ĐỀ CƯƠNG ÔN THI TUYỂN SINH SAU ĐẠI HỌC MÔN CƠ BẢN TRIẾT HỌC - Pdf 15

GVC ThS HOÀNG NGỌC VĨNH - ĐẠI HỌC KHOA HỌC HUẾ - ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG ÔN THI TUYỂN SINH
SAU ĐẠI HỌC – MÔN TRIẾT HỌC (DÀNH CHO CÁC NGÀNH KHÔNG CHUYÊN TRIẾT) - 2013
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
♣♥♣
GVC ThS HOÀNG NGỌC VĨNH
ĐỀ CƯƠNG ÔN THI TUYỂN SINH SAU
ĐẠI HỌCMÔN CƠ BẢN: TRIẾT HỌC
HUẾ 5/2013
ĐỀ CƯƠNG THI TUYỂN SAU ĐẠI HỌC
MÔN CƠ BẢN: TRIẾT HỌC
(cho các ngành không chuyên triết học)
1
GVC ThS HOÀNG NGỌC VĨNH - ĐẠI HỌC KHOA HỌC HUẾ - ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG ÔN THI TUYỂN SINH
SAU ĐẠI HỌC – MÔN TRIẾT HỌC (DÀNH CHO CÁC NGÀNH KHÔNG CHUYÊN TRIẾT) - 2013
I. NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH
1. Vấn đề cơ bản của triết học. Các trường phái triết học chủ yếu trong
lịch sử.
2. Phạm trù vật chất
- Quan niệm của các nhà triết học duy vật trước Mác.
- Định nghĩa của Lênin về vật chất.
3. Phạm trù vận động
- Khái niệm vận động.
- Vận động là phương thức tồn tại của vật chất.
- Tính mâu thuẫn của vận động.
- Ý nghĩa của quan điểm triết học duy vật biện chứng về vận động.
4. Phạm trù ý thức
- Nguồn gốc của ý thức.
- Bản chất của ý thức.
5. Quan điểm của triết học Mác - Lênin về mối quan hệ biện chứng giữa

sự phù hợp của sản xuất với trình độ lực lượng sản xuất)
- Khái niệm "trình độ của lực lượng sản xuất"
- Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
- Vận dụng quy luật vào thực tiễn nước ta hiện nay.
12. Biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng
- Các khái niệm: cơ sở hạ tầng, kiến trúc thượng tầng
- Mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng
- Vận dụng vào thực tiễn nước ta hiện nay.
13. Phạm trù hình thái kinh tế - xã hội.
- Khái niệm và kết cấu của hình thái kinh tế - xã hội.
- Tại sao nói sự phát triển của hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình
lịch sử tự nhiên.
- Sự vận dụng lý luận hình thái kinh tế - xã hội trong công cuộc xây dựng
và phát triển đất nước ta hiện nay.
14. Vấn đề giai cấp và Nhà nước.
- Quan điểm của triết học Mác - Lênin về giai cấp.
- Quan điểm của triết học Mác - Lênin về Nhà nước.
15. Vấn đề cá nhân và xã hội.
- Quan điểm của triết học Mác - Lênin về bản chất con người.
- Quan điểm của triết học Mác - Lênin về mối quan hệ giữa cá nhân và xã
hội.
- Vai trò của quần chúng nhân dân và cá nhân anh hùng trong lịch sử.
16. Tồn tại xã hội và ý thức xã hội:
- Khái niệm tồn tại xã hội.
- Khái niệm ý thức xã hội.
- Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội.
- Tính độc lập tương đối của ý thức xã hội.
- Ý nghĩa thực tiễn của quan điểm mácxít về mối quan hệ biện chứng
giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội
II. TÀI LIỆU ÔN TẬP.

Nó là vấn đề cơ bản của triết học bởi lẽ, trong thế giới có vô vàn sự vật,
hiện tượng, nhưng chung quy lại chúng chỉ phân thành hai loại: hiện tượng vật
chất (tồn tại, tự nhiên) và hiện tượng ý thức (tư duy, tinh thần). Mặt khác, từ
phương Đông sang phương Tây, từ cổ đại đến hiện đại tất cả các trường phái
triết học trước khi nghiên cứu các vấn đề chung khác, bao giờ cũng nghiên cứu
và giải quyết vấn đề mối liên hệ giữa vật chất và ý thức trước tiên. Việc giải
quyết vấn đề này là cơ sở nền tảng cho việc giải quyết những vấn đề khác của
triết học. Nói cách khác việc giải quyết nó là giải quyết về thế giới quan và
phương pháp luận của triết học.
Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt
Mặt thứ nhất giải quyết về thế giới quan. Tất cả các nhà triết học đều
phải trả lời câu hỏi: “Giữa vật chất và ý thức cái nào có trước, cái nào có sau,
cái nào quyết định cái nào?”. Tùy theo câu trả lời của các nhà triết học, mà các
học thuyết triết học đã chia thành hai trào lưu chính Duy Vật và Duy Tâm.
Các nhà triết học Duy Vật khẳng định vật chất có trước và quyết định đối
với ý thức. Ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc người. Chủ
nghĩa duy vật trong tiến trình phát triển từ cổ đại đến hiện đại đã trãi qua nhiều
hình thức khác nhau: cổ đại, tầm thường, cơ học, máy móc nói chung là duy
vật siêu hình, và duy vật biện chứng.
Ngược lại, các nhà triết học Duy Tâm lại khẳng định ý thức có trước và
quyết định đối với vật chất. Trong tiến trình phát triển của mình, chủ nghĩa duy
tâm cũng đã trãi qua nhiều hình thức khác nhau: duy cảm chủ quan, duy lý, nhị
nguyên, duy thức, duy ngã, nói chung là duy tâm chủ quan và duy tâm khách
quan.
Mặt thứ hai giải quyết về vấn đề nhận thức luận: tất cả các nhà triết học
đều phải trả lời câu hỏi: “Con người có khả năng nhận thức thế giới không?”.
Tùy theo câu trả lời của các nhà triết học mà các triết thuyết đã chia thành hai
phái:
Khả tri luận gồm các nhà triết học trả lời con người có khả năng nhận
thức thế giới. Họ bao gồm tất cả các nhà triết học duy vật, hầu hết các nhà triết

