Quản trị kinh doanh quốc tế tìm hiểu về APEC - Pdf 16


HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH I


KINH DOANH QUỐC TẾ
TÌM HIỂU VỀ APEC
Giảng viên : GS.TS.NGƯT Bùi Xuân Phong
Nhóm : 4
Lớp : D10QTDN2
Thành viên :
1. Bùi Thị Vân Anh (NT)
2. Bùi Thị Cúc
3. Trương Ngọc Anh
4. Đoàn Phú Cường
5. Nguyễn Thị Duyên
6. Bá Thị Mỹ Linh
7. Lương Hồng Phương
8. Phạm Minh Tuấn
Năm 2014
NHÓM 1 QTDN2
MỤC LỤC
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ APEC
1. Quá trình hình thành và phát triển của APEC
1.1 Khái niệm
Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương ( ASIA - PACIFIC
ECONOMIC COOPERATION ) là tổ chức kinh tế của các quốc gia nằm trong khu
vực Châu Á – Thái Bình Dương, với mục tiêu tăng cường mối quan hệ về kinh tế
chính trị.
1.2 Lịch sử hình thành
Từ cuối những năm 1970, đặc biệt là trong những năm 1980, sự tăng trưởng kinh tế

tương đối về chính trị, và là một khu vực năng động và có nhịp độ tăng trưởng kinh tế
cao nhưng chưa có một hình thức liên kết nào có tính chất chính thức, liên chính phủ
và toàn khu vực để bảo đảm lợi ích của các nước trong khu vực trước sự gia tăng ngày
càng mạnh của chủ nghĩa khu vực bảo hộ ở Tây Âu và Bắc Mỹ.
Từ những năm 1970 -1980, nhất là cuối những năm 1980, trong khu vực châu Á -
Thái Bình Dương đã thấy rõ xu thế là các nền kinh tế ngày càng tuỳ thuộc lẫn nhau
một cách chặt chẽ hơn về nhiều mặt. Chỉ nói riêng về thương mại, năm 1989, xuất
khẩu hàng hóa của các nước châu Á - Thái Bình Dương sang Mỹ chiếm 25,8% tổng
giá trị xuất khẩu của họ, trong khi đó xuất khẩu của Mỹ sang châu Á - Thái Bình
Dương chiếm 30,5% tổng giá trị xuất khẩu của Mỹ. Xuất khẩu của Nhật Bản sang các
nước châu Á - Thái Bình Dương chiếm 33% tổng kim ngạch xuất khẩu của Nhật Bản
và giá trị xuất khẩu của châu Á - Thái Bình Dương sang Nhật Bản chiếm 9,8% tổng
kim ngạch xuất khẩu của các nước này. Xuất khẩu của Nhật Bản sang Mỹ chiếm
34,2% giá trị xuất khẩu của Nhật Bản và xuất khẩu của Mỹ sang Nhật Bản chiếm
12,3% tổng giá trị xuất khẩu của Mỹ. Sự tuỳ thuộc lẫn nhau ngày càng tăng về kinh tế
đã tạo ra một lực gắn kết, một nhu cầu phối hợp giữa các nền kinh tế trong khu vực với
nhau.
Như vậy, chính sự tăng trưởng cao liên tục và phát triển của nền kinh tế ở khu vực
châu Á - Thái Bình Dương, xu thế toàn cầu hóa và khu vực hóa cũng như sự tuỳ thuộc
lẫn nhau ngày càng tăng giữa các nền kinh tế đã đặt ra yêu cầu khách quan, cấp bách
cho việc hình thành một diễn đàn mở rộng trong khu vực nhằm phối hợp chính sách về
các lĩnh vực kinh tế, thúc đẩy tự do hóa và khuyến khích thương mại hàng hoá, dịch vụ
và đầu tư, tăng cường hợp tác kinh tế, khoa học - công nghệ giữa các nền kinh tế ở
châu Á - Thái Bình Dương, qua đó duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và bảo đảm
sự phát triển bền vững của khu vực châu Á - Thái Bình Dương khi bước vào thế kỷ
XXI.
1.3 Thành viên
Giảng viên: GS.TS.NGƯT Bùi Xuân Phong Trang 3
NHÓM 1 QTDN2
Từ khi được thành lập cho tới nay APEC gồm 21 thành viên trong đó

