TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN NGÂN HÀNG – TÀI CHÍNH
BÀI TẬP NHÓM
TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
VỊ THẾ CỦA ĐỒNG USD QUA CÁC
GIAI ĐOẠNDanh sách nhóm 2:
1. Trương Thị Thúy An
2. Hoàng Thanh Huyền
3. Quàng Thị Lan
4. Nguyễn Thị Minh
5. Vũ Thị Phương
1 1. Vị thế của đồng Đôla được thể hiện qua chức năng của nó, bao gồm:
a. Chức năng tiền tệ quốc tế
Cũng như bất kì loại tiền tệ nào, một đồng tiền quốc tế cũng có 3 chức năng chính:
được dùng để thanh toán hoạt động thương mại và tài chính quốc tế, dùng để xác định giá
cả, được tích trữ làm đồng tiền dự trữ quốc tế. Đồng dollar được sử dụng làm phương tiện
thanh toán trong những giao dịch tư nhân hoặc làm phương tiện để ngân hàng trung ương
mua bán để điều tiết tỷ giá. Thước đo giá trị thể hiện ở việc nhiều hợp đồng thương mại
gia xuất khẩu. Tuy nhiên, trong thực tế, nhiều nước lại thích sử dụng đồng tiền của một
nền kinh tế lớn. Trong trường hợp đó, đồng tiền của một quốc gia mạnh, có phạm vị giao
dịch rộng sẽ có lợi thế trở thành thước đo giá trị thế giới.
d. Chức năng phương tiện tích lũy quốc tế
Ngân hàng trung ương các nước thường có một tỷ lệ dự trữ quốc tế. Ở nhiều quốc gia
trên thế giới khoản dự trữ này tồn tại dưới dạng giấy tờ có giá bằng dollar như tài khoản
tiền gửi nước ngoài, trái phiếu chính phủ Mỹ…Tư nhân cũng chuyển tài sản của mình ra
những đồng tiền mạnh khác để đảm bảo giá trị tài sản của mình, trong đó dollar được sử
dụng phổ biến.
Chức năng này là hệ quả tất yếu của hai chức năng trên. Khi một đồng tiền được tin
dùng là phương tiện giao đổi và thước đo giá trị, tính thanh khoản của có được đảm bảo.
Điều đó có nghĩa là khỏan dự trữ bằng dollar của ngân hàng có thể ngay lập tức được
chuyền sang một ngoại tệ khác nều ngân hàng có nhu cầu. Điều đó cũng có nghĩa là bất
kể khoản dự trữ nào cũng có thể chuyền thành dollar để phục vụ cho việc can thiệp của
ngân hàng trên thị trường ngoại hối. Với những nước lớn, quá trình này được tiến hành
rất nhiều. Họ mua và bán đồng dollar với các đồng tiền khác để tác động lên không chỉ
đồng nội tệ mà còn lên tiền tệ của các nước khác. Theo những quyết sách chính trị, mà
những nước liên kết ở châu Âu đã liên tục dự trữ đồng dollar chứ không phải là đồng
tiền của nhau.
2. Tỉ trọng thanh toán quốc tế của đồng Đôla cũng liên tục thay đổi qua các thời
kì, gây ảnh hưởng tới vị thế của đồng Đôla trên thị trường ngoại hối VN.
Trên thị trường ngoại hối diễn ra việc mua bán các đồng tiền khác nhau, điển hình là
trong lĩnh vực xuất nhập khẩu. Trong lĩnh vực này không chỉ có Việt Nam chọn đồng
USD làm thanh toán quốc tế mà ở các nước khác cũng sử dụng USD như một công cụ để
thanh toán nhằm đem lại lợi ích và tính thanh khoản cao, hạn chế được nhiều rủi ro vì vậy
đã làm cho đồng USD ngày một tăng lên. Ở Việt Nam, các doanh nghiệp chọn hình thức
thanh toán quốc tế bằng USD chiếm 70% số lượng. Điều này cho thấy USD có vai trò
thanh toán quốc tế ở mức cao. Việc xuất nhập khẩu đem lại nhiều USD trong lĩnh vực lưu
thông và thanh toán do vậy mà khả năng chi trả nợ tốt. Trong nước, nếu doanh nghiệp
xuất khẩu hàng hóa thu về là ngoại tệ nào thì nên vay ngân hàng ngoại tệ đó sẽ tránh
2008. Cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam năm 2011 sẽ thặng dư khoảng 1 tỷ đôla
Mỹ (trước đó Ngân hàng Nhà nước dự báo thặng dư là 2,5 tỷ đôla). Năm 2009 cán cân
thanh toán thâm hụt 9 tỷ USD, năm 2010 là 3,06 tỷ USD.
