NHỮNG THẤT BẠI TRONG QUẢN TRỊ RỦI RO: CHÚNG LÀ GÌ VÀ XẢY RA KHI NÀO? - Pdf 16

Những thất bại trong quản trị rủi ro: Chúng là gì và xảy ra khi nào ?
Nhóm 11_K20_TCDNĐêm 1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
Môn Quản Trị Rủi Ro Tài Chính
Đề tài 1:
NHỮNG THẤT BẠI TRONG QUẢN TRỊ
RỦI RO: CHÚNG LÀ GÌ VÀ XẢY RA
KHI NÀO?
GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo
Lớp: TCDN-K20 ĐÊM 1
Nhóm 11: Ngô Lê Việt Anh
Hồ Thị Hồng Hạnh
Nguyễn Thị Thu Hiền
Nguyễn Thị Thu Trang
TP.Hồ Chí Minh, tháng 09 năm 2012
GVHD:TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo Trang 1
Những thất bại trong quản trị rủi ro: Chúng là gì và xảy ra khi nào ?
Nhóm 11_K20_TCDNĐêm 1
DANH SÁCH NHÓM 11
STT HỌ TÊN NGÀY SINH KÝ TÊN
1 Ngô Lê Việt Anh 06/11/1985
2 Hồ Thị Hồng Hạnh 22/04/1976
3 Nguyễn Thị Thu Hiền 01/05/1986
4 Nguyễn Thị Thu Trang 03/09/1987
GVHD:TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo Trang 2
Những thất bại trong quản trị rủi ro: Chúng là gì và xảy ra khi nào ?
Nhóm 11_K20_TCDNĐêm 1
MỤC LỤC
I. Giới thiệu: 4
II. Tổng quan các nghiên cứu trước đây: 4
II.1. Stephen P.D’Arcy (2001): “Enterprise risk management (ERM)” 4

thông qua bài nghiên cứu: “Những thất bại trong quản trị rủi ro: Chúng là gì và xảy ra khi
nào”
Mục tiêu của bài nghiên cứu này là khái quát, phát họa những thất bại của quản trị rủi ro, chỉ
ra cho người đọc một cái nhìn đúng đắn hơn về quá trình quản trị rủi ro tài chính, hiểu
được khi nào việc quản trị rủi ro được xem là thất bại, nguyên nhân nào dẫn đến thất bại
này từ đó các doanh nghiệp có thể xây dựng cho mình một mô hình quản trị rủi ro hiệu
quả hơn.
II. Tổng quan các nghiên cứu trước đây:
II.1. Stephen P.D’Arcy (2001): “Enterprise risk management (ERM)”
Bài nghiên cứu đưa ra định nghĩa ERM là “quá trình mà các tổ chức trong tất cả
các ngành đánh giá, kiểm soát, khai thác, tài trợ và giám sát rủi ro phát sinh từ mọi nguồn
với mục đích gia tăng giá trị ngắn và dài hạn của doanh nghiệp cho các cổ đông”
II.2. Brian W.Nocco (2006): “Enterprise risk Management: Theory and practice”
Quản trị rủi ro tạo giá trị cho cổ đông như thế nào ?
ERM tạo ra giá trị thông qua các tác động của nó vào cả các công ty "vĩ mô" hoặc cấp toàn công
ty và một mức độ "vi mô" hoặc đơn vị kinh doanh. Ở tầm vĩ mô, ERM tạo ra giá trị bằng cách
cho phép quản lý cấp cao để định lượng và quản lý giữa rủi ro- lợi nhuận mà công ty phải đối
mặt. Bằng việc áp dụng việc quản trị này, ERM giúp công ty duy trì quyền tham gia vào các thị
trường vốn và các nguồn lực cần thiết để thực hiện chiến lược và kế hoạch kinh doanh.
GVHD:TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo Trang 4
Những thất bại trong quản trị rủi ro: Chúng là gì và xảy ra khi nào ?
Nhóm 11_K20_TCDNĐêm 1
Ở cấp độ vi mô, ERM trở thành một cách để cuộc sống cho các nhà quản lý và nhân viên ở tất cả
các cấp độ của công ty.Mặc dù tài liệu học thuật đã tập trung chủ yếu vào những lợi ích vĩ mô
của ERM, các lợi ích ở cấp vi mô là cực kỳ quan trọng trong thực tế. Như chúng ta đã tranh luận
dưới đây, một hệ thống được thiết kế tốt ERM đảm bảo rằng tất cả các rủi ro là "sở hữu", và
đánh giá một cách cẩn thận lợi nhuận và rủi ro, quản lý điều hành và nhân viên trên toàn công ty.
Lợi ích vĩ mô của việc quản trị rủi ro
Với quan điểm "thị trường hoàn hảo" rằng cổ đông có thể đa dạng hóa danh mục đầu tư của
riêng mình, giá trị của một doanh nghiệp không phụ thuộc vào "tổng" rủi ro của nó.Theo quan

Rủi ro được định nghĩa là “bất kỳ những biến cố hoặc tập hợp các sự kiện không chắc
chắn mà nếu xảy ra, sẽ ảnh hưởng lên một hay nhiều mục tiêu”.
