ĐỀ CƯƠNG ÔN THI TUYỂN SINH SAU ĐẠI HỌC MÔN CƠ SỞ LỊCH SỬ TRIẾT HỌC - Pdf 15

HƯỚNG DẪN ÔN THI CAO HỌC TRIẾT HỌC – MÔN CƠ SỞ - THS HOĂNG NGỌC VĨNH - 2013
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
♣♥♣
GVC ThS HOÀNG NGỌC VĨNH
ĐỀ CƯƠNG ÔN THI TUYỂN SINH
SAU ĐẠI HỌCMÔN CƠ SỞ: LỊCH SỬ
TRIẾT HỌC
HUẾ 5/2013
ĐỀ CƯƠNG CHƯƠNG TRÌNH THI TUYỂN CAO HỌC
VÀ NGHIÊN CỨU SINH
1

HƯỚNG DẪN ÔN THI CAO HỌC TRIẾT HỌC – MÔN CƠ SỞ - THS HOĂNG NGỌC VĨNH - 2013
MÔN CƠ SỞ : LỊCH SỬ TRIẾT HỌC
(Cho chuyên ngành Triết học)
A. NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH
Chương trình được xây dựng theo trình độ Đại học có bổ sung và nâng cao
với thời lượng 120 tiết (8 ĐVHT) nhằm:
- Giúp học viên hệ thống và phần nào nâng cao những kiến thức cơ bản về
lịch sử triết học đã được trang bị ở bậc đại học.
- Qua nội dung chương trình giúp học viên sẽ tạo được một cơ sở kiến thức
để tiếp thu một chương trình mới được nâng cao về lịch sử triết học ở bậc cao học
và nghiên cứu sinh sau này:
I. LỊCH SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNG CỔ TRUNG ĐẠI
1. Lịch sử triết học Ấn Độ cổ đại.
- Hoàn cảnh lịch sử và đặc điểm triết học Ấn Độ cổ đại.
- Một số trường phái triết học Ấn Độ cổ đại: những tư tưởng triết học cơ
bản trong Veda; triết học Phật giáo
2. Lịch sử triết học Trung Hoa cổ, trung đại.

1. Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình Quốc gia các môn
khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh (1999), Giáo trình triết học Mác -
Lênin, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (1999), Lịch sử triết học, (Giáo trình dùng cho
các trường đại học và cao đẳng), Nxb Giáo dục, Hà Nội.
3. Nguyễn Hữu Vui chủ biên (1998), Lịch sử triết học, Nxb Chính trị Quốc
gia, Hà Nội.
4. Vũ Ngọc Pha, Nguyễn Ngọc Long, Nguyễn Hữu Vui (1999), Triết học
(3 tập), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
5. Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, Viện Triết học, Lịch sử tư tưởng Việt
Nam (2 tập), Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
6. Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô, Viện Triết học, Lịch sử phép biện
chứng (6 tập), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
7. Viện nghiên cứu lịch sử chủ nghĩa Mác - Lênin Trường Đại học Nhân
dân Trung quốc (2003), Lịch sử chủ nghĩa Mác (4 tập), Nxb Chính trị Quốc gia,
Hà Nội.
8. C. Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập (50 tập), Nxb Chính trị Quốc gia,Hà
Nội.
9. V.I. Lênin, Toàn tập (55 tập), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
C. CÁC KHỐI KIẾN THỨC TRONG ĐỀ THI
- Câu 1. (2,5 điểm), thuộc khối kiến thức I.
- Câu 2. (2,5 điểm), thuộc khối kiến thức II. III.
- Câu 3. (2,5 điểm), thuộc khối kiến thức IV.
- Câu 4. (2,5 điểm), thuộc khối kiến thức V, VI.

TRƯỞNG TIỂU BAN HIỆU TRƯỞNG
(đã ký duyệt)
PGS.TS. Nguyễn Văn Tận
HƯỚNG DẪN CHI TIẾT


Nó được soạn từ thế kỷ XII đến thế kỷ V TCN. Người ta cho rằng, về nguồn gốc
thần học, kinh Veda là những chân lý do Thượng đế mặc khải cho loài người ở
đầu mỗi chu kỳ của vũ trụ (Mỗi chu kỳ là 4320 triệu năm). Những chân lý ấy tự
tồn tại, tuyệt đối và tiên thiên siêu thời gian. Con người chỉ nhận thức được nó
bằng trực giác. Người thấu thị được nó phải có một quá trình tu luyện, chiêm
nghiệm nội tâm lâu dài cả về hành động lẫn tri thức. Về lịch sử nó không là tác
phẩm của một người, mà là sự tổng hợp, thu lượm tất cả những câu ca dao, vịnh
phú, tư tưởng, quan niệm, tập tục lễ nghi của nhiều bộ lạc người Aryan ở nhiều
địa phương thuộc sông Inđus, Gangơ và chân núi Hymalaya. Từ thế kỷ X đến thế
kỷ VIII TCN nó mới được sưu tập, biên chép thành sách bằng tiếng Phạn cổ.
Thời tiền Veda có 4 tập. Bộ phận sớm nhất của Veda là những khúc hát
tụng ca truyền miệng của dân du mục Arya, những khúc hát này được truyền qua
ký ức và truyền miệng, nó chỉ được in thành sách từ thế kỷ XIV là Rig-Veda. Sau
đó là Sama-Veda, Yajur-Veda, Atharva-Veda.
+ Rig-veda: Rig có nghĩa là tán ca. Đây là bộ phận cổ nhất nó có 1028 khúc
hát với 10552 khổ, nó ra đời vào khoảng thế kỷ XXV - XX TCN, được phổ biến
4

HƯỚNG DẪN ÔN THI CAO HỌC TRIẾT HỌC – MÔN CƠ SỞ - THS HOĂNG NGỌC VĨNH - 2013
ở Ấn Độ vào thế kỷ XV TCN. Những khúc ca ở đây dùng để cầu nguyện, chúc
tụng công đức các thần thánh. Hai vị thánh được nhắc đến nhiều nhất là thần Sấm
Indra và thần Lửa Agni. Bộ kinh này chuyên dùng cho các bậc Khuyến thỉnh sư
(Hotri).
+ Sama-Veda còn gọi là ca vịnh Veda: Là tuyển tập các đoạn trích của Rig-
veda, gồm 1549 bài. Nó là những câu hát dành cho các tư tế (udgtri) trong tiến
trình nghi lễ. Trong lễ hiến tế người ta đồng thanh hát ngân nga những bài ca có
vần dài tới 9 giây và thường kết thúc bằng từ UM (ôm) huyền bí. Nó chuyên dùng
cho các bậc Ca vịnh sư (Udgrat). Nó còn được coi như những quyết định về luật
lệ cho sinh hoạt thị tộc. Chính điểm này, làm Ấn Độ trở nên một quốc gia khó
cách tân về phong tục, tập quán. Bởi vì, nếu cách tân là phạm lời dạy của thánh.