có nguồn gốc từ trong thực tiễn, được hình thành qua sự khái quát hóa, trừu
tượng hóa của tư duy lý luận và ngày càng được bổ sung thêm những phạm trù
mới. Phạm trù là kết quả của hoạt động nhận thức và hoạt động cải tạo thực
tiễn, nội dung của nó mang tính khách quan, bị thế giới khách quan quy định,
mặc dù hình thức tồn tại của chúng là chủ quan. Là hình ảnh chủ quan của thế
giới khách quan, chịu sự chi phối của thế giới khách quan nên các phạm trù
cũng như phạm trù triết học luôn được bổ sung bằng những phạm trù mới.
Mỗi khoa học cụ thể đều có phạm trù riêng của mình. Phạm trù triết học
khác phạm trù của các khoa học cụ thể ở chỗ nó là những khái niệm chung
nhất, phản ánh những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ cơ bản và phổ
biến nhất của toàn bộ thế giới hiện thực. Trong các phạm trù cơ bản của triết
học thì phạm trù vật chất và ý thức là phạm trù cơ bản nhất.
a) Quan niệm của các nhà triết học duy vật trước Mác về vật chất
- Các nhà triết học duy vật cổ đại: Quy vật chất về vật thể. Nói cách khác
là quy bản nguyên của thế giới về một hay một số dạng cụ thể của vật chất.
Chẳng hạn: Đêmôcrít quy vật chất về nguyên tử; Hêraclit quy vật chất về lửa;
phái Âm-Dương sơ kỳ quy vật chất về âm và dương; v.v.
- Các nhà triết học duy vật tầm thường: Hoặc hạ thấp vai trò của ý thức
đối với vật chất (họ quan niệm óc tiết ra ý thức giống như gan tiết ra mật), hoặc
6
GVC ThS HOÀNG NGỌC VĨNH - ĐẠI HỌC KHOA HỌC HUẾ - ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG ÔN THI TUYỂN SINH
SAU ĐẠI HỌC – MÔN TRIẾT HỌC (DÀNH CHO CÁC NGÀNH KHÔNG CHUYÊN TRIẾT) - 2013
hòa tan ý thức vào vật chất ( họ quan niệm tư duy là bản chất của máu, hoặc
linh hồn được cấu tạo từ nguyên tử).
- Các nhà triết học duy vật cơ học máy móc: Quy vận động của vật chất
về vận động cơ học. Điển hình là F. Bêcơn đã quy vận động của vật chất về 19
hình thức vận động cơ học.
- Các nhà triết học duy vật siêu hình thế kỷ XVIII-XIX: thế giới quan của
họ là duy vật, nhưng phương pháp xem xét thế giới của họ là siêu hình.
b) Định nghĩa vật chất của Lênin

nội dung khách quan của ý thức.
Bằng cách định nghĩa đặc biệt, định nghĩa vật chất thông qua quan hệ với
cảm giác, Lênin đã không tách rời vật chất với ý thức mà đặt chúng trong mối
quan hệ quy định ràng buộc lẫn nhau.
1
V.I. Lênin toàn tập, Tập 18, Nhà xuất bản Tiến bộ, Mat-xcơ-va 1980, Trang 151.
7
GVC ThS HOÀNG NGỌC VĨNH - ĐẠI HỌC KHOA HỌC HUẾ - ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG ÔN THI TUYỂN SINH
SAU ĐẠI HỌC – MÔN TRIẾT HỌC (DÀNH CHO CÁC NGÀNH KHÔNG CHUYÊN TRIẾT) - 2013
Như vậy, định nghĩa vật chất của Lênin đã giải quyết được vấn đề cơ bản
của triết học trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng. Nó chống lại các
quan niệm duy tâm về phạm trù vật chất; Đấu tranh khắc phục triệt để tính trực
quan, siêu hình, máy móc cùng các biến tướng của nó trong quan niệm về vật
chất của các nhà khoa học tự nhiên và triết gia tư sản hiện đại; Định nghĩa vật
chât của Lênin khẳng định thế giới này chỉ duy nhất là thế giới vật chất, vật chất
là vô cùng, vô tận, vận động và phát triển không ngừng đã cổ vũ, khích lệ các
nhà khoa học đi sâu nghiên cứu thế giới vật chất để ngày càng tìm ra nhiều
dạng mới, thuộc tính mới của vật chất.
3. Phạm trù vận động
a) Khái niệm vận động
Vận động hiểu theo nghĩa chung nhất là bao gồm mọi sự biến đổi nói
chung của vật chất, nó bao gồm mọi thay đổi trong vũ trụ, kể từ những sự thay
đổi vị trí đơn giản đến tư duy. Vận động là phương thức tồn tại của vật chất.
Ăng-ghen nói: ”Vận động hiểu theo nghĩa chung nhất, tức được hiểu là phương
thức tồn tại của vật chất, là một thuộc tính cố hữu của vật chất, thì bao gồm tất
cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể từ sự thay đổi vị trí
đơn giản cho đến tư duy”
2
.
b) Vận động là phương thức tồn tại của vật chất