Một quy trình QTRR điển hình bao gồm 6 bước sau:
 Lên kế hoạch QTRR
 Nhận định rủi ro
 Đánh giá/ phân tích rủi ro
 Triển khai đối phó rủi ro
 Giám sát rủi ro
 Xem xét lại rủi ro
II.4. Gabriele Sabato - Royal Bank of Scotland "Financial Crisis: Where did risk
management fail?".
Bong bóng thị trường bất động sản và các khoản vay thế chấp dưới chuẩn thường được
xác định là nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tài chính, nhưng điều này không hoàn toàn đúng,
hoặc ít nhất chúng không thể coi là nguyên nhân chính. Một quy tắc quản lý nghèo nàn dựa trên
niềm tin rằng ngân hàng có thể được tin cậy để tự điều chỉnh là nguyên nhân chính của cuộc
khủng hoảng. Đồng thời, quản trị rủi ro tại các ngân hàng đã thất bại trong việc thực thi các quy
tắc cơ bản cho một giao dịch an toàn. Ví dụ, tránh mức độ tập trung mạnh mẽ và giảm thiểu biến
động của thu nhập. Mục đích của bài nghiên cứu này là xác định những lý do đằng sau thất bại
của quản trị rủi ro và cung cấp một cái nhìn làm thế nào để chúng được giải quyết và cải thiện
trong tương lai nếu chúng ta muốn xây dựng một hệ thống tài chính chắc chắn vững mạnh hơn.
Trong đó, tác giả kiểm tra các vấn đề sau: 1) Thiếu một chiến lược phân bổ vốn; 2) Tầm nhìn
không phù hợp về rủi ro; 3) Cơ cấu quản trị rủi ro không phù hợp.
GVHD:TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo Trang 6
Những thất bại trong quản trị rủi ro: Chúng là gì và xảy ra khi nào ?
Nhóm 11_K20_TCDNĐêm 1
III. Phương pháp nghiên cứu:
Tác giả đã sŠ dụng phương pháp nghiên cứu định tính, kết hợp với phân tích tình
huống thực tế (sự sụp đổ của LTCM) và dựa vào những quan sát thực tế của mình kết
hợp với các nghiên cứu về lý thuyết quản trị rủi ro để phát họa những thất bại của quản trị
rủi ro.

có thể bị đổ lỗi và khi thì lại không. Trong quá trình đó, Tác giả cung cấp một hệ thống các loại
thất bại của quản trị rủi ro.
Để nghiên cứu thất bại quản trị rủi ro một cách cụ thể hơn, Tác giả trở về với vấn đề đã
gặp phải bởi quỹ đầu tư LTCM vào năm 1998 để phân tích làm thế nào có thể kết luận là thất bại
của LTCM là thất bại của quản trị rủi ro hay không. Tác giả sẽ đưa ra một vài sự kiện được quan
tâm đến trong các báo tài chính là thất bại quản trị rủi ro tài chính thật sự không phải là thất bại
trong quản trị rủi ro tài chính, đồng thời Tác giả sẽ phân tích nhiều cách khác nhau mà quản trị
rủi ro có thể thất bại. Sau đó Tác giả đề cập đến câu hỏi liệu có những bài học rút ra từ thất bại
quản trị rủi ro có thể dùng để cải thiện trong thực tiễn quản trị rủi ro hay không. Trong phần cuối
của bài báo này, Tác giả thảo luận một phương pháp tiếp cận quản trị rủi ro là có thể khiến cho
các thể chế quản trị rủi ro tốt hơn như những cái đã đe dọa chúng trong suốt kỳ khủng hoảng tài
chính cho vay dưới chuẩn.
Sự sụp đổ của Quỹ Quản lý vốn đầu tư dài hạn (LTCM) có phải là sự thất bại trong quản
trị rủi ro không?
Câu chuyện của Quỹ quản lý vốn đầu tư dài hạn (LTCM) thật nổi tiếng.
2
Năm 1994,
những cựu giao dịch viên của ngân hàng đầu tư Salomon Brothers và hai nhà chiến thắng tương
lai giải thưởng Nobel đã bắt đầu một quỹ đầu tư, Quỹ Quản lý vốn đầu tư dài hạn. LTCM là một
công ty quản lý quỹ. Quỹ đã hoạt động tốt trong suốt vòng đời của nó: Những nhà đầu tư kiếm
được 20% trong 10 tháng vào năm 1994, 43% trong năm 1995, 41% trong năm 1996, và 17%
năm 1997. Trong tháng 8 và tháng 9 năm 1998, tiếp theo sau khủng hoảng Nga về khoản nợ
bằng đồng rúp Nga, thị trường vốn thế giới đã rơi vào khủng hoảng và quỹ đầu tư LTCM đã mất
hầu như toàn bộ vốn của nó. Trước khi LTCM sụp đổ, nó đã có số vốn gần 5 tỷ USD, tài sản
vượt mức 100 tỷ USD và các sản phẩm phái sinh với giá trị mong đợi vượt quá 1 nghìn tỷ USD.