5

HƯỚNG DẪN ÔN THI CAO HỌC TRIẾT HỌC – MÔN CƠ SỞ - THS HOĂNG NGỌC VĨNH - 2013
+ Aranyaka-Veda là sự kế tiếp sự phát triển của Brahmanna. Nó có tên gọi
là “Kinh rừng” (Sấm lâm thư). Tập này tính triết học còn rất ít. Nó chủ yếu giải
thích ý nghĩa huyền bí, bí truyền của những lễ nghi và phát hiện những ý nghĩa
triết lý cao siêu. Muốn được bí truyền các tăng đồ phải vào sâu trong rừng, núi
rậm, u tịch, vắng lặng và đem hết tâm trí ra mà suy tư trong nhiều năm. Những
cao tăng thấu đạt nghĩa lý siêu hình, uyên thâm của thánh kinh Vêđa được tôn
trọng ngang gần giới Balamôn.
+ Upanishad là tập muộn nhất và có nhiều tri thức triết học hơn cả. Nó là
những lời bình giải tôn giáo - triết học về các lẽ thiết yếu và ý nghĩa của từng
cuộc tế lễ, về những lẽ huyền bí sâu kín trong các kinh cầu nguyện, các bài thần
chú và về những điều chủ yếu trong các bài thần chú. Upanishad nghĩa là tư
tưởng bí mật, là ngồi xung quanh ai đó để trao đổi riêng. Nó có 18 tập với 200 bài
kinh, được biên soạn qua những niên đại khác nhau từ thế kỷ X đến thế kỷ VI
TCN. Trong đó có các bộ kinh quan trọng như: Brithda âranyaka, Chândogya,
Isha, Katha
Nội dung Upanishad là sự giải phóng tư duy người Ấn Độ cổ, nó biểu hiện
những tinh thần mới: Giải phóng tư duy tư biện khỏi ma thuật. Mặc dù ngây thơ
đơn giản, vẫn có những ảnh hưởng của tư biện về nghi lễ, nhưng Upanishad đã
đặt ra và trả lời được câu hỏi triết học: Cái gì là nguyên nhân? Brahman là gì?
Nguyên nhân của sự xuất hiện con người như thế nào? Nó lý giải những vấn đề
tối cao, mục đích tối cao của kinh Veda nên nó còn được gọi là kinh Vedanta
(Anta tiếng Phạn có nghĩa là kết thúc, hoàn tất, mục đích).
Cho đến nay vẫn còn nhiều tranh luận, thậm chí trái ngược nhau khi cho
rằng Upanisadd là cơ sở của những quan điểm khác nhau của các trường phái triết
học khác nhau. Chẳng hạn: Vedanta chỉ dựa vào Upanishad, nó không nghi ngờ
Sama-veda và Brahmanna-veda nhưng đã lờ đi. Mimansa cố đưa những chứng cớ
phức tạp để chứng minh Upanishad là đúng, là vĩnh hằng nhưng trên thực tế nó

(IV TCN) trở đi, xã hội nô lệ Ấn Độ hà khắc không kém gì các xã hội nô lệ khác.
Nhưng quan hệ chủ nô - nô lệ mang nét bóc lột gia trưởng là chính. Chính đặc
điểm này đã ảnh hưởng không tốt đến cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp nô lệ
chống lại giai cấp chủ nô, bởi lẽ sự phân tán của nô lệ trong các gia đình chủ nô là
rất cao.
Về mặt triết học:
- Thời cổ - trung đại, các nhà triết học Ấn Độ đã có một tư duy phân loại
cao và sự phân tích sâu sắc đáng kinh ngạc. Họ không dừng lại ở các vấn đề nhân
sinh, mà đặc biệt quan tâm đến các vấn đề bản thể luận. So với triết học Trung
Quốc, triết học Ấn Độ quan tâm nhiều đến vấn đề bản thể luận hơn, và lôgíc học
cũng phát triển hơn.
- Triết học Ấn Độ cổ trung đại luôn gắn với vấn đề tôn giáo, bởi thế hầu hết
các hệ thống triết học Ấn Độ luôn là triết học duy tâm và hữu thần. Phải chăng,
chính vì gắn với tôn giáo mà các nhà triết học Ấn Độ cổ - trung đại có thể phân
tích một cách tinh tế và sâu sắc mọi ngõ ngách của tinh thần, của cái tâm, của cái
thức. Mối quan hệ giữa tồn tại - không tồn tại luôn làm các nhà triết học Ấn Độ
khắc khoải, với sự đặc biệt chú ý của họ đến phạm trù “không”.
Có thể nói, niềm hạnh phúc và nỗi bất hạnh của con người luôn được triết
học Ấn Độ cổ - trung đại quan tâm, thì bản thân nền triết học ấy cũng đã có
những bất hạnh và may mắn do xã hội Ấn Độ cổ - trung đại quy định. Cuối thời
cổ điển, thuyết Jaina mất hết ý nghĩa của nó, Phật giáo bị đồng hóa bởi đạo
Hinđu. Thời Hinđu, với sự phát triển của các hệ thống Hinđu-ViShnu, Hinđu-
Shiva cho thấy các đạo sỹ Balamôn được thay bằng các thần Shiva và Vishnu. Từ
thế kỷ X trở đi, triết lý tín ngưỡng đa thần được thay bởi triết lý tôn giáo nhất
thần Hồi giáo.
- Trong sự phản tỉnh, nhân sinh là nét nổi trội, hầu hết các hệ thống triết
học Ấn Độ cổ - trung đại đều biến đổi theo xu hướng từ vô thần đến hữu thần, từ
ít nhiều duy vật đến duy tâm hay nhị nguyên. Đây là sự phản ánh trạng thái trì trệ
7