Tuy có sự khác nhau về chất, nhưng giữa các hình thức vận động luôn có
sự liên hệ, tác động, chuyển hóa qua lại lẫn nhau. Sự phân biệt khác nhau giữa
các hình thức vận động là nhờ hình thức vận động đặc trưng nhất của nó.
c) Tính mâu thuẫn của vận động (Vận động và đứng im)
Thế giới vật chất không chỉ ở trong quá trình vận động. Triết học Mác
-Lênin chỉ ra vận động của vật chất là tuyệt đối, nhưng cũng thừa nhận tính
đứng im tương đối và tạm thời của vật chất.
Chính nhờ sự đứng im tương đối và tạm thời của vật chất mà thế giới vật
chất được phân hóa thành các sự vật hiện tượng phong phú và đa dạng.
Nói đứng im tương đối vì vật chất chỉ đứng im trong một mối liên hệ
nhất định và vận động trong những mối liên hệ khác.
Nói vật chất đứng im tạm thời vì nó chỉ đứng im trong một thời gian nhất
định khi nó chưa tích lũy đủ về lượng.
Như vậy, đứng im tương đối và tạm thời của vật chất là sự vận động
trong thăng bằng, là sự đứng im có điều kiện.
Lênin nói: “Thế giới không có gì khác ngoài vật chất đang vận động và
vật chất đang vận động không thể vận động ở đâu ngoài không gian và thời
gian”
3
.
Không gian, thời gian là những hình thức tồn tại của vật chất, là thuộc
tính chung vốn có của mọi dạng vật chất.
Không gian là hình thức tồn tại của vật chất biểu hiện những thuộc tính
như cùng tồn tại và tách biệt, có kết cấu quãng tính. Không gian của vật chất có
ba chiều và cả ba chiều đều vô tận. Không gian của vật thể là hữu hạn.
Thời gian là hình thức tồn tại của vật chất biểu hiện những thuộc tính độ
lâu của sự phát triển, trình tự xuất hiện và mất đi của các sự vật, các trạng thái
khác nhau của thế giới vật chất. Thời gian của vật chất chỉ có một chiều từ quá
khứ đên hiện tại, đến tương lai và thời gian của vật chất cũng là vô tận. Thời
gian của mọi vật thể là hữu hạn.

động (một cách tương đối). Nhưng bất kỳ vận động tương đối riêng biệt nào
cũng đều có xu hướng khôi phúc lại sự đứng im tương đối, sự cân bằng. Khả
năng đứng im tương đối của các vật thể, khả năng cân bằng tạm thời là những
điều kiện chủ yếu của sự phân hóa của vật chất”
4
.
Hiện tượng đứng im tương đối hay trạng thái cân bằng tạm thời của sự
vật trong quá trình vận động của nó, trên thực tế, chỉ xảy ra khi sự vật được
xem xét trong một quan hệ xác định nào đó. “Vận động riêng biệt có xu hướng
chuyển thành cân bằng, vận động toàn bộ lại phá hoại sự cân bằng riêng biệt”
5
.
“Mọi sự cân bằng chỉ tương đối và tạm thời”
6
trong sự vận động tuyệt đối và
vĩnh viễn của thế giới vật chất.
4. Phạm trù ý thức
a) Nguồn gốc của ý thức
Ý thức có hai nguồn gốc: Nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội.
Nguồn gốc tự nhiên.
Nguồn gốc tự nhiên của ý thức chính là bộ não người. Nói cách khác, ý
thức là thuộc tính phản ánh của bộ óc người.
Phản ánh là thuộc tính chung của mọi dạng vật chất. Phản ánh là năng lực
lưu lại, giữ lại, tái hiện lại những đặc điểm của một hệ thống vật chất này trong
một hệ thống vật chất khác và ngược lại. Phản ánh của vật chất phát triển từ
thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp. Phản ánh ý thức là phản ánh cao nhất.
4
C.Mác và Ph.Awngghen Toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 1994, t 20, tr 740.
5
Sđd, t 20, tr 740.