Giữa tháng 9, vốn của LTCM đã giảm hơn 3.5 tỷ USD và Ngân hàng Dự trữ Liên bang của New
York đã phối hợp giải cứu bằng cách các thể chế tài chính tư nhân đã bơm vào quỹ 3.65 tỷ USD.
Việc thất thoát hơn 70% vốn có phải là đại diện cho sự thất bại của quản trị rủi ro không? Một sự
thua lỗ mà đòi hỏi một sự giải cứu bởi các ngân hàng đã bơm vào 3.65 tỷ USD vốn mới có cho
2

trong 2 năm tốt nhất của nó Quỹ đã kiếm được 50% thu nhập trước phí, nên mức lợi nhuận 25%
nghe có vẻ không vô lý. Thứ hai, LTCM đã viết cho những nhà đầu tư để báo rằng nó kỳ vọng
Quỹ sẽ đối diện một tổn thất chỉ lên đến 20% trong 1 năm trong số 50 – ở đây, thay vào đó một
năm trong số 100 có thể được kỳ vọng thua lỗ 70%.
3
Chúng ta hãy giả định là Quỹ có thu nhập
cao hoặc không có phụ thuộc vào việc thảy đồng xu, để rủi ro của Quỹ sẽ hoàn toàn có thể đa
dạng hóa cho những nhà đầu tư của nó. Với ví dụ giả định này, thu nhập kỳ vọng của Quỹ sẽ là
3
Xem Lowenstein, trang 63
GVHD:TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo Trang 9
Những thất bại trong quản trị rủi ro: Chúng là gì và xảy ra khi nào ?
Nhóm 11_K20_TCDNĐêm 1
24.05%. Một thu nhập kỳ vọng như thế sẽ là một thu nhập kỳ vọng to lớn cho một quỹ đầu tư và
cho bất kỳ sự đầu tư nào vì nó là một thu nhập kỳ vọng chịu rủi ro đa dạng hóa, được cho bởi giả
thiết của Tác giả. Các nhà quản lý đã có cơ hội để duy trì lặp lại cho sự đầu tư này, 99 năm trong
số 100 họ sẽ kiếm được 25% thu nhập trước phí và sẽ trở thành những ngôi sao.
Trong ví dụ giả định của Tác giả, khi các nhà quản lý quỹ (những cộng sự) đưa ra quyết định của
họ, họ đã biết phân phối thực của những kết quả có thể xảy ra cho quỹ. Do đó, họ hoàn toàn biết
phân phối lợi ích và tổn thất – đúng ra các nhà quản trị rủi ro xứng đáng được huy chương vàng
cho công việc này. Tuy nhiên, giả sŠ xảy ra những kết quả xấu. Trong trường hợp này, Quỹ sẽ
đưa lên đầu đề việc thua lỗ 3.5 tỷ USD. Một vài người sẽ tranh luận vì Quỹ đã quản lý rủi ro yếu
kém. Tuy nhiên, với sự cố chấp, việc quản trị rủi ro đã không được cải thiện trong trường hợp
này. Những nhà quản trị biết chính xác rủi ro mà họ đối mặt – và họ quyết định mạo hiểm. Do
đó, không có ý nghĩa trong việc quản trị rủi ro thất bại. Tranh cãi duy nhất là những nhà quản lý
phải gánh chịu rủi ro không nên có, nhưng đó không phải là vấn đề quản trị rủi ro miễn là rủi ro
được hiểu một cách đúng đắn. Đúng hơn là có một vấn đề trong việc đánh giá chi phí thua lỗ so
với lợi ích thu được trong việc tạo ra lợi nhuận khổng lồ.
Việc quyết định có mạo hiểm hay không đối với rủi ro tiên liệu được không là một quyết
định cho những nhà quản trị rủi ro. Quyết định này phụ thuộc vào khẩu vị rủi ro của một thể chế.

lược của công ty. Những nhà quản trị rủi ro không thiết lập chiến lược. Một khi xếp hạng tín
dụng được chọn lựa, có nhiều liên kết phức tạp giữa rủi ro và vốn để hoàn thành mục tiêu xếp
hạng. Đối với một chọn lựa tỷ lệ nợ cho trước, công ty không có nhiều lựa chọn trong việc chọn
lựa mức độ rủi ro của nó nếu nó muốn đạt được xếp hạng mục tiêu của nó. Tuy nhiên, đối mặt
với những cơ hội tốt, công ty có thể chọn có tỷ lệ nợ thấp hơn để nó có thể chịu được rủi ro cao
hơn hoặc có thể chọn việc xa rời mục tiêu xếp hạng tín nhiệm.
LTCM đã đưa ra một thí dụ tốt về sự đánh đổi như thế. Vào mùa thu năm 1997, các nhà
quản lý của LTCM đã kết luận rằng họ không muốn điều hành một doanh nghiệp đang kiếm
được 17% cho những nhà đầu tư, đây là những gì mà những nhà đầu tư của họ đã kiếm được
trong năm. Thay vào đó, họ muốn mức thu nhập cao hơn đã đạt được trong năm 1995 và 1996.