Rig-veda để chứng minh nó có ảnh hưởng đến quan điểm triết học, xác nhận
quyền uy của Rig-veda với học thuyết của mình. Thật ra việc làm này là miễn
cưỡng và vô nghĩa.
+ Sama-Veda còn gọi là ca vịnh Veda: Nó là những câu hát dành cho các
tư tế (udgtri) trong tiến trình nghi lễ. Nó còn được coi như những quyết định về
luật lệ cho sinh hoạt thị tộc. Chính điểm này, làm Ấn Độ trở nên một quốc gia
khó cách tân về phong tục, tập quán. Bởi vì, nếu cách tân là phạm lời dạy của
thánh.
+ Yajur-Veda gọi là Tế tự Veda. Nó là sự tập hợp những công thức khấn
bái dùng trong lễ nghi hiến tế. Bộ này gồm 2 bộ (Đen: Krispa và Trắng: Sukla).
Bộ Trắng chỉ có các thần chú và các công thức sử dụng cho các nghi lễ. Bộ Đen
là những ý kiến về nghi lễ và thảo luận những ý kiến đó.
8

HƯỚNG DẪN ÔN THI CAO HỌC TRIẾT HỌC – MÔN CƠ SỞ - THS HOĂNG NGỌC VĨNH - 2013
Thần chú trong Yajur-Veda bao gồm cả thơ và văn xuôi mang tính công
thức khấn bái dùng trong nghi lễ hiến tế. Các công thức này thường không có
nghĩa. Nếu có thì là sự vô lý hỗn loạn nên được coi là có sức mạnh ma thuật.
Các hành lễ sư phải thuộc lòng các công thức trong thánh kinh này. Thánh
kinh này dạy những thể thức hành lễ, cúng bái, cách bày các loại tế khí, các đồ lễ
lên bàn thờ và cách dâng đồ lễ khi cúng tế.
+ Atharva-Veda. Nó gồm 731 bài văn vần là những lời khấn bái mang tính
bùa chúa, phù phép, ma thuật nhằm đem lại những điều tốt lành cho bản thân và
người thân, gây tai họa cho kẻ thù. Atharva-Veda buổi sơ khai của đạo Balamôn
được coi là thánh kinh quan trọng nhất. Về sau, Rig-Veda thay thế vị trí của nó,
nó dược xếp xuống hàng thứ tư trong thánh kinh Veda chuyên dùng cho giới thầy
pháp, thầy tu.
Trên cơ sở của thánh kinh Veda, đặc biệt là Rig-veda, Veda giáo đã hình
thành, đây là hình thức tôn giáo cổ nhất của Ấn Độ. Tôn giáo này thờ cúng thiên
nhiên với các vị thần tượng trưng cho các hiện tượng tự nhiên đa dạng, huyền

Mỗi bộ kinh trên, đều có những quyển chủ yếu và những quyển không chủ
yếu. Loại chủ yếu gọi là Samhita. Những quyển kinh thuộc Samhita gọi là thánh
kinh Veda. Những thánh kinh căn bản, trọng yếu, thông dụng Samhita có ba loại:
Tế nghi thư (Brahmana), Sâm lâm thư (Aranyaka), Áo nghĩa thư (Upanishad)
quen gọi là các bộ kinh Hậu Veda. Thời Hậu Veda gồm 3 bộ: Brahmana-Veda,
Aranyaka-Veda, Upanishad.
+ Brahmana-Veda (Tế nghi thư) là kinh Balamôn. Theo thánh kinh
Brhmanna, các đồ khí tế và lễ vật cũng có năng lực tự nhiên mạnh mẽ, vô hình,
mầu nhiệm có thể chuyển lay được ý muốn, hành động của thần linh. Bởi thế, với
tấm lòng thành thanh khiết, tế lễ đúng phép, bày đồ tế lễ và dâng lễ vật đúng ý
thần linh sẽ được thần linh chấp nhận lễ và ban ân huệ đúng như cầu nguyện. Tất
cả những linh nghiệm, ứng báo đó đều do nguyên lý tối cao mà ra.
Dưới cái vỏ thần bí, đầy ắp các yếu tố thần thoại - tôn giáo, kinh
Brahmanna cũng chỉ ra cách lý giải căn nguyên và quá trình hình thành vũ trụ: Đi
từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao. Vạn vật sinh, diệt, nóng, lạnh đều do
âm - dương, đực - cái giao hợp trong không gian, thời gian mà tồn tại mãi mãi.
Căn nguyên của sự tồn tại mãi mãi này đều được quy về “nguyên lý chủ đề tối
cao” - Thần Brahman. Tưởng rằng nhất thần nhưng trên thực tế họ tôn sùng ba vị
thần đại diện cho một lực lượng tối cao, trừu tương, khái quát chi phối sự hình
thành, tồn tại, biến đổi của vạn vật trong vũ trụ. Ba vị thần ba xu hướng, nhưng
chỉ là sự thể hiện của một quá trình thống nhất của vũ trụ: Thần sáng tạo Brahma,
thần hủy diệt Shiva còn gọi là Tamas, thần bảo vệ Vishnu còn gọi là thần Sattava
(thuần khiết, tính tĩnh).
Khi bàn về con người, kinh Brahmanna cho rằng, giữa mỗi kiếp người luôn
có cái duyên ràng buộc. Càng tu nhân, tích đức, làm nhiều điều thiện thì càng tạo
ra nhiều những nhân duyên tốt của hạnh phúc, cực lạc cho kiếp sau. Điều đó chỉ
có thể thực hiện và đạt được hiệu quả ứng nghiệm hiện tại nếu con người kính
cẩn, tôn sùng, siêng năng khấn bái, chiêm nghiệm sự linh báo ở thần linh.
+ Aranyaka-Veda là sự kế tiếp sự phát triển của Brahmanna. Nó có tên gọi
là “Kinh rừng” (Sấm lâm thư). Tập này tính triết học còn rất ít. Nó chủ yếu giải