thực tiên giữa các thế hệ người trong lịch sử.
Ăng-ghen nói: ”Sau lao động và đồng thời với lao động là ngôn ngữ, đó
là hai sức kích thích chủ yếu của sự chuyển biến bộ não của loài vật thành bộ
não của con người, tâm lý động vật thành ý thức”
7
.
b) Bản chất của ý thức
Ý thức có kết cấu phức tạp, bao gồm các yếu tố khác nhau như tri thức,
xúc cảm, tình cảm và ý chí trong đó tri thức là yếu tố quan trọng nhất.
Từ nguồn gốc tự nhiên, thì ý thức chỉ là thuộc tính phản ánh của bộ óc
người. Trước hết, như vậy bản chất của ý thức là phản ánh. Tức ý thức là hình
ảnh chủ quan của thế giớí khách quan trong bộ óc người.
Phản ánh tâm lý động vật cũng là phản ánh thế giới khách quan nhưng là
sự phản ánh bản năng. Phản ánh ý thức ngay từ đầu đã do nhu cầu cải biến thế
giới theo mục đích của con người thông qua hoạt động thực tiễn, vì thế nó mang
bản chất sáng tạo. Sáng tạo của ý thức nằm trong khuôn khổ của quy luật phản
7
Ph. Ăng-ghen: Biện chứng của tự nhiên - Nxb Sự thật - Hà Nội 1974 - Tr 257.
11
GVC ThS HOÀNG NGỌC VĨNH - ĐẠI HỌC KHOA HỌC HUẾ - ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG ÔN THI TUYỂN SINH
SAU ĐẠI HỌC – MÔN TRIẾT HỌC (DÀNH CHO CÁC NGÀNH KHÔNG CHUYÊN TRIẾT) - 2013
ánh. Phản ánh và sáng tạo là hai mặt của một quá trình đồng thời xảy ra trong
bộ não người.
Từ nguồn gốc xã hội, thì ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan một
cách chủ động và tích cực. Con người thông qua hoạt động thực tiễn có mục
đích, tác động vào thế giới khách quan buộc chúng phải bộc lộ những đặc tính,
kết cấu và quy luật vận động để phản ánh và nhận thức. Khi đã nhận thức được
bản chất, quy luật của các sự vật, hiện tượng thì con người vận dụng tri thức đó
vào cải biến thế giới khách quan vì mục đích và nhu cầu của con người. Ý thức
như thế là mang bản chất xã hội.

chỉ ra: “Không có lý luận cách mạng thì không thể có phong trào cách mạng”
9
.
Nói đến vai trò của ý thức là nói đến vai trò của con người. Vai trò của ý
thức là ở chỗ chỉ đạo hoạt động đúng hay sai, thành công hay thất bại trên có sở
8
C. Mác - Ph. Ăng-ghen toàn tập - Nxb CTQG - Hà Nội 1995 - Tập 1 - Tr 580.
9
V.I. Lênin toàn tập (bản tiếng Việt) - Tập 6 - Nxb Tiến bộ - Mátxcơva 1975 - Tr 30.
12
GVC ThS HOÀNG NGỌC VĨNH - ĐẠI HỌC KHOA HỌC HUẾ - ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG ÔN THI TUYỂN SINH
SAU ĐẠI HỌC – MÔN TRIẾT HỌC (DÀNH CHO CÁC NGÀNH KHÔNG CHUYÊN TRIẾT) - 2013
những điều kiện khách quan nhất định. Vai trò của ý thức là ở chõ nhận thức thế
giới khách quan và từ đó con người hình thành mục đích, phương hướng, biện
pháp, ý chí cần thiết cho hoạt động của mình. Sức mạnh của ý thức là biết dựa
vào điều kiện vật chất đã có, phản ánh đúng quy luật khách quan để cải tạo thế
giới khách quan một cách chủ động, sáng tạo. Con người phản ánh càng đầy đủ
và chính xác thế giới khách quan thì càng cải tạo thế giới có hiệu quả.
Phát huy tính năng động, sáng tạo của ý thức (năng động chủ quan của
con người) phải trên cơ sở thừa nhận và tôn trọng quy luật khách quan của thế
giới. Lênin thường căn dặn, không được lấy ý muốn chủ quan làm chính sách,
không được lấy tình cảm làm điểm xuất phát cho chiến lược, sách lược cách
mạng.
Nắm vững mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức sẽ tránh cho
chúng ta những căn bệnh chủ quan duy ý chí trong hoạt động thực tiễn, chống
thái độ trông chờ, ỷ lại vào điều kiện vật chất, không phát huy sức mạnh của trí
tuệ tinh thần con người trong quá trình cải biến thế giới.
6. Phép biện chứng duy vật là một khoa học về mối liên hệ phổ biến
và sự phát triển
Phép biện chứng ra đời từ thời cổ đại. Trong lịch sử triết học đã có ba

dù muôn hình muôn vẻ nhưng không tồn tại cô lập tách biệt mà chúng là một
thể thống nhất, tác động lẫn nhau, ràng buộc lẫn nhau, quy định và chuyển hóa
lẫn nhau.
Mối liên hệ này diễn ra trên mọi lĩnh vực, trên mọi quan hệ giữa các yếu
tố, các thuộc tính, các quá trình làm nên bản thân sự vật hiện tượng và giữa
các sự vật hiện tượng với nhau. Mối liên hệ này là khách quan, nó bắt nguồn từ
tính thống nhất của thế giới.
Thế giới là phong phú, đa dạng và nhiều vẻ, vì thế mọi sự phân loại mối
liên hệ đều chỉ có ý nghĩa tương đối, vì một mối liên hệ nào đó cụ thể thì chỉ là
một hình thức, một bộ phận, một mắt khâu của mối liên hệ phổ biến nói chung.
Tuy nhiên, sự phân loại mối liên hệ là cần thiết trong việc quy định sự vận
động và phát triển của sự vật, hiện tượng không giống nhau. Ph.Ăngghen viết:
“Phép biện chứng là khoa học về sự liên hệ phổ biến”
11
.
Ý nghĩa phương pháp luận.
Nắm vững nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, trong nhận thức cũng như
trong hành động thực tiễn cần phải có quan điểm toàn diện khi xem xét đánh
giá sự vật hiện tượng và thế giới, nhất là các vấn đề thuộc lĩnh vực xã hội. Khi
số mối liên hệ được xét đến càng nhiều thì kết luận về sự vật hiện tượng càng
chính xác.
b) Nội dung của nguyên lý về sự phát triển
Tất cả mọi sự vật, hiện tượng cũng như thế giới trong quá trình vận động
của mình, dù có chấp nhận những bước lùi nhưng cuối cùng vẫn đạt được sự
phát triển. Không có sự vật hiện tượng nào là không phát triển.
Phân tích nội dung nguyên lý.
Trong phép biện chứng duy vật, nguyên lý về mối liên hệ phổ biến gắn
liền với nguyên lý về sự phát triển. Hai nguyên lý này thống nhất với nhau bởi
liên hệ là vận động, không vận động không có sự phát triển nào cả.
Khái niệm vận động là chỉ mọi biến đổi nói chung. Khái niệm phát triển