Cuối năm 1997, LTCM đã có mức vốn 7.4 tỷ USD nhưng quyết định mức thu nhập xấp xỉ 36%
vốn cho các nhà đầu tư của nó. Với vốn ít hơn, LTCM vẫn có thể tiến hành những hoạt động
thương mại tương tự. tuy nhiên, bây giờ, để thực hiện chúng nó phải vay mượn nhiều hơn và do
đó phải gia tăng tỷ lệ nợ của nó. Bằng việc gia tăng tỷ lệ nợ vay, nó có thể làm tăng thu nhập cho
cổ đông nếu mọi việc tiến triển tốt đẹp bù lại sẽ thua lỗ nhiều hơn nếu mọi việc tồi tệ. Gia tăng tỷ
lệ nợ có phải là một quyết định tồi của quản trị rủi ro? Trong ví dụ của Tác giả, những cộng sự
của LTCM biết về những rủi ro và sự trả giá khi chấp nhận nó. Trong ngôn ngữ quen thuộc của
kinh tế học tài chính, việc gia tăng nợ là một quyết định tạo ra NPV dương, nhưng rõ ràng trước
5
Bài báo của Tác giả với Brian Nocco, Quản trị rủi ro doanh nghiệp: Lý thuyết và thực tiễn, Tạp chí Tài chính
doanh nghiệp ứng dụng, mùa thu năm 2006, v18(8), 8-20, trình bày những nguyên tắc chính của quản trị rủi ro
doanh nghiệp, vấn đề nảy sinh trong sự thực hiện nó và vai trò của sự phân phối vốn đầu tư.
GVHD:TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo Trang 11
Những thất bại trong quản trị rủi ro: Chúng là gì và xảy ra khi nào ?
Nhóm 11_K20_TCDNĐêm 1
đây nó đã là một quyết định tốn kém khi tài sản rớt giá, vốn cổ phần của Quỹ sẽ giảm giá trị
nhanh hơn so với khi nó có tỷ lệ nợ vay thấp hơn.
Có nhiều cuộc thảo luận khuyến khích Ban lãnh đạo trong suốt cơn khủng hoảng tín
dụng, với nhiều nhà bình luận khác nhau tranh cãi về một phần của vấn đề mà chính phần này đã
khích lệ Ban điều hành chấp nhận rủi ro nhiều hơn. Điều này có lẽ là tốt, nhưng trước khi đi đến

2) Thất bại trong việc đưa rủi ro vào sổ sách.
3) Thất bại trong thông báo các rủi ro cho quản trị cấp cao.
4) Thất bại trong giám sát rủi ro
5) Thất bại trong quản trị rủi ro.
6) Thất bại trong việc sŠ dụng các thước đo rủi ro thích hợp.
IV.2. Kết quả nghiên cứu:
Từ những nội dung nghiên cứu ở trên, tác giả lần lượt đi vào khám phá những thất bại trong quản
trị rủi ro
Đo lường sai các rủi ro đã biết
Trong ví dụ LTCM, đo lường sai các rủi ro có thể thể hiện một số các hình thức khác
nhau.Khi đo lường rủi ro, quản trị rủi ro cố gắng để hiểu được phân phối lợi nhuận. Với ví dụ
đơn giản của Tác giả, việc phân phối là một phân phối nhị thức - kết quả của việc tung một đồng
xu có trọng lượng. Các nhà quản trị rủi ro có thể tạo một sai lầm trong việc đánh giá xác suất của
một thua lỗ lớn hoặc quy mô của sự thua lỗ lớn nếu nó xảy ra. Tuy nhiên, ngoài ra, họ có thể sŠ
dụng sai sự phân phối hoàn toàn. Hơn nữa, các định chế tài chính có nhiều vị thế, mỗi vị trí có
một thu nhập từ một phân phối đưa sẵn, nhưng những lợi nhuận có liên quan giữa các vị trí, và
mối quan hệ có thể được đánh giá không chính xác - một cách đơn giản để đặt vị trí này là mối
tương quan có thể được đo lường sai. Tương quan là cực kỳ quan trọng trong quản trị rủi ro bởi
vì các lợi ích của đa dạng hóa giảm đi khi mối tương quan gia tăng.
Với ví dụ LTCM, có thể xác suất thực sự của một sự thua lỗ 70% cao hơn
hơn 1%, là 25%. Trong trường hợp này, lợi nhuận mong đợi của LTCM trong ví dụ giả thuyết
của Tác giả là không đáng kể 1,25%. Vào thời điểm đó, các nhà đầu tư có thể đã kiếm được lợi
nhuận cao hơn bằng cách đầu từ vào T-bill. Trong trường hợp này, sai lầm quản trị rủi ro - đánh
giá xác suất của đầu ra xấu ở mức 1% thay vì 25% - sẽ có hậu quả nghiêm trọng cho quỹ bởi vì
nó sẽ dẫn đến việc thực hiện giao dịch mà gây thiệt hại.
GVHD:TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo Trang 13
Những thất bại trong quản trị rủi ro: Chúng là gì và xảy ra khi nào ?
Nhóm 11_K20_TCDNĐêm 1
Giả sŠ rằng LTCM đã mắc các lỗi mà tác giả vừa thảo luận. Làm thế nào tác giả biết
được? Tác giả không thể xác định như lỗi đã trình bày bởi vì LTCM đã bị mất 70% chỉ một lần.