sau tất cả những cụ thể, hữu hình, hữu hạn. Nó sáng tạo và chi phối tất cả thế giới
hiện tượng ấy.
Theo Upanishad, hạ trí là phương tiện cần thiết để hiểu biết thượng trí.
Thượng trí là mục đích tối cao của nhận thức. Khi có hiểu biết thượng trí sẽ đưa
con người tới giải thoát. Cái thực tại tối cao căn nguyên của sáng tạo mà chỉ
thượng trí mới nhận thức được ấy, theo Upanishad là bản chất nội tại của vũ trụ
và muôn vật, nó ở ngoài tất cả mọi giới hạn của không gian, thời gian và nhân
quả. Đó là “tinh thần vũ trụ tối cao”, là “thượng đế”, là thần Brahman.
Theo Upanishad, Brahman là thực tại tuyệt đối, tinh khiết, hằng cửu, toàn
thiện; là tinh thần vũ trụ đại đồng, là nguyên lý sáng tạo nên toàn vũ trụ; là thực
thể duy nhất, trước nhất, tuyệt đối, vĩnh viễn, chung nhất, phổ biến nhất ẩn sau
toàn bộ thế giới hữu hình. Brahman biểu hiện trong con người là Atman (linh
hồn), sự sống của con người. Atman đồng nhất với Brahman nên Atman cũng tồn
tại vĩnh viễn, tuyệt đối, bất diệt. Do ý chí, ham muốn, dục vọng mà gây ra những
hậu quả đau khổ cho linh hồn và thể xác (nghiệp báo - Karma) ở kiếp này và cả
kiếp sau (luân hồi - Samshara). Vậy, chỉ bằng tu luyện để Atman đồng nhất với
Brahman thì con người mới được giải thoát khỏi luân hồi, nghiệp báo.
Upanishad không là công trình của một người mà là kết quả của sự tư biện
hình thành qua nhiều thế hệ. Với nội dung phong phú, đa dạng, Upanishad trở
thành nguồn gốc lý luận cho tất cả các trường phái triết học duy tâm và tôn giáo
của Ấn Độ sau này, đặc biệt là đối với đạo Balamôn và Hindu.
Cho đến nay vẫn còn nhiều tranh luận, thậm chí trái ngược nhau khi cho
rằng Upanisadd là cơ sở của những quan điểm khác nhau của các trường phái triết
học khác nhau. Chẳng hạn: Vedanta chỉ dựa vào Upanishad, nó không nghi ngờ
Sama-veda và Brahmanna-veda nhưng đã lờ đi. Mimansa cố đưa những chứng cớ
phức tạp để chứng minh Upanishad là đúng, là vĩnh hằng nhưng trên thực tế nó
11

HƯỚNG DẪN ÔN THI CAO HỌC TRIẾT HỌC – MÔN CƠ SỞ - THS HOĂNG NGỌC VĨNH - 2013
ủng hộ những quan điểm triết học mà Upanishad chống lại. Cái say mê của

+ Họ quan niệm, do vô minh mà con người đã ngộ nhận sự phong phú đa
dạng của sự vật hiện tượng là tồn tại chân thực, vô hạn. Thực ra chúng chỉ là
những hữu hạn biến đổi vô thường và chỉ là những ảo tưởng, ảo giác thuần túy
mà thôi. Họ thừa nhận nguyên nhân của thế giới là từ hư không do Brahman tạo
ra.
+ Theo họ con người luôn sống giữa những ảo ảnh tự huyễn, giả tưởng và
luôn bị nó quyến rũ rồi mê muội đi, nhầm tưởng là ý chí của mình sống ở đời.
Trên thực tế như vậy, con người chỉ thấy cái hữu hạn, hữu hình mà không thấy
được cái vô hình tuyệt đối, cái vô hạn và cái vĩnh viễn thực sự của bản tính của
mình đồng nhất với Brahman.
12

HƯỚNG DẪN ÔN THI CAO HỌC TRIẾT HỌC – MÔN CƠ SỞ - THS HOĂNG NGỌC VĨNH - 2013
+ Họ đưa ra 4 phương pháp nhận thức là trực giác, khải thị, kết luận và cảm
giác. Theo họ, kết luận và cảm giác là nhận thức hạ trí chỉ biết được cái hữu
hình, hữu hạn, ảo ảnh. Chỉ có trực giác mới nhận thức được một cách đích thực
thế giới. Từ đó, theo họ, mọi cố gắng và mục đích tối cao của con người là phải
đạt cái trực giác để có được sự đồng nhất giữa linh hồn cá thể với linh hồn tối
cao. Là nhằm giải thoát con người khỏi thế giới ảo, thoát khỏi nghiệp báo, luân
hồi. (Đây là giải thoát luận của họ).
+ Những người theo nhất nguyên (Advaita) bên cạnh thờ thần sáng tạo tối
cao là Brahma họ còn thờ thần hủy diệt (shiva). Về thực chất 2 thần này nhất thể.
1.1.3.1.2. Thuyết không nhị nguyên có phân lập (Visistadvaita)
Thuyết này do Ramanuja (1016 - 1091) sáng lập. Ông là một triết gia nổi
tiếng vùng Nam Ấn lúc ấy. Về nguyên tắc, triết học của phái này không khác mấy
so với phái nhất nguyên. Nếu có điều khác biệt thì là ở chỗ: nếu nhất nguyên chỉ
thừa nhận duy nhất Brahman tồn tại, hiện hữu thì họ thừa nhận có 3 thực thể tồn
tại là Brahman, linh hồn cá thể (Atman) và thế giới vạn vật. Cụ thể.
+ Theo họ, Brahman là đấng sáng tạo tối cao duy nhất, toàn năng, toàn đức
mà ngoài Vishnu (thần bảo vệ tồn tại, thuần khiết còn gọi là Sattva) không có