Nắm vững hai nguyên lý đòi hỏi phải có quan điểm toàn diện khi xem xét
đánh giá sự vật hiện tượng, đồng thời với việc đặt sự vật trong nhiều mối liên
hệ thì cũng phải có quan điểm lịch sử cụ thể, quan điểm phát triển trong đánh
giá xem xét.
7. Những quy luật của phép biện chứng duy vật
Quy luật là mối liên hệ bản chất, ổn định, phổ biến giữa các sự vật hiện
tượng hoặc giữa những mặt của mỗi sự vật hiện tượng.
Tùy theo tính chất và phạm vi của chúng, quy luật có nhiều loại: Quy luật
tự nhiên, quy luật xã hội, quy luật tư duy. Có quy luật chi phối trong phạm vi
rộng lớn, cũng có quy luật chỉ chi phối trong phạm vi hẹp. Mỗi loại quy luật
được một ngành khoa học nghiên cứu.
Phép biện chứng duy vật là khoa học nghiên cứu về những quy luật
chung nhất của sự vận động và phát triển của thê giới.
7a) QUY LUẬT THỐNG NHẤT VÀ ĐẤU TRANH CỦA CÁC
MẶT ĐỐI LẬP.
Quy luật này còn có tên gọi là quy luật đồng nhất, và gọi tắt là quy luật
mâu thuẫn. Đây là quy luật cơ bản quan trọng nhất của phép biện chứng duy
vật, nó vạch ra nguồn gốc động lực bên trong của sự phát triển.
Nội dung của quy luật
Tất cả mọi sự vật hiện tượng cũng như thế giới bao giờ cũng là một thể
thống nhất của các mâu thuẫn. Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là
nguồn gốc, động lực bên trong của sự phát triển.
Phân tích nội dung của quy luật
Mâu thuẫn là hiện tượng khách quan và phổ biến của thế giới. Mâu thuẫn
là khái niệm chỉ sự liên hệ và tác động lẫn nhau của các mặt đối lập. Các mặt
đối lập có khuynh hướng phát triển trái ngược nhau, cùng tồn tại trong một sự
12
V.I. Lênin toàn tập (bản tiếng Việt) - Tập 29 - Nxb Tiến bộ Mátxcơva 1980 - Tr 364.
15
GVC ThS HOÀNG NGỌC VĨNH - ĐẠI HỌC KHOA HỌC HUẾ - ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG ÔN THI TUYỂN SINH

tới sự vật mới thay thế cho sự vật cũ. Tính tuyệt đối, liên tục của sự đấu tranh
của các mặt đối lập là nguyên nhân của trạng thái tự thân vận động và phát triển
không ngừng của thế giới. Sự đứng im tương đối, tạm thời của sự vật hiện
tượng cũng là vận động trong thế cân bằng của các mặt đối lập.
Đấu tranh giữa các mặt đối lập là nhằm giải quyết mâu thuẫn. Việc giải
quyết mâu thuẫn thực hiện bằng chuyển hóa lẫn nhau giữa các mặt đối lập. Sự
chuyển hóa được thực hiện ở giai đoạn chín muồi của mâu thuẫn và phải có
điều kiện cụ thể tùy theo từng sự vật, diễn ra dưới nhiều hình thức. Hai khuynh
hướng khái quát nhất của sự chuyển hóa là: Mặt đối lập này được chuyển hóa
thành mặt đối lập kia và thành lập ngay cho mình mặt đối lập mới để tiếp tục
đấu tranh với nhau trong sự vật mới; Hai mặt đối lập cũ cùng mất đi và hình
thành hai mặt đối lập mới trong sự vật mới ở tính chất, trình độ cao hơn.
13
Ph. Ăng-ghen - Chống Đuy Rinh - Nxb Sự thật - Hà Nội 1975 - Tr 202.
16
GVC ThS HOÀNG NGỌC VĨNH - ĐẠI HỌC KHOA HỌC HUẾ - ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG ÔN THI TUYỂN SINH
SAU ĐẠI HỌC – MÔN TRIẾT HỌC (DÀNH CHO CÁC NGÀNH KHÔNG CHUYÊN TRIẾT) - 2013
Khái niệm thống nhất trong quy luật mâu thuẫn có nghĩa là hai mặt đối
lập liên hệ với nhau, ràng buộc nhau và quy định lẫn nhau, mặt này lấy mặt kia
làm tiền đề tồn tại cho mình (theo nghĩa này mà quy luật còn được gọi là quy
luật đồng nhất).
Sự thống nhất không tách rời sự khác nhau, sự đối lập. Mỗi sự vật hiện
tượng vừa là nó vừa không là nó. Trong thống nhất bao hàm cả sự khác nhau,
sự đối lập nhau, sự đấu tranh lẫn nhau. Sự thống nhất các mặt đối lập cụ thể nào
cũng đều có tính tương đối, tạm thời, tức nó chỉ tồn tại trong một thời gian nhất
định. Sự thống nhất của các mặt đối lập là nguyên nhân của trạng thái đứng im
tương đối, tạm thời của thế giới. Lênin viết: “Sự thống nhất của các mặt đối lập
là có điều kiện, tạm thời, thoáng qua, tương đối. Sự đấu tranh của các mặt đối
lập bài trừ lẫn nhau là tuyệt đối, cũng như sự phát triển, sự vận động là tuyệt
đối.”