quy chế thành viên của APEC, quy định các nước, các vùng lãnh thổ kinh tế muốn trở
thành thành viên của APEC cần phải có đủ một số điều kiện sau:
- Vị trí địa lý: nằm ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, tiếp giáp với bờ biển
Thái Bình Dương.
- Quan hệ kinh tế: có các mối quan hệ chặt chẽ với các nền kinh tế thành viên
APEC về thương mại hàng hóa và dịch vụ, và đầu tư trực tiếp nước ngoài.
- Tương đồng về kinh tế: chấp nhận chính sách kinh tế mở cửa theo hướng thị
trường.
- Quan tâm và chấp thuận các mục tiêu của APEC: hoàn toàn chấp thuận
những mục tiêu và nguyên tắc cơ bản được đề ra trong các tuyên bố và quyết định của
APEC, kể cả nguyên tắc đồng thuận và tự nguyện.
2. Cơ cấu tổ chức
Giảng viên: GS.TS.NGƯT Bùi Xuân Phong Trang 5
Hội nghị các nhà
lãnh đạo
Hội nghị bộ
trưởng chuyên
ngành
Hội đồng tư vấn
doanh nghiệp
Hội nghị Liên Bộ
trưởng Ngoại giao
NHÓM 1 QTDN2
Cấp chính sách Cấp chuyên viên
2.1 Cấp chính sách
Phát triển chính sách: Định hướng chính sách của APEC được đưa ra bởi 21
lãnh đạo kinh tế thành viên. Chiến lược này được đề xuất bởi các Hội đồng tư vấn kinh
tế APEC và được xem xét bởi các lãnh đạo kinh tế của APEC. Những hội nghị này
được tổ chức thường niên nhằm hoàn thiện cơ cấu chính sách và pháp luật của APEC.
• Hội nghị các lãnh đạo kinh tế APEC: Được tổ chức hàng năm do mỗi thành viên của

Ủy ban Thương mại
và đầu tư (CTI)
Các nhóm
công tác
Các nhóm đặc
trách của SOM
Ủy bạn quản lý và
ngân sách (BMC)
NHÓM 1 QTDN2
trình Hội nghị Bộ trưởng về các vấn đề tổ chức chương trình hoạt động của APEC,
chương trình hành động tiến tới tự do hóa thương mại và đầu tư, kế hoạch hành động
của các nền kinh tế thành viên và các chương trình hợp tác kinh tế khoa học – công
nghệ của APEC, xem xét và điều phối ngân sách và chương trình công tác của các Ủy
ban, các Nhóm công tác và Nhóm đặc trách.
Trước hội nghị quan chức cao cấp sẽ có các cuộc họp của các Nhóm công tác
liên quan gồm đại diện cho các thành viên APEC để chuẩn bị những nội dung cần thiết
báo cáo lên Hội nghị các quan chức cao cấp. Hội nghị các quan chức cao cấp có trách
nhiệm thúc đẩy tiến trình APEC phù hợp với các quyết định của hội nghị các nhà lãnh
đạo kinh tế, Hội nghị Bộ trưởng và các chương trình hành động thông qua các hội nghị
này.
- Ủy ban thương mại và đầu tư:
Ủy ban thương mại và đầu tư ( CTI ) được thành lập năm 1993 trên cơ sở tuyên
bố về “ Khuôn khổ về hợp tác và đầu tư ” của Hội nghị Bộ trưởng. Ủy ban thương mại
và đầu tư có nhiệm vụ thúc đẩy hợp tác kinh tế về tự do hóa thương mại và tạo môi
trường đầu tư cởi mở hơn giữa các nền kinh tế thành viên. Ủy ban thương mại và đầu
tư soạn thảo báo cáo hàng năm trình Hội nghị Bộ trưởng về các vấn đề có liên quan
đến thương mại và đầu tư trong khu vực đồng thời chỉ đạo các tiểu ban kỹ thuật và
nhóm có chuyên gia trong việc giải quyết các vấn đề cụ thể. Hàng năm Uỷ ban thương
mại và đầu tư nhóm họp 3 lần và đây thực sự đã trở thành Diễn đàn kinh tế hiệu quả
đối với các nước thành viên để trao đổi các vấn đề thưong mại và chính sách.

