
ThS . GVC HOÀNG NGỌC VĨNH - ĐẠI HỌC KHOA HỌC HUẾ - ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG ÔN THI
TUYỂN SINH SAU ĐẠI HỌC – MÔN TRIẾT HỌC (DÀNH CHO CÁC NGÀNH KHÔNG CHUYÊN TRIẾT) - 2009
Vì bản chất và hiện tượng tồn tại khách quan nên không tìm bản chất ở ngoài sự
vật, hiện tượng cũng như không tìm nó ngoài thế giới hiện thực, mà tìm và phát hiện
bản chất ngay trong bản thân sự vật, hiện tượng.
Vì bản bản chất và hiện tượng về nguyên tắc là thống nhất nên muốn phát hiện
bản chất phải nghiên cứu, phân tích hiện tượng một cách cặn kẽ, khoa học, loại bỏ các
hiện tượng giả để hiểu đúng bản chất của sự vật, hiện tượng.
8e) Cặp phạm trù Tất nhiên - Ngẫu nhiên.
Các khái niệm.
Tất nhiên là phạm trù triết học dùng để chỉ cái do bản chất, do những nguyên
nhân bên trong của sự vật, hiện tượng quyết định và trong những điều kiện nhất định nó
phải xảy ra như chính nó chứ không thể khác.
Ngẫu nhiên là phạm trù triết học dùng để chỉ cái không do bản chất và mối liên
hệ bên trong quyết định, mà do ngẫu hợp những hoàn cảnh bên ngoài quyết định. Do
đó, có thể xuất hiện hoặc không xuất hiện, có thể xuất hiện thế này cũng có thể xuất
hiện thế khác.
ThS . GVC HOÀNG NGỌC VĨNH - ĐẠI HỌC KHOA HỌC HUẾ - ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG ÔN THI
TUYỂN SINH SAU ĐẠI HỌC – MÔN TRIẾT HỌC (DÀNH CHO CÁC NGÀNH KHÔNG CHUYÊN TRIẾT) - 2009
vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng: Cái tất nhiên chi phối sự vận động và
phát triển, cái ngẫu nhiên có thể làm cho sự vận động và phát triển ấy diễn ra nhanh hơn
hoặc chậm hơn.
Tất nhiên và ngẫu nhiên không tồn tại một cách thuần túy và biệt lập, mà tồn tại
trong sự thống nhất hữu cơ với nhau và là sự thống nhất của các mặt đối lập: Tất nhiên
bao giờ cũng vạch cho mình đường đi xuyên qua vô số các ngẫu nhiên, ngẫu nhiên là
hình thức biểu hiện của tất nhiên đồng thời là cái bổ sung cho tất nhiên.
Tất nhiên và ngẫu nhiên không tồn tại vĩnh viễn không thay đổi, mà ranh giới
giữa chúng chỉ là tương đối: Trong những điều kiện nhất định chúng có thể chuyển hóa
cho nhau; Cùng một hiện tượng nhất định nhưng ở trong mối quan hệ này là tất nhiên, ở
mối quan hệ khác là ngẫu nhiên. Dĩ nhiên, để ngẫu nhiên chuyển hóa thành tất nhiên
bao giờ cũng kèm theo điều kiện.
Ý nghĩa phương pháp luận.
Trong nhận thức cũng như trong hoạt động thực tiễn cần phải căn cứ vào cái tất
nhiên mà vạch phương hướng chứ không dựa vào ngẫu nhiên. Tuy nhiên, không được
bỏ qua ngẫu nhiên mà phải có những phương án dự phòng cho các trường hợp cái ngẫu
nhiên bất ngờ xuất hiện.
Muốn nhận thức tất nhiên thì phải biết phát hiện nó thông qua các ngẫu nhiên,
bởi lẽ cái tất nhiên luôn ẩn náu sau các ngẫu nhiên. Đồng thời phải ngăn ngừa những
ngẫu nhiên bất lợi, sử dụng các ngẫu nhiên có lợi cho hoạt động của con người.
Biết tạo những điều kiện thuận lợi để các ngẫu nhiên có lợi chuyển hóa thành cái
tất nhiên và ngược lại. Tuy nhiên, nếu thoát ly những điều kiện để chuyển hóa sẽ rơi
vào chủ quan, duy ý chí.
Cũng phải thấy rằng, không phải mọi cái chung đều là cái tất nhiên, nên việc
phát hiện ra cái chung mới chỉ là một bước trên con đường đến cái tất nhiên mà thôi.
8f) Cặp phạm trù Khả năng - Hiện thực.
Các khái niệm.