SAU ĐẠI HỌC – MÔN TRIẾT HỌC (DÀNH CHO CÁC NGÀNH KHÔNG CHUYÊN TRIẾT) - 2013
Mâu thuẫn không chủ yếu là những mâu thuẫn phát sinh trong từng giai
đoạn phát triển của sự vật hiện tượng, không giữ vai trò quyết định mà chỉ ảnh
hưởng đến sự phát triển của sự vật hiện tượng.
Ranh giới giữa mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn không chủ yếu chỉ là
tương đối. Tùy điều kiện cụ thể chúng có thể chuyển hóa cho nhau. Mâu thuẫn
chủ yếu thường là biểu hiện cụ thể của mâu thuẫn cơ bản trong từng giai đoạn
của sự phát triển của sự vật hiện tượng. Do đó việc giải quyết mâu thuẫn chủ
yếu cũng là quá trình giải quyết dần dần mâu thuẫn cơ bản.
Mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng.
Mâu thuẫn đối kháng là mâu thuẫn giữa các khuyng hướng, những lực
lượng xã hội có lợi ích cơ bản trái ngược nhau không thể điều hòa được. Loại
mâu thuẫn này chỉ có trong các xã hội có đối kháng giai cấp. Việc giải quyết
mâu thuẫn này phải dùng đến bạo lực cách mạng.
Mâu thuẫn không đối kháng là mâu thuẫn giữa các khuynh hướng, lực
lượng xã hội có lợi ích cơ bản thống nhất nhau. Việc giải quyết mâu thuẫn này
thường là phương pháp hòa bình, phương pháp giáo dục.
Ý nghĩa phương pháp luận
Trong nhận thức cũng như trong hoạt động thực tiễn cần phải thừa nhận
tính khách quan của mâu thuẫn đối với sự vật hiện tượng. Lênin nói: “Sự phân
đôi của cái thống nhất, và sự nhận thức các bộ phận đối lập của nó, đó là thực
chất của phép biện chứng.”
15
Cần phải biết phân loại các mâu thuẫn một cách khoa học. Phải biết phân
tích và giải quyết cụ thể từng mâu thuẫn với những biện pháp thích hợp.
Phải nắm vững nguyên tắc giải quyết mâu thuẫn. Mẫu thuẫn chỉ được
giải quyết khi chín muồi. Bất kỳ mâu thuẫn nào và bất kỳ ở giai đoạn nào, mâu
thuẫn chỉ được giải quyết bằng đấu tranh giữa các mặt đối lập, tuyệt nhiên
không được điều hòa mâu thuẫn.
7b) QUY LUẬT SỰ TÍCH LŨY DẦN DẦN VỀ LƯỢNG DẪN ĐẾN

quy định của bản thân sự vật, hiện tượng nói lên quy mô, trình độ, tốc độ của sự
phát triển của sự vật, hiện tượng.
Lượng bao giờ cũng được biểu thị bằng số lượng, nhưng không phải mọi
số lượng đều là lượng. Mỗi sự vật, hiện tượng hiện tượng có nhiều lượng. Cũng
như chất, lượng không tồn tại một cách thuần túy mà tồn tại thông qua các mối
liên hệ cụ thể. Lượng tồn tại khách quan và là thuộc tính bên trong năng động
của sự vật, hiện tượng. Tuy nhiên, lượng đôi khi còn phải được xác định không
phải là các con số mà phải tư duy một cách trừu tượng, thậm chí còn xác định
lượng dường như là nhân tố bên ngoài.
Sự phân biệt giữa lượng và chất chỉ là tương đối, nó tùy thuộc mối quan
hệ xác định, tức cùng một thuộc tính cơ bản nhưng có thể ở mối quan hệ này là
lượng ở mối quan hệ khác là chất và ngược lại.
Mối quan hệ biện chứng giữa lượng và chất.
Chất và lượng là hai mặt đối lập nằm trong một thể thống nhất là sự vật,
hiện tượng. Chúng không tách rời nhau mà tác động lẫn nhau một cách biện
chứng. Sự thống nhất giữa chúng chỉ ở trong một độ nhất định khi sự vật hiện
tượng đang tồn tại.
Độ là giới hạn trong đó sự vật, hiện tượng luôn có sự biến đổi về lượng
nhưng chất của nó chưa đổi. Tức trong phạm vi độ, lượng và chất luôn tác động
lẫn nhau làm cho sự vật, hiện tượng vận động và phát triển.
Khi lượng thay đổi đến một giới hạn nhất định (điểm nút), thì dẫn đến sự
thay đổi về chất. Giới hạn đó tùy thuộc sự vật, hiện tượng cụ thể. Sự thay đổi về
chất qua điểm nút gọi là bước nhảy (nhảy vọt). Đó là bước ngoặt căn bản kết
thúc một giai đoạn trong sự biến đổi về lượng, là sự gián đoạn trong quá trình
biến đổi liên tục, chấm dứt một dạng tồn tại cụ thể của sự vật, hiện tượng.
Khi chất mới ra đời lại có một lượng mới thích hợp tạo nên sự thống nhất
mới giữa lượng và chất. Sự tác động của chất mới đối với lượng mới biểu hiện
ở quy mô, trình độ, tốc độ vận động của lượng mới. C.Mác viết: “Những thay
19
GVC ThS HOÀNG NGỌC VĨNH - ĐẠI HỌC KHOA HỌC HUẾ - ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG ÔN THI TUYỂN SINH