Tự do hóa, Thuận lợi hóa Thương mại và Đầu tư.
- Các nhóm công tác:
Các nhóm công tác có chức năng thực hiện nhiệm vụ do các Nhà lãnh đạo, Bộ
trưởng và quan chức cao nhất giao cho. Cho tới nay, APEC đã lập ra 11 nhóm công tác
phụ trách các lĩnh vực sau: Hợp tác kỹ thuật nông nghiệp, năng lượng, nghề cá, phát
triển nguồn nhân lực, khoa học và công nghệ, bảo vệ tài nguyên biển, doanh nghiệp
vừa và nhỏ, thông tin và viễn thông, du lịch, xúc tiến thương mại, vận tải. Phần lớn
hoạt động của Nhóm là khảo sát tiềm năng phát triển và thúc đẩy sự tăng trưởng trong
các lĩnh vực do từng nhóm phụ trách. Thông qua các hoạt động này, các thành viên
APEC xây dựng những mối liên hệ thực sự giữa các đại diện chính giới, giới doanh
nghiệp và học giả.
Hoạt động của các Uỷ ban chuyên đề, các nhóm đặc trách của SOM và các nhóm
công tác là nền tảng chủ yếu của diễn đàn APEC. Thực tế, đây là những diễn đàn nhỏ
để các thành viên thảo luận, tư vấn chính sách và hợp tác trên các lĩnh vực cụ thể.
Những nghiên cứu của các nhóm đặc trách, các chương trình hợp tác do các nhóm
công tác soạn thảo là cơ sở chủ yếu để Hội nghị Bộ trưởng đưa ra các quyết định liên
quan đến phương hướng hoạt động của APEC.
- Các nhóm đặc trách của SOM.
Bên cạnh các nhóm công tác, hội nghị Quan chức Cao Cấp ( SOM ) đã lập ra 3
nhóm đặc trách nhằm xác định các vấn đề và đưa ra các khuyến nghị về những lĩnh
vực quan trọng cần xem xét trong khuôn khổ hợp tác của APEC. Hiện đang có 3 nhóm
đặc trách của SOM:
+ Nhóm đặc trách về mạng các điểm liên hệ về giới được thành lập từ năm 2003
nhằm tiếp tục các chương trình về hội nhập thế giới và thúc đẩy sự tham gia của nữ
giới vào các hoạt động Thương mại trong khu vực APEC.
Giảng viên: GS.TS.NGƯT Bùi Xuân Phong Trang 8
NHÓM 1 QTDN2
+ Nhóm đặc trách về thương mại điện tử được thành lập từ tháng 2 năm 1999 với
vai trò phối hợp và thúc đẩy các hoạt động hợp tác thương mại của APEC thông qua
hệ thống các quy định, luật lệ, chính sách minh bạch và nhất quán.

nghị của các nhà lãnh đạo 21 thành viên. Các nhà lãnh đạo APEC là người đưa ra định
hướng chính sách của APEC. Các bộ trưởng và hội đồng tư vấn doanh nghiệp đệ trình
lên các nhà lãnh đạo các vấn đề mang tính chiến lược. Các hoạt động và dự án của
APEC ở cấp chuyên viên do các quan chức cao cấp APEC định hướng và được thực
hiện thông qua Ủy ban thương mại và đầu tư, Ủy ban kinh tế, Ủy ban Quản lý và Ngân
sách, ban chỉ đạo (SOM ) về hợp tác kinh tế và kỹ thuật. Các tiểu ban, nhóm chuyên
gia, nhóm công tác và nhóm đặc trách có trách nhiệm triển khai những hoạt động do 4
ủy ban này đề ra.
Giảng viên: GS.TS.NGƯT Bùi Xuân Phong Trang 9
NHÓM 1 QTDN2
4. Mục tiêu và nguyên tắc hoạt động
4.1. Mục tiêu
Mục tiêu hoạt động chính của APEC được thể hiện thông qua Tuyên bố của
Hội nghị Cấp cao đầu tiên APEC được tổ chức tại Baske Island ( 1993) và tuyên bố
Bô-go (1994). Theo Tuyên bố Baske Island, mục tiêu dài hạn của APEC là thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế và sự thịnh vượng cho khu vực và phát triển cộng đồng Châu Á –
Thái Bình Dương.
Trên cơ sở mục tiêu dài hạn đó, Tuyên bố Bô-go 1994 của các nhà Lãnh đạo
APEC đã xác định mọi hoạt động của APEC nhằm thực hiện 3 mục tiêu lớn sau đây,
hay gọi là mục tiêu Bô-go:
- Củng cố hệ thống thương mại đa phương: APEC sử dụng đầy đủ các nguyên
tắc và kết quả của WTO để thự hiện các vòng đàm phán nội bộ khối và phát triển
những kết quả vì mục tiêu tự do hóa hơn trong nội bộ khối.
- Tăng cường tự do hóa thương mại và đầu tư: thúc đẩy và phát triển quan hệ
thông qua việc loại bỏ những hạn chế về thương mại và đầu tư, xúc tiến trao đổi hàng
hóa và dịch vụ, tư bản giữa các nền kinh tế. Mốc thời hạn tự do hóa thương mại và đầ
tư của APEC là năm 2010 đối với các thành viên phát triển và năm 2020 đối với các
thành viên đang phát triển.
- Tăng cường hợp tác kinh tế – kĩ thuật giữa các nền kinh tế APEC nhằm bảo
đảm cho các nền kinh tế thành viên thực hiện có hiệu quả các cam kết quốc tế.