hồn (cit), và vật chất (a cít) nhưng sự tồn tại của chúng là tồn tại trong Brahman.
+ Phái nhất nguyên nhị phân (thế kỷ XII) phái này cho rằng Brahman và
Atman vừa phân đôi vừa không phân đôi. Nó chỉ phân đôi khi được Brahman tạo
ra thế giới tinh thần với vật chất dưới dạng các thể thô. Khi nó ở trong Brahman
chúng đều ở dạng tinh tế.
+ Thuyết nhị nguyên (thế kỷ XIII) chỉ rõ sự khác nhau giữa Brahman với
Atman (tinh thần cá thể). Ở đây không phải là nhị nguyên về hai bản thể vật chất -
ý thức. Phái này chỉ ra 5 sự khác nhau giữa Brahman với tinh thần cá thể. Đó là
những sự khác giữa: 1) Brahman với Atman, 2) giữa Atman với vật chất; 3) giữa
hai Atman; 4) giữa hai dạng vật chất ; 5) giữa Brahman với vật chất. Phái này
kịch liệt chống lại phái nhất nguyên, họ coi phái nhất nguyên sakara là Phật giáo
trá hình.
+ Phái nhị nguyên thuần túy (thế kỷ XV) đưa ra quan niệm so sánh thượng
đế với linh hồn cá thể có quan hệ như vàng và đồ trang sức bằng vàng, còn linh
hồn cá thể được coi là tia lửa của linh hồn tối cao (Brahman). Họ cho rằng linh
hồn cá thể là một bộ phận của linh hồn tối cao nên cũng phải được tôn trọng. Họ
chống lại việc tu khổ hạnh đầy đọa linh hồn cá thể. Thực chất họ theo chủ nghĩa
khoái lạc.
+ Thuyết sự đồng nhất trong sự khác biệt không hiện rõ. Theo phái này
thì mọi người đều bình đẳng trước Brahman và trước các bàn cầu nguyện.
Tóm lại, dù có nhiều hình thức, nhưng Vedanta đều chung nhau ở quan
điểm coi linh hồn cá biệt (Atman) là hiện thân của linh hồn tuyệt đối toàn năng tối
cao (Brahman). Họ duy tâm hữu thần (đa thần nhất thể), khá trung thành với
Upanishad. Họ đều giải thoát linh hồn con người khỏi thế giới hiện thực bằng
trực giác. Triết học Vedanta có vị trí quan trọng trong triết học Hinđu sau này.
1.1.3.2. BUDDAHA (Phật giáo)
1.1.3.1.1. Các nội dung tư tưởng triết học chính trong đạo Phật
Tư tưởng triết học Phật giáo được chứa đựng trong “Tam tạng”. Kho kinh
điển này gồm hơn 8400 cuốn, thuộc tiếng Paly (Nam Ấn) và Sanskrit (Bắc Ấn).
Ngoài ra sự phát triển của Tiểu thừa và Đại thừa đã làm phong phú thêm những

4) Biến hành nhân: Nhân cùng khởi một lúc khắp cả trong khổ đế và tập đế.
5) Dị thục nhân: Nhân làm điều thiện hoặc ác ở đời này thì đời sau sẽ thành
ra ở đời sau thành thiện báo hay là ác báo.
6) Năng tác nhân: Nhân nhờ có duyên khác mà tạo ra kết quả.
Tam duyên gồm: 1) Thân duyên (duyên thân với Phật): Ba nghiệp (thân,
khẩu, ý) của chúng sinh và ba nghiệp của Phật chẳng lìa bỏ nhau.
2) Cận duyên (duyên gần với Phật): chúng sinh nguyện thấy Phật, Phật
liền ứng niệm mà hiện ra trước mắt.
3)Tăng thượng duyên (duyên thêm lên cõi Phật): chúng sinh xưng niệm
Phật mỗi giây nghĩ (niệm niệm) trừ được tội nhiều kiếp, khi lâm chung Phật,
thánh sẽ tiếp rước về cõi cực lạc.
Tứ duyên gồm:
1) Nhân duyên: Cái duyên làm cho nhân thành quả. Chẳng hạn, lục căn
(mắt, tai, mũi, miệng, thân, ý) làm nhân; lục trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc,
pháp) làm duyên mà thành ra lục thức (thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc
giác, ý giác).
2) Thứ đệ duyên: Cai duyên của tâm vương, tâm sở cứ thứ tự theo nhau
sinh ra liên tục không dứt.
3) Sở duyên duyên: Duyên này nhờ duyên khác mà sinh ra.
4) Tăng thượng duyên: Đối với sinh vật, kinh Phật tìm thấy sự liên kết của
nghiệp quả từ quá khứ đến hiện tại, từ hiện tại đến tương lai mà đưa ra thập nhị
nhân duyên (xem phần tập đế).
a2) Tư tưởng “Vô thường”, “Vô ngã”:
Vạn pháp đều không vượt qua nguyên lý “Vô thường” và “vô ngã”.
15

HƯỚNG DẪN ÔN THI CAO HỌC TRIẾT HỌC – MÔN CƠ SỞ - THS HOĂNG NGỌC VĨNH - 2013
“Vô ngã” là không có cái ta; sự vật bản chất không thường tồn bất biến,
nên “ngã” chỉ là “ảo”, “giả”. Nó là “ảo” là “giả” vì hội đủ nhân duyên thì có, cái
“có” ấy tự tính vốn chẳng “có” mà là “không”.

“trung”. Theo họ, con người tu luyện khi căn cơ thuần thục, bát nhã xuất hiện thì
thế giới “ảo” biến đi về trạng thái “không” - Niết bàn. Người sáng lập ra phái này
là sư Long Thọ (Trung Quốc). Phái “Du già” (Yogacara) cho rằng vạn pháp đều
biến tướng và là sự thể hiện của thức thứ tám (Tàng thức). Phái này nặng về duy
thức luận. Theo họ, “tàng thức” không mất đi mà tồn tại vĩnh hằng. Phái này do
hai anh em ruột Vô Trước (Asanga) và Thế Thân (Vasubađla) sáng lập.
Nói chung, thế giới quan Phật giáo là tư tưởng vô thần luận, có tính biện
chứng sâu sắc. Triết học Phật giáo cũng thể hiện tính duy tâm chủ quan, nặng về
16

