CHƯƠNG 2 : TỔNG QUAN VỀ CÁC LOẠI MÁY BÀO
2.1. Phân loại và ký hiệu máy bào.
- Máy bào dùng để gia công các mặt phẳng nằm ngang,
thẳng đứng và mặt phẳng nghiêng. Nó cũng gia công
mặt đònh hình là sự kết hợp các mặt phẳng dưới những
góc khác nhau; các mặt đònh hình có profile là những
cung tròn hoặc những đường cong phức tạp hơn cũng
có thể gia công được trên máy bào.
- Trên máy bào có thể gia công những chi tiết rất nhỏ
lẫn những chi tiết rất lớn, phôi rèn, phôi đúc và những
kết cấu hàn có chiều dài đến 12m, chiều rộng tới 6m
và chiều cao tới 3m trọng lương những chi tiết như vậy
có thể tới 200 tấn.
- Phụ thuộc vào loại hình công việc thực hiện mà có thể
chia tất cả các loại máy bào thành hai nhóm cơ bản :
máy có công dụng chung( vạn năng ) và máy chuyên
môn hoá ( chuyên dùng ).
+ Máy có công dụng chung gồm máy bào ngang và
máy bào dọc ( máy vào giường ).
+ Máy chuyên môn hóa gồm máy bào ngang có giá
dao chuyển động( để gia công những chi tiết nặng ),
máy bào giường( gia công những chi tiết rất to và
nặng ) và các máy bào cạnh( gia công cạnh của
những tấm lớn và những chi tiết khác ). Loại máy
chuyên dùng chỉ đễ gia công những chi tiết nhất đònh,
chủ yếu dùng trong sản xuất hàng khối.
- Để ký hiệu máy cắt kim loại, theo theo tiêu chuẩn
Nga (Liên Xô cũ) người ta dùng một hệ thống chỉ số.
Các máy sản xuất ở Liên Xô được chia thành 9 nhóm,
mỗi nhóm được chia thành 9 kiểu và mỗi kiểu được
chia thành các cỡ. Tương tự như trên theo TCVN việc
).
2.2. Kết cấu của máy bào ngang.
Trong tập báo cáo này chủ yếu trình bày những vấn đề
cơ bản về kiểu máy bào ngang, các kiểu máy bào giường
và các máy chuyên dùng khác xin được phép không được
trình bày cụ thể ở đây.
Dưới đây là hai sơ đồ động học thường gặp của cơ cấu
chấp hành trên máy bào ngang. Các bộ phận cơ bản của
máy bào ngang dùng cơ cấu culit cần lắc để tạo chuyển
động tònh tiến ngang cho đầu bào.
- Chi tiết gia công được kẹp chặt trên bàn máy, tựa trên
các mặt phẳng nằm ngang và thẳng đứng qua các rãnh
chữ T, dao bào được gá chặt trong giá dao và trên bàn
dao.
- Chuyển động cắt chính ( chuyển động tònh tiến qua lại
được truyền cho đầu trượt mang dao bào.
- Chuyển động chạy dao khi bào các mặt phẳng nằm
ngang được truyền cho chi tiết gia công cùng với bàn
máy dòch chuyển theo sống trượt của bàn ngang.
- Khi bào các mặt phẳng đứng và mặt phẳng nghiêng,
chạy dao được thực hiện bằng sự di chuyển của bàn
dao theo sống trượt đứng. Chạy dao thẳng đứng cũng
có thể thực hiện bằng cách di chuyển bàn ngang theo
sống trượt
- Đế máy có dạng hộp được đúc bằng gang, được gá
chặt với nền bằng bulông. Mép trong phải bảo đảm
cho đế máy có độ bền và độ cứng vững cần thiết. Ở
mặt trên đế máy có sống trượt phẳng nằm ngang dạng
đuôi én. Đầu bào sẽ chuyển động theo các sống trượt
này, một trong những tấm gá trên sống trượt có thể
chốt thì góc lắc của cần lắc culit tăng lên, do đó chiều
dài hành trình của đầu bào cũng tăng lên.
- Điều chỉnh tầm của đầu bào đối với chi tiết gia công,
nghóa là điểm đầu và điểm cuối của dao được thực
hiện bằng cách di chuyển con trượt trên đối với đầu
bào.
Các cơ cấu chạy dao:
Chuyển động chạy dao ngang và thẳng đứng của máy
bào là chuyển động gián đoạn. Chúng được thực hiện
vào cuối hành tròch của đầu bào trước khi dao cắt vào
kim loại của chi tiết gia công. Các bộ phận cơ bản của
cơ cấu chạy dao bao gồm :
- Đầu bào và bàn dao.
- Bàn dao ngang và bàn máy.
- Cơ cấu chạy dao ngang tự động.
- Cơ cấu chạy dao thẳng đứng tự động.