- Quan hệ đối tác chân thành và trên tinh thần xây dựng.
- Mọi quyết định được đưa ra trên cơ sở đồng thuận, nhất trí chung.
Các nguyên tắc chung này đã được cụ thể hóa thành 9 nguyên tắc cơ bản sau:
- Toàn diện.
- Phù hợp với Tổ chức Thương mại Thế giới ( WTO ).
- Đảm bảo mối tương đồng giữa các thành viên.
- Không phân biệt đối xử.
- Đảm bảo công khai, minh bạch.
- Lấy mức bảo hộ hiện tại làm mốc để giảm dần.
- Đồng loạt triển khai tiến trình tự do hóa, thuận lợi hóa thương mại và đầu tư.
- Có sự linh hoạt.
- Hợp tác.
5. Phạm vi hoạt động.
Các hoạt động của APEC dựa trên 3 trụ cột chính như sau:
- Tự do hóa thương mại và đầu tư.
- Tạo thuận lợi cho doanh nghiệp.
- Hợp tác kinh tế và kĩ thuật.
Giảng viên: GS.TS.NGƯT Bùi Xuân Phong Trang 11
NHÓM 1 QTDN2
Kết quả hoạt động trên ba lĩnh vực này giúp các nền kinh tế thành viên APEC
củng cố nền kinh tế của mình thông qua việc chia sẻ ý kiến và thúc đẩy hợp tác trong
khu vực nhằm đạt được hiệu quả và tăng trưởng.
- Tự do thương mại và đầu tư tập trung vào việc mở cửa thị trường, cắt giảm và
dần dần dẫn đến loại bỏ hoàn toàn các rào cản thuế và phi thuế đối với thương mại và
đầu tư. Các biện pháp tự do hóa đã dẫn tới việc cắt giảm khá lớn các loại thuế suất.
Mức thuế suất khẩu trung bình của các nền kinh tế thành viên APEC đã giảm đáng kể,
từ 16,6% năm 1989 xuống còn 5,5 % năm 2004. tất cả các nền kinh tế phát triển của
APEC hiện tại đều có mức thuế suất trung bình thấp hơn 5%.
- Tạo thuận lợi cho doanh nghiệp tập trung vào việc giảm chi phí giao dịch.
APEC phấn đấu mục tiêu cắt giảm 5% chi phí giao dịch vào năm 2006 (dựa trên các số