Khi rủi ro đã biết, kỹ thuật thống kê nói chung mang lại ước tính phân phối rủi ro.
Phương pháp tiếp cận này hiệu quả tốt khi có rất nhiều dữ liệu và khi nó là hợp lý để tin rằng lợi
nhuận sẽ có sự phân phối thống kê trong tương lai cũng như trong quá khứ. Ví dụ, giả sŠ rằng
nhà quản trị rủi ro muốn ước tính sự biến động của thu nhập của một cổ phiếu thanh khoản. Nó
sẽ có hàng trăm các điểm dữ liệu để phù hợp với một mô hình. Trong hầu hết trường hợp, quản
trị rủi ro sẽ có một mô hình của sự biến động của chứng khoán thực hiện khá tốt.
Dữ liệu lịch sŠ theo thời điểm ít sŠ dụng, bởi vì rủi ro được biết đến đã không thể hiện
bản thân trong quá khứ. Ví dụ, với cuộc khủng hoảng cho vay dưới chuẩn, không có dữ liệu lịch
sŠ của cuộc suy thoái ở thị trường bất động sản, trong thời gian đó một số lượng lớn các chứng
khoán thế chấp dưới chuẩn được chú ý. Trong một tình huống như vậy, đo lường rủi ro không
thể được thực hiện bằng cách đơn giản sŠ dụng dữ liệu lịch sŠ từ khi có một rủi ro giảm giá bất
động sản đã không thể hiện được trong một khoảng thời gian lịch sŠ đem ra so sánh. Với trường
hợp như vậy, thống kê đo lường rủi ro đạt đến giới hạn của nó và quản trị rủi ro đi từ khoa học
đến nghệ thuật. Sự hiểu biết đúng về rủi ro liên quan đến việc đánh giá khả năng có thể xảy ra
của việc giảm giá bất động sản và tác động kinh tế như giảm giá chứng khoán. Đánh giá xác suất
như vậy có một yếu tố quan trọng của tính chủ quan. Các nhà quản trị rủi ro khác nhau có thể
đưa ra những kết luận rất khác nhau.
Có một vấn đề cơ bản với hoat động đo lường rủi ro khi đánh giá trở thành chủ quan. Giả
sŠ rằng tất cả các bên đồng ý rằng một mô hình thống kê được thành lập hoạt động tốt. Sau đó có
một ít những người không đồng ý. Tuy nhiên, dự báo chủ quan có thể dễ dàng bị đặt câu hỏi. Tại
sao một người quản trị rủi ro sẽ có một sự hiểu biết tốt hơn về xác suất của một sự giảm giá bất
động sản hơn các chuyên gia bất động sản? Nếu các chuyên gia bất động sản kết luận rằng một
sụt giảm mạnh về giá là không thực, tại sao một tổ chức sau đó nghe một người quản trị rủi ro,
những người muốn chi tiêu một số lượng lớn tiền vào một kiểm tra căng thẳng để tìm ra các tác
động của giảm lớn như vậy? Khi quản trị rủi ro di chuyển từ thiết lập mô hình định lượng, nó trở
nên dễ dàng lôi kéo vào chính trị nội bộ công ty. Tại thời điểm đó, kết quả đầu ra của công ty
phụ thuộc rất nhiều thêm vào rủi ro mong đợi của công ty và vào văn hóa của nó hơn là trên các
mô hình quản trị rủi ro của nó.
Đo lường sai vì các rủi ro bị bỏ qua
GVHD:TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo Trang 15

đo lường cho một công ty. Những rủi ro còn lại không được theo dõi đầy đủ và chúng trở nên lớn
GVHD:TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo Trang 16
Những thất bại trong quản trị rủi ro: Chúng là gì và xảy ra khi nào ?
Nhóm 11_K20_TCDNĐêm 1
bởi vì những tổ chức có xu hướng mở rộng kiểm soát rủi ro. Ví dụ, xem xét một thương gia có
rủi ro chỉ theo dõi một phần. Thông thường, các thương gia có một công thức bồi thường có liên
quan đến quyền chọn chi trả mà họ nhận được một phần đáng kể từ lợi nhuận mà họ tạo ra,
nhưng họ không phải trả các khoản lỗ. Nếu chỉ một số rủi ro của thương gia được theo dõi, anh
ta có thể tăng bồi thường dự kiến bằng cách gia tăng những rủi ro mà không được giám sát mà
không phải gánh chịu bất kỳ hậu quả nào.