đối ổn định, lượng thường xuyên biến đổi. Lượng biến đổi mâu thuẫn với chất
cũ. Mâu thuẫn được giải quyết chất mới được hình thành với lượng mới. Những
lượng mới lại tiếp tục biến đổi đến những điểm nút mới phá vỡ chất cũ đang
kìm hãm nó tạo nên những chất mới. Sự vận động liên tục của sự vật, hiện
tượng từ biến đổi dần dần về lượng đến nhảy vọt về chất, rồi biến đổi dần dần
về lượng chuẩn bị cho bước nhảy về chất tiếp theo. Quá trình cứ thế tiếp diễn
làm cho sự vật, hiện tượng không ngừng biến đổi và phát triển.
Ý nghĩa phương pháp luận
Trong tư duy cũng như trong hoạt động thực tiễn, cần xác định quy mô,
tốc độ, trình độ của những bước nhảy một cách khách quan, khoa học. Cần tạo
điều kiện thuận lợi cho sự tích lũy về lượng và biết chớp thời cơ để thực hiện
các bước nhảy về chất không được rập khuôn giáo điều hay bảo thủ ngại khó.
16
Các Mác - Tư bản, quyển I, tập 1, Nxb Sự thật Hà Nội 1973, Tr 573.
20
GVC ThS HOÀNG NGỌC VĨNH - ĐẠI HỌC KHOA HỌC HUẾ - ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG ÔN THI TUYỂN SINH
SAU ĐẠI HỌC – MÔN TRIẾT HỌC (DÀNH CHO CÁC NGÀNH KHÔNG CHUYÊN TRIẾT) - 2013
Nếu tuyệt đối hóa về chất, chỉ chú trọng thực hiện các bước nhảy mà
không chú ý tích lũy về lượng là rơi vào chủ nghĩa tả khuynh (nôn nóng, chủ
quan, duy ý chí, hành động phiêu lưu mạo hiểm).
Ngược lại, nếu tuyệt đối hóa sự tích lũy về lượng, hạ thấp vai trò của
bước nhảy về chất sẽ dẫn dến chủ nghĩa hữu khuynh (Bảo thủ, trì trệ, ngại
khó ), hoặc sẽ rơi và chủ nghĩa cải lương và tiến hóa luận.
7c) QUY LUẬT PHỦ ĐỊNH BIỆN CHỨNG CỦA PHỦ ĐỊNH BIỆN
CHỨNG
Nội dung của quy luật
Mọi sự vật, hiện tượng cũng như thế giới vận động và phát triển có tính
chu kỳ. Để thực hiện một chu kỳ của sự phát triển thì sự vật, hiện tượng phải
trãi qua ít nhất hai lần phủ định biện chứng. Khuynh hướng của sự phát triển
của sự vật, hiện tượng và thế giới là theo đường xoáy trôn ốc.

SAU ĐẠI HỌC – MÔN TRIẾT HỌC (DÀNH CHO CÁC NGÀNH KHÔNG CHUYÊN TRIẾT) - 2013
phủ định biện chứng Số lượng các lần phủ định trong một chu kỳ phát triển cụ
thể nhiều hay ít, nhưng để đạt được sự phát triển thì ít nhất phải trải qua hai lần.
Con đường của sự phát triển.
Sự phát triển biện chứng thông qua những lần phủ định biện chứng như
nêu trên là sự thống nhất giữa loại bỏ, giữ lại và phát triển. Nó biểu hiện sự phát
triển do mâu thuẫn, khái quát tính chất tiến lên của phát triển. Sự phát triển đó
không diễn ra theo con đường thẳng mà theo đường “xoáy ốc”. Lênin viết: “Sự
phát triển dường như diễn lại những giai đoạn đã qua, nhưng dưới một hình
thức khác, ở một trình độ cao hơn; sự phát triển có thể nói là theo đường trôn ốc
chứ không theo đường thẳng”
17
.
Mỗi vòng mới của đường xoáy ốc thể hiện một trình độ, tính chất cao
hơn của sự phát triển, đồng thời dường như quay lại cái đã qua. Sự nối tiếp của
các vòng xoáy thể hiện tính liên tục, tính vô tận của sự phát triển từ thấp đến
cao.
Ý nghĩa phung pháp luận của quy luật
Quá trình phát triển của thế giới không diễn ra theo một đường thẳng mà
rất quanh co, phức tạp, trãi qua nhiề lần phủ định, nhiều khâu trung gian, đặc
biệt là trong lĩnh vực đời sống xã hội. Bởi thế, việc nắm vững quy luật cho ta
cách nhìn biện chứng, khoa học về xu thế phát triển của thế giới và của thời đại
hiện nay.
Cần phải có quan điểm khoa học, biết phát hiện, đánh giá và ủng hộ cái
mới. Chống phủ định sạch trơn cũng như kế thừa nguyên xi cái cũ.
Trên thực tế hiện nay có những kẻ, trong đó có những người vốn là mác-
xít luôn ra sức phủ nhận những thành quả to lớn của Chủ nghĩa xã hội ở Liên
Xô và Đông Âu. Họ không thấy được trong 70 năm tồn tại, Chủ nghĩa xã hội ở
Liên Xô đã để lại những giá trị tích cực có ảnh hưởng lâu dài đối với lịch sử
toàn thế giới.