các rào cản phi thuế quan, tăng cường cải cách các cơ chế quản lý “sau biên giới”,
v.v Các thành viên cũng nhấn mạnh APEC cần có chiến lược hỗ trợ kỹ thuật để giúp
các nền kinh tế đang phát triển thực hiện các mục tiêu Bô-go vào năm 2020.
6.2. Tạo thuận lợi cho kinh doanh.
APEC đã tiến hành nhiều biện pháp nhằm thuận lợi hóa kinh doanh bao gồm:
cắt giảm 5% chi phí giao dịch kinh doanh giai đoạn 2001- 2006 (Chương trình hành
động thuận lợi hóa thương mại - TFAP I) và đang triển khai TFAP II giai đoạn 2006-
2010; triển khai Kế hoạch hành động về Thuận lợi hóa kinh doanh với mục tiêu đưa
hoạt động kinh doanh rẻ hơn, nhanh hơn và đơn giản hơn 25% trước năm 2015; thực
hiện Chương trình thẻ đi lại cho doanh nhân ABTC; thúc đẩy Kế hoạch hành động hạ
thấp các rào cản đối với dây chuyền cung ứng với mục tiêu cải thiện 5% hoạt động của
dây chuyền cung ứng vào năm 2015; và thúc đẩy Chiến lược đầu tư APEC. Đặc biệt,
APEC đang xây dựng Chiến lược mới về cải cách cơ cấu, dự kiến sẽ thông qua tại
HNCC 18 lần này.
6.3. Kinh tế và hợp tác kỹ thuật.
ECOTECH là một trong những trọng tâm hợp tác của APEC và được các thành
viên đang phát triển coi trọng. Hợp tác ECOTECH nhằm 2 mục đích lớn đó là: Giúp
tăng cường năng lực để các thành viên tận dụng tốt cơ hội do quá trình tự do hóa mang
lại, và Góp phần thúc đẩy tự do hóa thương mại và đầu tư trong khu vực. Theo đó, bên
cạnh các mục tiêu dài hạn, APEC đã xác định 5 lĩnh vực ưu tiên trung hạn gồm: liên
kết kinh tế khu vực, giải quyết các vấn đề xã hội của toàn cầu hóa, bảo đảm chất lượng
cuộc sống, cải cách cơ cấu, và an ninh con người. Với hàng nghìn dự án đã được triển
khai, hợp tác ECOTECH tập trung vào việc chia sẻ thông tin và kinh nghiệm hoạch
định chính sách, xây dựng thông lệ chính sách tốt nhất, tổ chức đào tạo, hội thảo nâng
cao nhận thức và năng lực xử lý các vấn đề chính sách và kỹ thuật cho các nền kinh tế
thành viên.
6.3. Về an ninh con người
Trước những thách thức toàn cầu đang nổi lên, những năm gần đây nội dung
hợp tác của APEC được mở rộng thêm nhiều lĩnh vực mới như an ninh lương thực, đối
phó với tình trạng khẩn cấp, chống khủng bố, an ninh năng lượng, v.v Trong những

từ ba trụ cột hợp tác ban đầu về tự do hóa, thuận lợi hóa thương mại, đầu tư và hợp tác
kinh tế kỹ thuật, APEC đã không ng ừng mở rộng nội dung hợp tác nhằm đáp ứng các
yêu cầu về phát triển trong từng giai đoạn. Hợp tác về an ninh con người và ứng phó
với các thách thức toàn cầu trở thành một trong những ưu tiên trong chương trình nghị
sự của APEC, bao gồm chống chủ nghĩa khủng bố, ứng phó với biến đổi khí hậu, thiên
tai và tình trạng khẩn cấp, giải quyết các thách thức an ninh lương thực-nước-năng
lượng, hợp tác giáo dục
Để đối phó với khủng hoảng kinh tế toàn cầu, APEC đã và đang thúc đẩy
chuyển sang mô hình tăng trưởng xanh và bền vững, tăng cường kết nối khu vực, tích
cực triển khai Chiến lược tăng trưởng mới với 5 nội hàm là cân bằng, đồng đều, bền
vững, đổi mới và an toàn.
Vài năm trở lại đây, trong bối cảnh kinh tế thế giới phục hồi chậm, tập hợp lực
lượng và xu thế liên kết đa tầng nấc trong khu vực đang có những biến chuyển sâu sắc
và nhanh chóng, hơn lúc nào hết, APEC tiếp tục khẳng định vai trò đầu tàu của mình,
đóng góp vào việc thúc đẩy hệ thống thương mại đa phương và sự phát triển năng
động của châu Á-Thái Bình Dương.
7. Khó khăn và thách thức
Sự xuất hiện của nhiều vấn đề an ninh phi truyền thống (khủng bố, dịch bệnh,
thiên tai, an ninh năng lượng, an toàn thực phẩm…), và mặt trái của toàn cầu hóa với
sự gia tăng khoảng cách kinh tế và công nghệ giữa các nền kinh tế thành viên. Hơn
nữa, APEC đã và đang phải đối mặt với một thách thức lớn là hiệu quả hoạt động chưa
cao, chưa đáp ứng được những biến động của tình hình, cũng như chưa phát huy tối đa
được vị thế của mình so với các diễn đàn và cơ chế khác trong khu vực. Nếu như
những năm qua, mục tiêu Bô-go luôn luôn là đích phấn đấu của các nền kinh tế thành
Giảng viên: GS.TS.NGƯT Bùi Xuân Phong Trang 14
NHÓM 1 QTDN2
viên, thì đường lối và chiến lược sau năm 2020 của APEC được coi là một trong
những thách thức lớn nhất của diễn đàn.
Để vượt qua những thách thức mới, nhất là trong bối cảnh hậu khủng hoảng,
APEC đang nỗ lực thúc đẩy hợp tác, phối hợp hành động thông qua các Kế hoạch