Đó là thực tế phổ biến trong quản trị rủi ro để chia rủi ro thành rủi ro thị trường, tín dụng
và rủi ro hoạt động. Sự phân biệt này là một phần ước đoán và được chia bởi việc xem xét những
quy định. Thông thường các công ty có sổ sách kinh doanh được hạch toán theo giá thị trường,
trong khi sổ sách tín dụng được hạch toán theo nguyên tắc dồn tích kế toán. Tuy nhiên việc phân
chia rủi ro này có thể được thực hiện bằng một cách là bỏ qua những khối lượng lớn nguy cơ. Ví
dụ, một công ty có rủi ro vốn. Vốn có thể trở nên đắt hơn hoặc có thể rẻ hơn khi công ty trải qua
những kết quả thị trường xấu. Bằng chứng, một nhân tố quan trọng góp phần vào sự thất bại của
Bear Stearns là những hạn chế mà nó đối mặt trong việc tiếp cận thị trường repo trong tuần
trước. Tương tự như vậy, trong khi quy tắc Basel II cái nhìn khá hạn chế về rủi ro hoạt động, rủi
ro kinh doanh, thường có tầm quan trọng và được đánh giá cẩn thận như một phần quan trọng
trong việc đánh giá rủi ro của công ty mặc dù không phải là một phần của nguyên tắc xác định về
rủi ro hoạt động. Những rủi ro này tương quan cao với rủi ro tín dụng và rủi ro thị trường đối với
định chế tài chính. Ví dụ, đối với nhiều ngân hàng, những mất mát về thu nhập từ chứng khoán
hóa được xem như là một rủi ro kinh doanh tương quan với rủi ro thị trường, cụ thể là sự mất
mát trong giá trị chứng khoán được phát hành thông qua các loại chứng khoán và với rủi ro tín
dụng cụ thể là không có khả năng sŠ dụng quá trình phát hành chứng khoán để loại trừ các rủi ro
liên quan đến những khoản vay.
Hạch toán kế toán cho tất cả những rủi ro trong việc đo lường rủi ro thì khó và là công
việc tốn kém.Tuy nhiên, không thực hiện công việc này cho một tổ chức có nghĩa là người đứng
đầu công ty quản lý công ty với sự che mắt- họ chỉ nhìn thấy một phần của bức tranh rộng lớn

và trong 1 giai đoạn khác là -15%. Anh ta nắm bắt rủi ro liên quan đến bản chất của cổ phần qua
những dự đoán của anh ta về phân phối lợi nhuận của cổ phần. Với công việc của mình, ông ấy
biết rằng sự bất ổn là 20% và có 5% cơ hội của một mất mát 30% hoặc cao hơn trong một giai
đoạn. Ông ấy không cần một vị trí để giải thích những sự kiện liên quan đến những mất mát
khác nhau.
Những rủi ro chưa biết khác có thể không quan trọng đơn giản chỉ vì chúng có một xác
suất xảy ra không đáng kể. Có một số khả năng việc xây dựng bị ảnh hưởng bởi một tiểu hành
GVHD:TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo Trang 18
Những thất bại trong quản trị rủi ro: Chúng là gì và xảy ra khi nào ?
Nhóm 11_K20_TCDNĐêm 1
tinh. Rủi ro này không ảnh hưởng đến bất kỳ quyết định quản lý nào. Bỏ qua những rủi ro này
không tác động đến việc quản lý rủi ro.
Những rủi ro chưa biết đại diện cho sự thất bại trong việc quản trị rủi ro là những rủi ro mà nếu
những người quản lý công ty biết về chúng, họ sẽ hành động khác. Quản lý rủi ro phải tìm kiếm
những rủi ro chưa biết, nhưng một khi tất cả được nói và làm, một số rủi ro vẫn sẽ chưa biết. Bởi
vì điều này, họ phải kết luận rằng họ không nắm bắt tất cả rủi ro trong mô hình của họ và do đó,
một số vốn được tạo ra để sẵn sàng đối phó với những rủi ro chưa biết.
Những thất bại về truyền thông :
Quản lý rủi ro không phải là công việc được thực hiện bởi những người quản lý rủi ro cho
những quản lý rủi ro. Thay vào đó, nó là hoạt động được thực hiện để cho phép công ty tối đa
hóa giá trị cổ đông bằng cách lấy các quyết định tối ưu trên toàn công ty. Đặc biệt, công ty đã lựa
chọn mức rủi ro được phép và phải chắc chắn rằng rủi ro được thực hiện trên toàn công ty có giá
trị cho các cổ đông. Vì vậy, quản lý rủi ro phải cung cấp thông tin kịp thời cho hội đồng quản trị
và những người quản lý hàng đầu mà được phép đưa ra những quyết định liên quan đến rủi ro
công ty và yếu tố rủi ro công ty trong quyết định của họ. Để hội đồng quản trị và những người
quản lý hàng đầu hiểu được tình hình rủi ro của công ty, tình hình này được truyền đạt đến họ
trong cách mà họ có thể hiểu đúng. Nếu một doanh nghiệp có hệ thống rủi ro hoàn hảo, nhưng
hội đồng quản trị và những người quản lý hàng đầu không hiểu đầu ra của hệ thống này bởi vì
quản trị rủi ro không thể truyền đạt đầu ra này đúng cách, những hệ thống của công ty có thể làm
hại nhiều hơn lợi bởi sự tự tin quá mức trong việc thực hiện quản trị rủi ro. Tệ hơn, thông tin có

Bản chất rủi ro của các danh mục đầu tư của các phái sinh có thể thay đổi rất nhanh
chóng không có giao dịch nào. Điều này là bởi vì những công cụ phái sinh phức tạp thường chứa
đựng những yếu tố rủi ro cực kỳ nhạy cảm với điều kiện thị trường. Đáng chú ý, nó hoàn toàn có
thể với một số sản phẩm để nhìn thấy những sự thay đổi như vậy trong cùng một ngày, một
chứng khoán có thể có những phản ứng với lãi suất để tăng đáng kể nếu lãi suất tăng và sau đó
trong ngày có phản ứng như vậy mà nó giảm đi đáng kể nếu lãi suất tăng. Đối với một sản phẩm,
biên độ điều chỉnh hằng ngày có thể kết thúc việc tạo ra mất mát lớn bởi vì biên độ đó là tối ưu ở
ngày bắt đầu có thể kết thúc rủi ro vào ngày kết thúc.