HƯỚNG DẪN ÔN THI CAO HỌC TRIẾT HỌC – MÔN CƠ SỞ - THS HOĂNG NGỌC VĨNH - 2013
duy thức luận. Họ quá nhấn mạnh về sự biến đổi của sự vật hiện tượng và phủ
nhận sự đứng im tương đối của vạn vật.
b) Nhân sinh quan Phật giáo
Đây là nội dung trọng tâm của triết học Phật giáo. Những tư tưởng triết học
bản thể nói trên chỉ là nền tảng lý luận cho việc luận chứng những tư tưởng nhân
sinh thể hiện ở bốn luận điểm cơ bản trong “tứ diệu đế”.
b1) Quan niệm về con người: Phật giáo cho rằng con người không do
thượng đế sinh ra, cũng không do một đấng thiêng liêng nào tạo ra cả, mà con
người là một pháp đặc biệt của vạn pháp. Con người bao gồm phần sinh lý, tâm
lý, và là sự kết hợp của ngũ uẩn:
Phần sinh lý gồm “sắc” là thần sắc, hình tướng giới hạn trong không gian
bằng xương, thịt, da, tạo bởi bốn yếu tố (Tứ đại) là: thủy, hỏa, địa, phong. Phần
tâm lý hay tinh thần, ý thức gồm thụ, tưởng, hành, thức, được biểu thị bằng bảy
lĩnh vực tình cảm (thất tình) là: Ái, ố, nộ, hỷ, lạc, ai, dục. Phần tâm lý bao giờ
cũng nhờ, dựa vào phần sinh lý (không có tinh thần, ý thức ngoài cơ thể vật chất).
Con người cũng như vạn pháp khác của vũ trụ phải tuân thủ: sinh, trụ, dị, diệt và
thực chất là giả hợp của ngũ uẩn, do vậy con người cũng chỉ là giả - “Vô ngã”.
Con người khi chết không hết cũng chẳng còn (chấp đoạn). Phật giáo giải
thích cái chết của con người sau chết bằng thuyết “Nghiệp báo” (karma) và luân

Trong vòng tam giới (Dục, sắc, vô sắc), vạn pháp đều chịu 4 nghiệp là:
nghiệp đen (ác), nghiệp trắng (thiện), nghiệp đen và nghiệp trắng (có thiện có ác),
nghiệp không đen cũng không trắng (nghiệp vô vi của hàng đắc đạo - nghiệp vô
lậu). Ngoài ra, tùy hoàn cảnh còn có nhiều loại nghiệp khác.
Với thuyết “nhân quả” và “Nghiệp - Nghiệp báo”, Phật giáo cho rằng
không có một hành vi nào dù thiện, ác, to, nhỏ, của con người, dù được bưng bít
che đậy mà tránh khỏi “quả báo”. “Tu tâm”, “Nghiệp dần luân hồi trong lục đạo”
nói rất rõ về điều này.
Luân hồi: luân là bánh xe quay tròn, hồi là trở về. Luân hồi là nói đến vạn
pháp trong tam giới luôn luân chuyển không ngừng theo chu kỳ: Thành - trụ -
hoại - không (sinh - trụ - dị - diệt hoặc sinh - lão - bệnh - tử). Đối với con người
có thân thì có nghiệp, có nghiệp thì vào luân hồi để trả nghiệp báo.
Ba giới được hiểu theo 3 cách là vật lý, sinh lý, tâm lý; dục giới, sắc giới,
vô sắc giới; thảo mộc, động vật và quỷ thần.
b2) Quan niệm về đời người thể hiện trong Tứ Diệu Đế
“Tứ diệu đế” là nội dung chủ yếu về nhân sinh quan Phật giáo - luận điểm
về giải thoát và cứu khổ - Niết bàn.
Khổ đế : tất cả những cái có, vốn là tồn tại đều khổ. Đau khổ là quá trình
tồn tại. Đời là bể khổ “nước mắt của chúng sinh nhiều hơn nước của bốn biển”.
Những cái khổ tóm lại trong bát khổ: Sinh khổ, lão khổ, bệnh khổ, tử khổ, ái biệt
ly khổ, oán tăng hội khổ, sở cầu bất đắc khổ, thủ ngũ uẩn khổ.
Tập đế (nhân đế): Mọi cái khổ đều có nguyên nhân. Nguyên nhân của đau
khổ nằm trong trần tục là vô minh, là dục vọng. “Thập nhị nhân duyên” là những
nguyên nhân cho cái tồn tại kéo dài không ngừng và liên tục trong vòng quay
vĩnh cửu. Mười hai nguyên nhân ấy là: Vô minh, hành, thức, danh - sắc, lục
nhập, xúc, thụ, ái, thủ, hữu, sinh, lão - tử đều gây khổ. Duyên “lão - tử” vừa là kết
quả cuối của một quá trình, nhưng cũng là nguyên nhân của vòng luân hồi mới từ
vô minh của cuộc đời khác. Tất cả 12 nguyên nhân này quan hệ ràng buộc lẫn
nhau, dẫn tới cay đắng của cuộc đời.
Diệt đế: Phật giáo khẳng định cái khổ có thể diệt được. Có thể chấm dứt

quả niết bàn nhưng khước từ bước vào trạng thái yên lặng ấy, các ngài lại thường
quan tâm giúp chúng sinh khác cũng đạt tới trạng thái như vậy. Theo Đại thừa,
mọi chúng sinh đều liên kết với nhau bởi có cái chung là tâm Phật. Tất cả chúng
sinh đều là Bồ Tát, là Phật vị lai. Mỗi chúng sinh đều ẩn dấu một phần của cái
chung đó: Đức Phật tuyệt đối duy nhất. Bồ Tát tuy giúp đỡ mọi người khi mình
đã được giải thoát, nhưng không làm cho họ đắc đạo được, chỉ Đức Phật mới làm
được điều đó. Nơi nào thờ Bồ Tát thì đó là Phật giáo Đại thừa.
Đạo đế: Là những con đường chân chính dẫn đến sự giải thoát, là những
con đường tu đạo. Thực chất của những con đường này là diệt “vô minh”. Có tám
con đường gọi là “bát chánh đạo”:
. Chính ý: Tư duy, suy nghĩ đúng.
. Chính ngữ: Giữ lời nói chân chính.
. Chính kiến: Có sự hiểu biết đúng đắn, nhất là hiểu biết đúng đắn về Tứ
diệu đế.
. Chính nghiệp: Có nghiệp tà và nghiệp chính. Nghiệp tà thì tu sữa, cải tạo.
Nghiệp chính thì giữ cho vững, Thân, khẩu, ý nghiệp đều phải giữ cho chính, cho
thanh tịnh.
. Chính mệnh: Sống trung thực,cư xử đúng đắn, tiết chế dục vọng và giữ
nghiêm giới luật.
. Chính tinh tiến: Thường xuyên tích cực tiên kiên truyền bá chân lý của
Phật. Hoằng dương Phật pháp chân chính.
. Chính niệm: Thường giữ vững và nhớ Phật, niệm Phật.
19