chi phí sản xuất cao, sản phẩm có sức cạnh tranh thấp…việc sử dụng các nguồn lực
như đất đai, tài nguyên, lao động kém hiệu quả. Khoảng cách về trình độ phát triển của
nước ta với các nước trong khu vực và thế giới chậm và bị thu hẹp. Để khắc phục nguy
cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa Việt Nam và các
nước, ngoài việc phát huy nguồn lực bên trong ta cần phải tranh thủ các nguồn lực bên
ngoài, trong đó việc tham gia vào các tổ chức thương mại trong khu vực và thế giới có
ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
1.2 Mục tiêu của Việt Nam khi gia nhập APEC.
- Thực hiện chủ trương tăng cường hội nhập kinh tế để mở đường cho thương
mại phát triển:
+ Mở rộng thị trường xuất khẩu cho hàng hóa Việt Nam gia nhập thị trường các nước,
đẩy mạnh xuất khẩu, tạo điều kiện thu hút đầu tư trong và ngoài nước, thúc đẩy quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
+ Phát huy lợi thế so sánh, nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa và dịch vụ thương
mại, đảm bảo nền kinh tế tăng trưởng cao và bền vững.
+ Tham gia hợp tác có chọn lọc các hoạt động thiết thực để góp phần giảm bớt rào cản
cho hàng xuất khẩu của ta, giảm chi phí kinh doanh cho các doanh nghiệp.
- Tham gia APEC để tận dụng sự ủng hộ của các thành viên khu vực trong quá
trình đàm phán gia nhập WTO.
- Tham gia APEC nhằm tạo điều kiện cho cán bộ làm công tác hoạch định chính
sách và tham gia đàm phán quốc tế cũng như cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam có cơ
Giảng viên: GS.TS.NGƯT Bùi Xuân Phong Trang 16
NHÓM 1 QTDN2
hội cọ xát, tập dượt trong diễn đàm khu vực trước khi chính thức ra nhập ASEAN và
WTO.
- Tham gia APEC để tăng cường thế lực của việt Nam trên trường quốc tế, đặc
biệt là củng cố vị thế và mối quan hệ kinh tế, thương mại giữa Việt Nam và các nước
trong khu vực.
1.3. Quá trình Việt Nam gia nhập APEC.
Ngày 15-06-1996, Việt Nam đã chính thức gửi đơn xin gia nhập APEC do bộ