trí đặt ra chứ không phản ánh một cái gì hiện thực.
Quan niệm của phép biện chứng duy vật cho rằng: Cái riêng và cái chung
tồn tại một cách khách quan và luôn quan hệ lẫn nhau. Không có riêng, chung
tồn tại thuần túy không liên hệ.
Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng mà biểu hiện.
Cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ với cái chung. Chẳng hạn, vận động chỉ
biểu hiện thông qua các hình thức vận động cụ thể. Trong sản xuất, bất cứ nước
nào cũng phải tuân thủ quy luật quan hệ sản xuất phải luôn luôn phù hợp với
tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất.
Cái riêng là cái toàn thể phong phú hơn cái chung, vì ngoài những mặt
những thuộc tính gia nhập vào cái chung, nó còn những cái đơn nhất. Cái
chung là cái bộ phận nhưng sâu sắc, bản chất hơn cái riêng. Bởi nó phản ánh
những mặt những thuộc tính, những mối liên hệ bên trong, tất nhiên, ổn định,
phổ biến tồn tại trong cái riêng cùng loại. Cái chung bởi thế thường gắn với bản
chất quy định phương hướng tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng.
Cái đơn nhất và cái chung là những phạm trù cùng loại nên trong những
mối liên hệ nhất định chúng có thể chuyển hóa lẫn nhau. Sở dĩ có điều này là do
trong hiện thực, cái mới không bao giờ xuất hiện đầy đủ ngay một lúc, mà xuất
hiện ở dạng cá biệt, đơn nhất rồi theo quy luật phát triển, hoàn thiện thành cái
chung. Trong khi đó cái cũ từ là cái chung ngày càng biến dần thành cái đơn
nhất.
Ý nghĩa phương pháp luận
Trong nhận thức cũng như trong hoạt động thực tiễn, cần phải biết phát
hiện cái chung và vận dụng cái chung để cải tạo cái riêng. Nhưng muốn phát
hiện cái chung phải xuất phát từ những cái riêng cụ thể.
Khi vận dụng cái chung vào cái riêng, phải biết cá biệt hóa cái chung cho
phù hợp với những đặc điểm của cái riêng. Không áp đặt một cách nguyên xi
cái chung cho mọi cái riêng.
23
GVC ThS HOÀNG NGỌC VĨNH - ĐẠI HỌC KHOA HỌC HUẾ - ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG ÔN THI TUYỂN SINH

Mối quan hệ nhân - quả là phổ biến trong tồn tại của sự vật, hiện tượng
và thế giới (nguyên tắc quyết định luận). Chủ nghĩa duy tâm hiện đang phủ
nhận nguyên tắc này và thay thế vào đó nguyên tắc vô định luận, cho rằng có
hiện tượng không có nguyên nhân. Đây là vấn đề đang được tranh luận sôi nổi
trong các hiện tượng vi mô.
Mối quan hệ nhân - quả là một tất yếu. Tức có những kết quả muốn ra
đời phải có những điều kiện nhất định (hoàn cảnh). Nhưng trong những hoàn
cảnh nhất định, với một nguyên nhân nhất định chỉ có thể gây ra kết quả nhất
định. Chẳng hạn vật trong chân không luôn rơi ở vận tốc 9,8m/s
2
. Nước ở áp
suất 1 átmốtphe luôn sôi ở nhiệt độ 100
0
C v.v. Tính tất yếu của quan hệ nhân -
2
Số này đọc là giây.
0
24
GVC ThS HOÀNG NGỌC VĨNH - ĐẠI HỌC KHOA HỌC HUẾ - ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG ÔN THI TUYỂN SINH
SAU ĐẠI HỌC – MÔN TRIẾT HỌC (DÀNH CHO CÁC NGÀNH KHÔNG CHUYÊN TRIẾT) - 2013
quả cần được hiểu: Nếu nguyên nhân và hoàn cảnh càng ít khác nhau bao nhiêu
thì các kết quả do nguyên nhân gây nên càng ít khác nhau bấy nhiêu.
Mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả
- Nguyên nhân là cái sinh ra kết quả. Nguyên nhân luôn là cái có trước
kết quả, sản sinh ra trước kết quả. Kết quả chỉ xuất hiện sau khi nguyên nhân
xuất hiện và bắt đầu tác động. Nhưng mối quan hệ nhân - quả phải bao gồm
đồng thời cả hai quan hệ thứ tự và sản sinh. Mối quan hệ liên tục về thời gian
mà thiếu quan hệ sản sinh như ngày - đêm và bốn mùa không là quan hệ nhân-
quả. S = π.R
2

chậu tràn ra. Đến lượt nó, chính do nước tràn ra ngoài mà lực đẩy của nó đối
với khối gỗ bị giảm đi.
2
Số này đọc là bình phương
25

Trích đoạn Xem Alvin Tofler Đợt sóng thứ ba Nxb KHXH Hà Nội 1996. V.I Lênin toàn tập Nxb Tiến bộ Mátxcơva 197 7 Tập 39 Tr 17-18. V.I Lênin toàn tập Nxb Tiến bộ Mátxcơva 1979 Tập 7 Tr 237-238. Hồ Chí Minh toàn tập Nxb CTQ G Hà Nội 1996 Tập 9 Tr 314. Xem C.Má c Ph.Ăngghen toàn tập Nxb CTQ G Hà Nội 1995 Tập 2 2 Tr 288.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status