Trong trường hợp có những biến động tăng về tỉ giá thì có thể có những thiệt hại và
tổn thất nhất định đối với DN nhập khẩu, DN vay ngoại tệ và nghĩa vụ trả nợ nước ngoài
bằng ngoại tệ. Tất nhiên, việc tăng tỉ giá hối đoái cũng có lợi cho xuất khẩu, nguồn ngoại
tệ từ xuất khẩu là nguồn ngoại tệ chủ yếu để tài trợ nhập khẩu, trả nợ nước ngoài và
nguồn cung chủ yếu của một quốc gia.
Để hạn chế rủi ro, NHNN nên cần có những phân tích, dự báo tốt, công khai thông tin
và tuyên truyền chính sách để dân chúng và cộng đồng DN có lòng tin cao hơn vào VND.
Riêng các DN cần phải có dự phòng rủi ro về tỉ giá hối đoái bằng cách đa dạng hóa các
công cụ thanh toán. Nếu vay nợ nước ngoài, phải tính đến rủi ro tỉ giá hối đoái trong
4
phương án tài chính. Cụ thể, phải đưa biến động tỉ giá hối đoái dự kiến vào như là một
chỉ tiêu để tính toán đến hiệu quả của phương án đầu tư
3. Vị thế của đồng Đôla trong nền kinh tế Việt Nam:
Hình 15 : tổng dự trữ quốc tể của Việt Nam
khoản vãng lai nghiêm trọng và bùng nổ nợ công – các nhà kinh tế như Jeffrey Frankel
của Harvard và Menzie Chinn của đại học Wisconsin-Madison cho rằng euro có thể tiến
triển tốt, có lẽ sẽ vượt qua tỷ lệ của đồng đôla trong dự trữ toàn cầu vào khoảng năm
2015. Tuy nhiên, người ta sẽ tự hỏi, liệu kịch bản như thế có thực sự thể hiện sự chuyển
đổi cơ bản của trật tự toàn cầu.
Còn đồng nhân dân tệ của Trung Quốc và đồng yên Nhật thì sao? Mặc dù đồng
yên Nhật vẫn được giữ làm đồng tiền dự trữ rộng rãi ở một số khu vực trên thế giới,
nhưng sự hấp dẫn của nó đã bị ảnh hưởng đáng kể bởi thực tế kinh tế không mấy sáng
6
sủa của kinh tế Nhật Bản kể từ những năm 1990. Còn với đồng nhân dân tệ, thì ngay cả
những người ủng hộ Trung Quốc nhất cũng thừa nhận rằng phải nhiều năm nữa nền kinh
tế Trung Quốc mới có được những thuộc tính cần thiết của một đồng tiền dự trữ quốc tế,
đặc biệt là khi thị thường tài chính sâu, minh bạch, và có tính thanh khoản vẫn thu hút các
nhà đầu tư nước ngoài tới Mỹ. Trong khi đó, cũng nên nhớ rằng, dự trữ ngoại tệ bằng
đồng đôla của Trung Quốc vẫn tăng trong quý 3 năm nay.
Một ý tưởng khác khiến cho các giới quan tâm tới đồng SDR (quyền rút vốn đặc biệt,
một dạng tiền tượng trưng do IMF phát hành). Ý tưởng này cũng đang được chú ý kể từ
ngày 23/3/2009 khi Chu Tiểu Xuyên, Thống đốc Ngân hàng Trung ương Trung Quốc, đề
nghị với ngân hàng trung ương chuyển dự trữ ngoại tệ từ đồng đôla sang SDR. Và trong
cuộc họp cấp cao của G20 tại London trong tháng 4, các quốc gia tham dự đã đồng ý gói
bảo hiểm lớn 250 tỷ USD trị giá SDR.
Những tin đồn về việc một số nước đang liên kết lại với nhau để sử dụng đồng tiền
khác USD trong thanh toán các giao dịch về dầu mỏ cũng đã bị dập tắt và quan điểm cho
rằng các nước Ảrập vùng vịnh có thể vô tình đã chuẩn bị gạt đồng đôla sang một bên vì
những lợi thế thương mại không rõ ràng là ko hợp lý. Bởi, Ảrập Xêút đã có thỏa thuận từ
lâu với Mỹ về việc sẽ không hành động làm mất ổn định đồng đôla, đổi lại, Mỹ hứa bảo
đảm an ninh cho nước này trong khu vực trước những nguy cơ lớn. Điều tương tự cũng
đúng với Nhật Bản, khi nước này cũng còn gắn chặt với Mỹ trong liên minh quân sự,
cũng như thông qua mạng lưới phức tạp các quan hệ thương mại. Mặc dù Trung Quốc đã
hướng tăng và được Nhà nước điều chỉnh sát với giá thị trường tự do, điều này chứng tỏ
Nhà nước bắt đầu thả nổi tỷ giá, quan hệ cung cầu ngoại tệ đã được quan tâm đầy đủ hơn,
tuy nhiên sự thả nổi tỷ giá đã:
- Kích thích tâm lý đầu cơ ngoại tệ , nhằm mục đích hưởng chênh lệch giá.