HƯỚNG DẪN ÔN THI CAO HỌC TRIẾT HỌC – MÔN CƠ SỞ - THS HOĂNG NGỌC VĨNH - 2013
. Chính định: Tĩnh lặng tập trung và suy nghĩ về “tứ diệu đế”, “vô ngã”,
“vô thường” và “khổ”.
Tám con đường ấy qui về thực hiện ba nguyên tắc: Giới - Định - Huệ.
Giới: Giữ những điều kiêng kỵ để con người trở nên trong sạch, làm cho
thân, khẩu, ý được thanh tịnh.

chất bí truyền, lễ thức thờ phụng rờm rà phức tạp. Mật tông đã ảnh hưởng lớn
Phật giáo Việt Nam thời nhà Lý với các sư Vạn Hạnh, Từ Đạo Hạnh, Khổng
Minh Không phái này đề cao vai trò của người xuất gia tu hành, thậm chí còn
coi là hiện thân của Phật.
Tịnh độ tông: Do sư Tuệ Viễn (Viễn Công) lập ra ở Trung Quốc cuối thế
kỷ thứ IV. Phái này thờ Tam Bảo. Tam Bảo tức là ba ngôi báu: Phật (Đại giác,
đại ngộ, hiểu biết tất cả); Pháp (những giáo thuyết của Đức Phật); Tăng (những
20

HƯỚNG DẪN ÔN THI CAO HỌC TRIẾT HỌC – MÔN CƠ SỞ - THS HOĂNG NGỌC VĨNH - 2013
người xuất gia cùng hòa hợp, cùng chung nhau tu học giáo thuyết của Phật). Tam
Bảo là Phật Bảo, Pháp bảo và Tăng bảo.
Quy y tam bảo là gửi thân vào đức Phật, vào đạo Phật, vào tăng chúng của
Phật. Tức là nương theo đức Giác có đủ phước và huệ; là nương theo sự Chính
không tà kiến; là nương theo đức Tịnh không nhiễm ô trọc, không chấp nê (Như
vậy Phật tức là giác, Pháp tức là chính, tăng tức là tịnh).
Có ba thứ tam bảo là đồng thể tam bảo (3 ngôi quý đều như nhau), xuất thế
tam bảo (ba ngôi quý ra khỏi thế gian), thế gian trụ trì tam bảo (ba ngôi còn ở
trong thế gian).
Họ niệm Phật, chủ trương dựa vào Phật lực để giải thoát là chủ yếu. Điều
quan trọng không phải là nơi niệm hoặc cách niệm Phật, cái chính là giữ cho tâm
tính yên tĩnh, không vọng động, phải hướng thiện và hướng thượng, luôn nhớ
công đức cũng như lời răn dạy của Phật. Phải có niềm tin vào sự giác ngộ.
Thiền tông: Được hình thành ở Trung Quốc vào thế kỷ thứ VI. Sư tổ là Bồ
Đề Đạt Ma (Bodhidharma). Ông cho rằng giáo thuyết Phật giáo trừu tượng lại
nhiều kinh sách, người bình dân khó tiếp thu chân lý của Phật, nên ông chủ
trương tu thiền (Dhyana = yên lặng mà suy nghĩ). Tu thiền là cách tốt nhất để
thấy được tâm, tính và giác ngộ, vì Phật tại tâm, tại tính chứ không ở ngoài. Có
tu tiệm ngộ (thông qua 52 bậc mới đạt quả Phật). Có tu đốn ngộ (giác ngộ nhanh
với điều kiện người tu hành phải tạo ra được công án làm trí tuệ bừng sáng). Thật

1.2.1. HOÀN CẢNH LỊCH SỬ VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA TRUNG QUỐC
CỔ TRUNG ĐẠI
1.2.1.1. Hoàn cảnh lịch sử
Trung Quốc có diện tích 9.597.000 km
2
, chiếm gần 7% diện tích toàn cầu,
có trên 60 dân tộc trong đó dân tộc Hán chiếm 90% dân số cả nước.
- Trung Quốc cộng sản nguyên thủy bắt đầu từ thời “Tam Hoàng”, “Ngũ
Đế”
1
. Theo “Sử ký” của Tư Mã Thiên thì tam hoàng là Thiên Hoàng, Địa Hoàng
và Nhân Hoàng. Nhưng theo “Thượng thư đại truyện” thì tam hoàng là Toại
Nhân, người phát hiện ra lửa; Phục Hy, người phát hiện ra lưới săn bắt và biết
cách chăn nuôi gia súc; Thần Nông, ông tổ của nghề cày cấy, trồng trọt. Sau đó là
thời kỳ đồ gốm với các ngũ đế: Hoàng Đế, Chuyên Húc, Đế Cốc, Đường Nghiêu,
Ngu Thuấn (Vua Nghiêu truyền ngôi cho vua Thuấn không theo cha truyền con
nối) thời kỳ này được tính từ 4477 tcn - thế kỷ XXV tcn.
- Xã hội chiếm hữu nô lệ Trung Quốc được hình thành từ nhà Hạ, phát triển
qua nhà Ân-Thương đến nhà Chu, tức từ thế kỷ XXV tcn đến thế kỷ III tcn. Đây
là thời kỳ xã hội Trung Quốc có rất nhiều biến động:
+ Ở thế kỷ XXI tcn, nhà Hạ ra đời đánh dấu sự mở đầu của chế độ chiếm
hữu nô lệ ở Trung Quốc. Giai đoạn này người Trung Quốc đã biết khai thác, sáng
chế, sử dụng các công cụ bằng đồng và đã có dấu hiệu sự ra đời của văn tự.
+ Ở thế kỷ XVII tcn, Thành Thang lật đổ vua Kiệt của nhà Hạ lập nên nhà
Thương đặt kinh đô ở đất Bạc (thuộc tỉnh Hà Nam ngày nay), đến thế kỷ XIV thì
dời đô về đất Ân (cũng thuộc tỉnh Hà Nam ngày nay). Thời Ân - Thương nông
nghiệp là ngành sản xuất chủ yếu, công cụ bằng đồng được sử dụng rộng rãi, chữ
viết đã xuất hiện, thiên văn phát triển. Người Trung Quốc đã biết dùng 12 chi và
10 can để sáng tạo ra lịch phục vụ nông nghiệp.
+ Ở thế kỷ XI tcn, Chu Vũ Vương lật đổ vua Trụ của nhà Ân - Thương lập