thuế suất trung bình thấp hơn 5%.
Có thể thấy trong thập kỷ đầu tiên kể từ khi thành lập, các nền kinh tế thành
viên APEC đã tạo ra xấp xỉ 70% tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Khu vực APEC đã liên
tục có sự phát triển kinh tế vượt trội so với các khu vực khác trên thế giới, ngay cả
trong thời gian diễn ra khủng hoảng tài chính Châu Á. Các thành viên hợp tác nhằm
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua cam kết cải cách kinh tế và tiến tới thương mại,
đầu tư an toàn, tự do và thông thoáng hơn. Qua nhiều chương trình, các thành viên đã
liên tục giảm thuế suất và xử lý các rào cản thương mại sau biên giới (behing the
border issues), đáp ứng ngày càng tốt hơn các nhu cầu của doanh nghiệp trong khi vực
và tạo điều kiện cho việc kinh doanh dễ dàng với chi phí rẻ hơn. Thông qua các
chương trình về hài hòa tiêu chuẩn, APEC đã xây dựng những thỏa thuận thừa nhận
lẫn nhau trong nhiều lĩnh vực như thiết bị viễn thông, thiết bị điện tử, thực phẩm và đồ
chơi. Những thỏa thuận này đã giúp giảm 15% chi phí dành cho việc đầu tư các thiết
bị kiểm tra và chứng nhận cũng như nhận lực cho việc tiến hành kiểm tra chất lượng
sản phẩm.
Bên cạnh đó, chương trình Thẻ đi lại của doanh nhận là một bước tiến lớn trong
việc thuận lợi cho việc đi lại của các doanh nhân trong khu vực. Với thẻ này, các
doanh nhân có thể tiết kiệm khá nhiều thời gian, công sức do không còn phải xin thị
thực nhập cảnh vào các thành viên APEC đồng thời được hưởng một lối nhập cảnh đặc
biệt dành cho doanh nhân APEC tại các cảnh hàng không quốc tế lớn. Ngoài ra, nhằm
tạo thuận lợi cho kinh doanh qua mạng trong thời đại kỹ thuật số, APEC cũng đang
xúc tiến các hoạt động phát triển thương mại điện tử, hỗ trợ năng lực ứng dụng thương
mại điện tử cho các doanh nghiệp APEC, cải thiện môi trường kinh doanh cho thương
mại điện tử.
Để tiện cho việc tìm kiếm, cập nhập thông tin của các doanh nghiêp, APEC đã
xây dựng trang web riêng tại trong đó bao gồm nhiều thông tin về
hệ thống chính sách kinh tế - thương mại của các thành viên, các biểu thuế áp dụng,
hướng dẫ về quy chế điều hành thương mại và đầu tư Thêm vào đó, APEC còn xuất
bản nhiều ấn phẩm khác cung cấp thông tin một cách đầy đủ, ngắn gọn và dễ sử dụng,
ví dụ Bản Hướng dẫn về đầu tư APEC cung cấp thông tin về khuôn khổ chính sách và

sách vĩ mô có liên quan của Việt Nam vẫn còn chồng chéo, chưa đồng bộ, chưa thực
sự khuyến khích quá trình mở rộng quan hệ buôn bán, đầu tư, hợp tác kinh tế kỹ thuật
của Việt Nam trong APEC. Một số biện phát chính sách tạo lợi thế cho kinh tế thương
mại được các tổ chức quốc tế thừa nhận thì ta lại chưa có hoặc đang trong quá trình
xây dựng.
Thứ ba, hạn chế về nguồn nhân lực. Hiện nay, chúng ta đang thiếu đội ngũ cán
bộ giỏi, có chuyên môn cao về bề dày kinh nghiệm trong hợp tác kinh tế quốc tế. Trình
độ cán bộ tham gia trực tiếp vào công tác cũng như thực hiện các cam kết quốc tế còn
thấp so với mặt bằng chung của khu vực. Một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn
đến tình trạng này là từ trước tới nay Việt Nam chưa có một chính sách quy hoạch
đồng bộ và ưu tiên thích đáng. Vấn đề thực thi chính sách còn nhiều bất cập cũng có
một phần nguyên nhân ở sự hạn chế về trình độ chuyên môn và năng lực thực thi pháp
luật. Cụ thể hơn, sự hiểu biết hạn chế về cơ chế thị trường và sự vận hành của nó cũng
như những quy định của thương mại quốc tế đang gây cản trở cho việc tham gia một
cách xây dựng và chủ động trong hợp tác APEC.
Thứ tư, khó khăn mang tính khách quan trong hợp tác APEC là tính bị động
của các nền kinh tế nhỏ và đang phát triển. Những nền kinh tế này, chủ yếu do hạn
chết về tiềm lực kinh tế, có lợi ích hạn chế hơn và có xu hướng bị phụ thuộc vào các
nền kinh tế lớn hơn. Vấn đề chính ở đây là trong bối cảnh nền kinh tế thế giới có nhiều
Giảng viên: GS.TS.NGƯT Bùi Xuân Phong Trang 19
NHÓM 1 QTDN2
biến động thì tiềm lực kinh tế thấp sẽ hạn chết rất nhiều cơ hội và lợi ích của các nước
đang phát triển như Việt Nam.
3.2. Thách thức đối với cộng đồng doanh nghiệp
Cũng như Chính phủ, các doanh nghiệp khi tham gia APEC cũng sẽ gặp một số
khó khăn nhất định, cụ thể là:
Thứ nhất, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam nhìn chung còn
yếu, năng lực sản xuất, năng lực công nghệ, năng lực vốn và kinh nghiệm quản lý đều
kém sức cạnh tranh hơn so với mặt bằng chung của doanh nghiệp khu vực. Do vậy,
khả năng cạnh tranh cũng theo đó chưa thể so sách được với các doanh nghiệp trong