Khả năng là phạm trù triết học dùng để chỉ cái hiện chưa có, chưa tới nhưng sẽ
năng là cái hiện chưa có nhưng sẽ có, sẽ tới, sẽ xảy ra khi có điều kiện. Nó là cái chỉ
được thực hiện (chỉ biến thành hiện thực trong tương lai), là kết quả phát triển của một
chuỗi nhân quả trực tiếp. Trong khi đó ngẫu nhiên là cái khi có điều kiện nó có thể xảy
ra, có thể không xảy ra, khi xảy ra nó có thể thế này cũng có thể thế khác. Ngẫu nhiên là
cái được thực hiện, nó không chỉ xảy ra trong tương lai mà xảy ra cả trong hiện tại, là
kết quả ngẫu hợp của nhiều chuỗi nhân quả có hướng khác nhau.
Tất cả mọi khả năng đều tồn tại thực sự do hiện thực sinh ra, nó hình thành và
lớn lên trong lòng bản thân hiện thực. Theo nghĩa đó, mọi khả năng đều là Khả năng
thực tế . Tuy nhiên, có thể phân loại một số khả năng như sau: Khả năng thực tế là khả
năng do mối liên hệ tất nhiên quyết định, nó xuất hiện từ bản chất bên trong của sự vật,
hiện tượng và có điều kiện để trở thành hiện thực. Khả năng hình thức là khả năng do
mối liên hệ ngẫu nhiên, do sự kết hợp của những hoàn cảnh bên ngoài quyết định và
chưa có điều kiện cần thiết để trở thành hiện thực. Khả năng tất nhiên là khả năng được
gây nên bởi các tương tác tất nhiên của hiện thực. Khả năng ngẫu nhiên là khả năng
được gây nên bởi các tương tác ngẫu nhiên của hiện thực. Khả năng gần là những khả
năng đã hội đủ hoặc gần đủ những điều kiện cần thiết để biến thành hiện thực. Khả
năng xa là khả năng còn phải trải qua nhiều giai đoạn phát triển quá độ nữa mới hội đủ
điều kiện để biến thành hiện thực. Ngoài ra còn có khả năng chủ yếu, khả năng thứ yếu,
khả năng chủ quan, khả năng khách quan
Mối quan hệ biện chứng giữa khả năng và hiện thực.
Khả năng và hiện thực luôn tồn tại trong mối quan hệ chăt chẽ với nhau, không
tách rời nhau và luôn chuyển hóa cho nhau và trong thực tế quá trình phát triển chính là
quá trình khả năng biến thành hiện thực.
Cùng trong một điều kiện nhất định, một sự vật hiện tượng không chỉ có một
khả năng mà có nhiều khả năng. Ngoài số khả năng vốn có, khi có thêm những điều
kiện mới sự vật hiện tượng còn xuất hiện thêm những khả năng mới. Ngay mỗi khả
năng vốn có của sự vật hiện tượng trong những điều kiện nhất định nó có thể tăng lên
hoặc giảm đi.
Trong tự nhiên, khả năng biến thành hiện thực tuân thủ quy luật khách quan của
tự nhiên. Trong xã hội, khả năng biến thành hiện thực phải thông qua hoạt động có ý
tượng chứ không thể ở đâu khác. Phải đặt sự vật, hiện tượng trong mối tương quan bên
trong và bên ngoài mà ở trong đó sự vật, hiện tượng vận động và phát triển mà dự kiến
các khả năng. Không được nhầm lẫn giữa khả năng với hiện thực cũng như tách rời giữa
chúng với nhau.
Phải phát huy tối đa tính năng động chủ quan để biến khả năng thành hiện thực
khi cần thiết, tránh tư tưởng đợi chờ, thụ động, không tích cực phát huy khả năng chủ
quan của mình. Trong phát hiện và tạo điều kiện cho các khả năng thành hiện thực cần
chú ý:
- Cần xem xét hết mọi khả năng tốt cũng như xấu, tiến bộ cũng như lạc hậu của
sự vật, hiện tượng và trên cơ sở đó mà có phương án hành động thích hợp cho mỗi
trường hợp, tránh được bị động trong hành động.
- Nên tập trung chú ý trước hết ở các khả năng tất nhiên, khả năng gần.
- Cần tạo điều kiện cần và đủ cho khả năng cần thiết biến thành hiện thực.
- Trong lĩnh vực xã hội, tùy theo yêu cầu của hoạt động thực tiễn cần tạo mọi
điều kiện cần thiết để nhân tố chủ quan tham gia tích cực và quá trình biến đổi hoặc
ngăn ngừa sự biến đổi khả năng thành hiện thực.
9. Lý luận nhận thức của triết học Mác-Lênin
a) Những nguyên tắc cơ bản của lý luận nhận thức:
- Thừa nhận thế giới vật chất tồn tại khách quan, ở ngoài con người, độc lập với
cảm giác, tư duy và ý thức của con người.
- Thừa nhận năng lực nhận thức thế giới của con người. Về nguyên tắc không có
cái gì là không thể biết. Thế giới chỉ có những điều con người chưa biết chứ không có
và không thể có những gì con người không thể biết.
20
V.I. Lêini toàn tập - Nxb Tiến bộ - Mátxcơva - 1978 - Tập 49 - Tr 432 và 472.
25