1.2.1.2. Quá trình hình thành và phát triển của triết học Trung Quốc
cổ trung đại
Từ thời Tam hoàng - Ngũ đế cho đến đầu Đông Chu, Trung Quốc đã xuất
hiện các biểu tượng tôn giáo như đế, thượng đế, thiên mệnh, quỷ, thần, âm dương,
ngũ hành đã tạo điều kiện cho sự phát triển triết học Trung Quốc trong thời Đông
Chu.
Thời Đông Chu, về kinh tế có sự tan rã của mô hình kinh tế “tỉnh điền” (sở
hữu ruộng đât thuộc về nhà nước, quyền sử dụng ruộng đất được phân chia cho
các thành viên công xã thông qua các cơ sở công xã). Sự tan rã này làm xuất hiện
một lực lượng chính trị mới - Địa chủ - đối lập với tầng lớp quý tộc thị tộc cũ.
Về chính trị - xã hội, đây là thời kỳ phân hóa giai cấp và đấu tranh giai cấp
quyết liệt, chiến tranh triền miên.
Thực chất đây là giai đoạn chế độ chiếm hữu nô lệ suy tàn, Trung Quốc bắt
đầu chuyển sang chế độ phong kiến. Là thời kỳ mà các giá trị đạo đức bị đảo lộn
căn bản: cái cũ chưa mất hẳn, cái mới vừa xuất hiện chưa được khẳng định.
Thực tế này đã đặt ra một loạt các vấn đề xã hội và triết học buộc các nhà
tư tưởng phải lý giải như làm thế nào để thống nhất Trung Quốc? Vì sao thời nào
cũng có hưng, vong, trị, loạn? Bản chất con người là gì? Nguyên lý nào chi phối
vạn vật? Hành động thế nào để không trái đạo trời, không trái bản tính tiên
thiên? Hoàn cảnh kinh tế - chính trị đặc biệt này đã làm nảy sinh hàng loạt các
nhà triết học, các trường phái triết học đa dạng, phong phú.
1.2.1.3. Triết học Trung Quốc cổ đại có những đặc trưng sau đây
1. Nó được hình thành rất sớm ngay từ cuối thiên niên kỷ thứ II tcn và phát
triển rực rỡ vào thời Đông Chu.
23

HƯỚNG DẪN ÔN THI CAO HỌC TRIẾT HỌC – MÔN CƠ SỞ - THS HOĂNG NGỌC VĨNH - 2013
2. Triết học Trung Quốc cổ đại rất phong phú đa dạng và đã đề cập đến hầu
hết các lĩnh vực khác nhau của triết học như thế giới quan, nhân sinh quan, nhận
thức luận, đạo đức, chính trị - xã hội, lôgíc học, phương pháp trị nước

Kinh Lễ, Kinh Dịch và Kinh Xuân Thu.
Trong hệ thống ngũ kinh, theo tương truyền “kinh Xuân Thu” do chính
Khổng tử biên soạn. Theo “Sử ký” của Tư Mã Thiên thì người đời sau khen Khâu
hay chê Khâu là căn cứ vào kinh Xuân Thu. Theo tương truyền, Khổng tử cũng là
người đã chỉnh lý, biên soạn các bộ kinh Thư, kinh Dịch Ông đã bổ sung vào
kinh Dịch mười thiên (gọi là thập dực). Như vậy, Khổng tử là bậc đại trí thức
đương thời, ông thông thái mọi tri thức hiện có của người Trung Quốc cổ đại và
tập hợp thành một hệ thống.
a). Những tư tưởng triết học cơ bản của Nho giáo cổ đại
24

HƯỚNG DẪN ÔN THI CAO HỌC TRIẾT HỌC – MÔN CƠ SỞ - THS HOĂNG NGỌC VĨNH - 2013
Trung tâm của tư tưởng triết học Nho giáo cổ đại không là những tư tưởng
triết học về bản thể, về vũ trụ. Mối quan tâm hàng đầu của Khổng tử không phải
là đạo Trời, mặc dù một số lần ông có nhắc đến Thiên mệnh và nói đến quỷ thần.
Điều mà Khổng tử đặc biệt chú ý giải quyết là những vấn đề triết học về đạo
Người (Nhân đạo). Nói theo ngôn ngữ hiện đại thì điều Khổng tử quan tâm là
những quan niệm triết học về xã hội con người. Có lần học trò hỏi ông về quỷ
thần và cuộc sống của con người sau khi chết, ông trả lời ”Kính quỷ thần nhi viễn
chi” (quỷ thần chỉ nên kính trọng nhưng chớ có gần); rằng “hãy đợi đến khi chết
cũng chưa muộn”; rằng “đạo người chưa biết sao tỏ được việc quỷ thần” Điều
này cho thấy Khổng tử nặng lo đạo Người hơn đạo Trời và việc quỷ thần. Điều ấy
cũng phản ánh những ảnh hưởng chính trị - xã hội của thời Xuân Thu đặc biệt rõ
nét trong triết học Khổng tử.
Có quan niệm đánh giá không coi Khổng tử là nhà triết học mà chỉ xem
ông như một nhà giáo dục, một người dạy học, một quân sư về chính trị đương
thời. Quả là Khổng tử đã từng là thầy dạy học và nêu tấm gương sáng cho đạo
làm thầy mãi muôn đời sau. Ông cũng đã từng làm chính trị, làm quan, làm tể
tướng trong một thời gian ngắn và ông đúng là người đã đào tạo nhiều nhà chính
trị xuất sắc đương thời cũng như sau này. Ông có những tư tưởng chính trị độc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status