NHÓM 1 QTDN2
kế hoạch hợp tác về thuận lợi hoá thương mại, đầu tư Ta cũng đảm nhận vị trí Chủ
tịch và điều hành nhiều Nhóm công tác quan trọng như Nhóm Công tác Y tế nhiệm kỳ
2009 - 2010, Nhóm công tác về Đối phó với tình trạng khẩn cấp, Nhóm công tác về
thương mại điện tử… Việt Nam đã triển khai thành công hơn 60 sáng kiến, đồng bảo
trợ hàng trăm sáng kiến trên hầu hết các lĩnh vực thương mại, đầu tư, hợp tác kinh tế
kỹ thuật, y tế, đối phó với thiên tai, chống khủng bố Việt Nam đã được đánh giá là
một trong những thành viên năng động, đã có nhiều sự đóng góp tích cực cho Diễn
đàn APEC.
Dẫn nguồn trang thông tin của bộ ngoại giao Việt Nam
5. Chủ trương của Việt Nam tại APEC
Việt Nam chủ động và tích cực đóng góp thúc đẩy hợp tác APEC
Cách đây đúng 15 năm, tháng 11 năm 1998, Việt Nam trở thành thành viên
chính thức của APEC. Trong suốt chặng đường 15 năm qua, Việt Nam luôn là một
thành viên năng động và có trách nhiệm, đóng góp tích cực và hiệu quả cho hợp tác
APEC. Trong đó, phải kể đến việc chúng ta đã đảm nhiệm xuất sắc vai trò Chủ tịch
APEC năm 2006, tổ chức thành công Hội nghị Cấp cao APEC 14, Hội nghị Bộ trưởng
Ngoại giao-Kinh tế APEC 18 và hơn 100 sự kiện lớn nhỏ khác.
Hội nghị Cấp cao 14 đã thành công trong việc đề ra triển vọng dài hạn về h
ướng tới xây dựng Khu vực thương mại tự do châu Á-Thái Bình Dương, Chương trình
Hành động Hà Nội về thực hiện các Mục tiêu Bogor, các biện pháp cải cách tổng thể
của APEC Việt Nam cũng đảm nhiệm nhiều vị trí chủ chốt trong APEC như Phó Chủ
tịch Ủy ban thương mại và đầu tư năm 2006, Chủ tịch Nhóm công tác doanh nghiệp
vừa và nhỏ năm 2006, Chủ tịch Ủy ban quản lý ngân sách năm 2007, Phó Chủ tịch
Nhóm công tác Y tế nhiệm kỳ 2009-2010, Chủ tịch Nhóm công tác về đối phó với tình
trạng khẩn cấp nhiệm kỳ 2012-2013.
Năm 2014, Việt Nam sẽ là nước chủ nhà tổ chức Hội nghị Bộ trưởng APEC về
Phát triển nguồn nhân lực lần thứ 6. Việt Nam cũng nghiêm túc thực hiện các kế
hoạch, chương trình hợp tác và các cam kết của APEC; tích cực đề xuất và tham gia
hơn 70 sáng kiến trên các lĩnh vực kinh tế, thương mại, đầu tư, kỹ thuật, y tế, chống

Trang web của Bộ Ngoại Giao Việt Nam
Sổ tay doanh nghiệp APEC và những vấn đề doanh nghiệp cần quan tâm
Giảng viên: GS.TS.NGƯT Bùi Xuân Phong Trang 22


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status