Một trong những biểu hiện rõ ràng nhất về rủi ro thay đổi như thế nào là việc định giá
của những phái sinh cho vay dưới chuẩn. Các chỉ số ABX hầu hết những dữ liệu có sẵn trên
giá trị chứng khoán phát hành đối với tài sản vay thế chấp nợ dưới chuẩn. Các chỉ số đều là số
trung bình của những giao dịch hoán đổi tín dụng - vỡ nợ trên các đợt chứng khoán. Chỉ số mới
được tạo ra mỗi 6 tháng, phản ánh những chứng khoán hóa mới. Ban đầu các chỉ số AAA, đại
GVHD:TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo Trang 20
Những thất bại trong quản trị rủi ro: Chúng là gì và xảy ra khi nào ?
Nhóm 11_K20_TCDNĐêm 1
diện giá của các giao dịch hoán đổi tín dụng trên những cổ phiếu chỉ số AAA được đưa ra hầu
như không thay đổi, để đánh giá hợp lý rủi ro của những chứng khoán chỉ số AAA bằng cách sŠ
dụng dữ liệu quá khứ sẽ được cho rằng có ít rủi ro. Tuy nhiên giá trị của những cổ phiếu này rớt
xuống được thể hiện trong hình 1. Cổ đông của cổ phiếu AAA bất ngờ nhận được 1 mất mát lớn
nếu họ chọn sŠ dụng chỉ số ABX đại diện cho các giá trị cổ phần của họ.
Khi các đặc tính rủi ro chứng khoán có thể thay đổi rất nhanh, nó là thách thức của việc
giám sát rủi ro để nắm bắt những thay đổi và quản lý rủi ro để điều chỉnh dự phòng thích hợp.
Thách thức này đặc biệt lớn khi đặc tính rủi ro thay đổi đáng kể đối với những thay đổi nhỏ trong
yếu tố quyết định giá chứng khoán. Kết quả là, quản trị rủi ro có thể thất bại để đo lường rủi ro
hoặc dự phòng những rủi ro đơn giản bởi vì đặc tính rủi ro của chứng khoán có thể thay đổi quá
nhanh để những nhà quản lý đánh giá đúng bản chất của nó và đưa ra những dự phòng đúng.
Một phần quan trọng của quản lý rủi ro là có thể xác định các giải pháp có thể có thể
được thực hiện một cách nhanh chóng nếu một công ty giảm rủi ro của nó trong một thời gian
ngắn. Kế hoạch dự phòng rủi ro do đó rất quan trọng. Thiếu những kế hoạch như vậy có thể làm

văn hóa và ít động cơ sẽ ít hiệu quả hơn trong công ty mà ở đó động cơ của nhân viên tốt hơn
phù hợp với những mục tiêu rủi ro của công ty.
Đo lường rủi ro và thất bại của quản trị rủi ro
Cho đến nay, tác giả đã đưa ra những tiêu chuẩn đo lường rủi ro như đã đưa ra. Tác giả
chỉ ra rằng việc tập trung vào các tiêu chuẩn quá hẹp có thể làm cho việc quản trị khó đạt mục
tiêu hơn .Đặc biệt, những rủi ro mà nhà quản trị coi là quan trọng có thể bị bỏ qua hoặc từ chối.
Một phương pháp đo lường rủi ro được sŠ dụng rộng rãi trong các tổ chức tài chính là phương
pháp đo lường VaR cho các hoạt động giao dịch hàng ngày. Các ngân hàng lớn thường tiết lộ các
thông tin theo quý. Thường họ sẽ nói số lần trong một quý P&L có một sự mất mát vượt quá
VaR hàng ngày. Ví dụ, báo cáo UBS trong báo cáo thường niên của năm 2006 nói rằng nó không
bao giờ có một sự mất mát vượt quá VaR hàng ngày. Ngược lại, trong năm 2007, điều này đã
vượt quá VaR hàng ngày 29 lần. Các kết quả cho 2007 cho thấy thay đổi cơ bản đang diễn ra
trong nền kinh tế làm cho những nhà quản trị rủi ro khó theo dõi các rủi ro hàng ngày. Tuy
nhiên, một số lượng lớn vượt quá mức VaR ít hoặc không cung cấp thông tin về ý nghĩa của
những sự vượt quá đó cho sức khỏe tài chính của UBS. Sự vượt quá mức này là thực sự nhỏ và
đã có lợi nhuận lớn cũng vì biến động tăng lên nhanh chóng. Ngoài ra, điều này có thể đã thiệt
hại rất lớn và phần được rất là nhỏ. Trong trường hợp trước đây, công ty có thể được trước vào
cuối năm nay. Sau này, nó có thể gặp rắc rối nghiêm trọng. Do đó, việc tập trung vào chỉ số VaR
thị trường hàng ngày, mặc dù đáp ứng cho các nhà quản lý rủi ro vì kỹ thuật định lượng hiện đại
GVHD:TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo Trang 22
Những thất bại trong quản trị rủi ro: Chúng là gì và xảy ra khi nào ?