- Tình trạng tỷ giá thường xuyên đột biến và thiếu ngoại tệ đã gây nên những cơn
lốc USD làm mất ổn định nền kinh tế
- Quản lý ngoại tệ của Chính phủ không đạt được kết quả mong muốn
- Nhà nước không kiểm soát được lưu thông ngoại tệ. Tình trạng leo thang của giá
đồng đôla đã kích thích tâm lý dự trữ đồng Đôla. Ngoại tệ vốn đã khan hiếm lại
không được dùng cho hoạt động xuất nhập khẩu mà còn bị mua bán vòng vèo giữa
các tổ chức trong nước. Giai đoạn này, ngân hàng không kiểm soát được lưu thông
ngoại tệ.
Trước tình hình đó, từ năm 1992, Chính phủ đã chọn con đường thay đổi cách
quản lý ngoại tệ và đổi mới cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái USD/VND.
b. Giai đoạn cố định tỷ giá: 1993 – 1996
Lạm phát và tỷ giá Việt Nam qua các năm 1993 – 1996
Năm Tỷ giá USD/VND So sánh % năm trước Tốc độ lạm phát (%)
1993 10.835,00 100% 5.2
1994 11.050,00 +1.98% 14.7
1995 11.040,00 0% 12.7
8
1996 11.060,00 +0.18% 4.5
(số liệu lấy từ tập san ngân hàng tháng 7/1995 đến tháng 12/1995 và từ tháng 1/1996
đến tháng 12/1996, từ tháng 1/1997 đến tháng 12/1997)
Qua bảng số liệu ta thấy tốc độ tăng tỷ giá hối đoái chậm hơn tốc độ tăng của lạm
phát vì phụ thuộc vào quan hệ cung cầu của ngoại tệ và vào cụm các nhân tố đối ngoại.
Tốc độ lạm phát tăng tổng cộng là 36.8% trong khi tỷ giá VND so với USD chỉ tăng 2%,
đưa đến thực tế giá bán hàng nội địa đã tăng trên 30% so với hàng nhập ngoạiViệc duy trì
tỷ giá ổn đinh trong thời gian dài từ 1993 – 1996 đã không khuyến khích được xuất khẩu,
5.
Tại sao WBS lại chọn đồng USD làm đồng bản vị
Sau thế chiến năm 1945, Mỹ đứng đầu thế giới về tỷ lệ dự trữ vàng (3/4 trữ lượng
vàng của thế giới được dự trữ tại các nhà băng Mỹ).
Trong giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1971, hầu hết các nước đều bán vàng mua
đồng đôla Mỹ để tăng dự trữ ngoại tệ, cũng là điều chỉnh cân bằng thương mại giữa các
nước. Thời kỳ này, đồng USD mặc nhiên được coi như một đồng tiền chung trong giao
dịch thương mại quốc tế. Thời kỳ này, giá vàng dao động quanh ngưỡng 35USD/ounce,
giá dầu ở mức 3 USD/ thùng.Vì nước Mỹ đã tích trữ lượng vàng vật chất gấp nhiều lần
quốc gia khác. Đó là món hời sau đại chiến. Khi đó Mỹ đã thu được tiền sau thế chiến,
chủ yếu là vàng, vì không có đồng tiền nước nào được đảm bảo khi mua bán với Mỹ.
Sau một thời gian kinh tế phát triển tốt dưới thỏa thuân BWS, thương mại phát triển,
dollar được người ta sử dụng rộng rãi trong thương mại quốc tế và trở thành đồng tiền
quốc tế hóa cao nhất. Chẳng nước nào lại đi đổi dollar ra vàng để tích trữ cả. Với niềm tin
sâu sắc vào đồng dollar các nước thoải mái định giá, mua bán hàng hóa, tích trữ dollar để
thay vàng
.
6. Ý nghĩa thực tiễn của vấn đề nghiên cứu:
Đôla có mặt trong hầu hết trong các hoạt động kinh tế của Việt Nam kể cả những giao
dịch trong nước. Đôla được dùng để phản ánh giá cả của nhiều loại hàng hóa, đặc biệt là
những mặt hàng được nhập khẩu và được chấp nhận là 1 phương tiện thanh toán trong
nền kinh tế. Người dân trong nước có xu hướng tích trữ và gửi tài sản của mình bằng
đồng Đôla hơn là VNĐ, đặc biệt là kể từ sau năm 2007 khi lạm phát liên tục gia tăng.
Hoạt động của các doanh nghiệp đều liên quan đến đồng Đôla. Không chỉ các doanh
nghiệp nhập khẩu mà cả các doanh nghiệp xuất khẩu cũng cần đến đồng Đôla cho việc
nhập nguyên liệu, máy móc, phụ tùng…Những khoản cho vay, đầu tư, viện trợ đều được
mang đến Việt Nam bằng USD. Có thể nói Đôla đã thâm nhập sâu vào nền kinh tế VN.
Thời gian gần đây vị thế của đồng USD trên thị trường tiền tệ thế giới đã suy giảm.