Nhóm 11_K20_TCDNĐêm 1
nhất có thể liên quan tới vấn đề, chỉ có thể là một phần của quản trị rủi ro và không phải là điều
người quản lý hàng đầu nên tập trung vào. Nhà quản trị cấp cao phải tập trung vào những tác
động dài hạn của rủi ro.
Đo lường chỉ số VaR ngắn hạn có thể thấp và công ty có thể giải quyết tốt mặc dù nó có
thể thất bại. Tác giả chưa từng thấy ước tính chỉ số VaR hàng tháng từ LTCM.Tuy nhiên, từ
tháng ba năm 1994 đến tháng 12 /1997, LTCM chỉ bị lỗ tám tháng và tháng tổn thất nhiều nhất là
2.9%. Ngược lại, nó có 37 tháng có lời. Vì vậy, người ta có thể khó khăn trong sŠ dụng những
chỉ số lợi nhuận hàng tháng trong quá khứ để kết luận rằng quản lý rủi ro của nó có thể sai lầm.

lỗi có thể là như vậy là đúng sự thật, chưa biết, có thể là cao hơn nhiều. Do đó, công ty đã tập
trung vào các sự kiện khủng hoảng trong đo lường và quản lý rủi ro của nó.
Các mô hình rủi ro hiện tại thường không được thiết kế để nắm bắt các rủi ro liên quan
với khủng hoảng và giúp các doanh nghiệp quản lý chúng. Những mô hình này sŠ dụng dữ liệu
lịch sŠ và chính xác nhất những tầm nhìn ngắn - như ngày. Với tầm nhìn ngắn như vậy, cuộc
khủng hoảng là sự kiện rất hiếm. Tuy nhiên, khi chúng ta xem xét nhiều năm, cuộc khủng hoảng
không phải là sự kiện rất hiếm. Tháng và năm là một tầm nhìn tốt hơn để đánh giá rủi ro khi nói
đến cuộc khủng hoảng trong ít nhất hai lý do.
Đầu tiên, bằng chứng là kể từ mùa hè năm 2007, cuộc khủng hoảng liên quan đến việc rút
ồ ạt thanh khoản từ thị trường. Việc rút ồ ạt thanh khoản có nghĩa là các công ty đang mắc kẹt
với vị trí mà họ không bao giờ dự kiến tổ chức trong một thời gian dài vì giá chi phí áp lực liên
quan đến kinh doanh của các vị trí này là rất cao. Các vị thế có nguy cơ được đánh giá trên một
ngày vì công ty nghĩ rằng nó có thể bán ra ngoài của các vị trí này đột nhiên trở thành vị trí phải
được tổ chức cho các tuần hoặc tháng. Thứ hai, trong thời kỳ khủng hoảng, các công ty sẽ làm
thiệt hại nhiều, vượt quá VaR hàng ngày của họ và những thiệt hại này có thể đủ lớn để làm suy
yếu đáng kể. Kết quả là, việc đo lường rủi ro phải thấy được phân phối các khoản lỗ lớn theo
thời gian chứ không phải trên một ngày.
Các cuộc khủng hoảng liên quan đến sự tương tác phức tạp giữa các rủi ro và giữa tổ
chức. Các mô hình thống kê rủi ro thường trở thành biến ngoại sinh của công ty và loại bỏ mức
độ rủi ro giữa các tổ chức. Một cách tiếp cận như vậy là phù hợp với nhiều tổ chức, nhưng nó là
không đủ đối với các tổ chức rằng, đối với bất cứ lý do gì, rất quan trọng trong thị trường cụ thể
và có những hành động ảnh hưởng đến giá chứng khoán. Ví dụ, vấn đề này là nổi tiếng khi mà
LTCM đã có vị trí rất lớn trong chỉ số thị trường quyền chọn là ngắn. Trong suốt cuộc khủng
hoảng, nó ít có khả năng thay đổi các vị trí này bởi vì nó rất lớn trong thị trường đó. Hơn nữa,
GVHD:TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo Trang 24
Những thất bại trong quản trị rủi ro: Chúng là gì và xảy ra khi nào ?
Nhóm 11_K20_TCDNĐêm 1
một định chế lớn có thể nhạy cảm với các giao dịch thôn tính (săn mồi) - tức là, các ngành nghề
được thực hiện bởi những thiết kế khác để khai thác các vấn đề của nó. Một ví dụ về giao dịch
thôn tính là một tình huống mà các giao dịch từ lợi ích các định chế khác từ đẩy giá xuống nếu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status