Vị thế đồng USD qua các giai đoạn. Tác động đối với Việt Nam - Pdf 59

NHÓM 1 – CH18G Vị thế đồng USD qua các giai đoạn
MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Trong những năm gần đây, xu thế toàn cầu hóa đã đẩy mạnh xuất khẩu và
đầu tư ra nước ngoài, dẫn đến những thay đổi về qui mô và quyền lực tài chính giữa
các nước phát triển và đang phát triển.
Trong khi nền kinh tế Mỹ đã đóng vai trò chính trong nền kinh tế thế giới
suốt từ sau thế chiến 2 cho đến những năm 1990, từ cuối thế kỷ qua đã chứng kiến
sự nổi lên của một số nền kinh tế lớn như Ấn Độ, Trung Quốc, Liên bang Nga,
Brazil. Những thay đổi này đã gây tác động đến dòng vốn quốc tế và tỉ giá hối đoái,
từng bước hình thành sự điều chỉnh quốc tế. Thêm vào đó, sự kiện 11/9/2001 và
cuộc chiến chống khủng bố đã tác động xấu đến cán cân thanh toán của Mỹ, mà
đỉnh cao là đổ vỡ tín dụng tại Mỹ và dẫn đến khủng hoảng tài chính toàn cầu. Chính
sự mất cân đối ngân sách kỷ lục tại Mỹ và sự nổi lên của các nền kinh tế mới nổi đã
khiến cho USD mất giá 16% tính từ tháng 3/2009 và trên 20% tính từ năm 2002 và
còn tiếp tục xuống giá. Tỉ trọng USD trong dự trữ thế giới giảm từ 72% vào năm
1999 (đồng euro bắt đầu lưu hành) xuống còn 62,8% vào quí 2/2009.
Cả thế giới đang dõi theo từng biến động của đồng USD và đã đưa ra nhiều
kịch bản cho sự biến động của đồng tiền này. Bởi lẽ, mặc dù đang có chiều hướng
đi xuống nhưng USD vẫn là đồng tiền đóng vai trò chủ đạo trong các giao dịch quốc
tế và kinh tế của Mỹ vẫn chiếm giữ vị trí số 1 của kinh tế toàn cầu. Nhận thấy đây là
một đề tài mang tính thời sự và có “sức nóng”, nhóm tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề
tài: “Vị thế đồng USD qua các giai đoạn. Tác động đối với Việt Nam”. Dưới sự
hướng dẫn nhiệt tình của Giảng viên PGS.TS Nguyễn Thị Thu Thảo, nhóm tôi đã
rất cố gắng để hoàn thành đề tài. Tuy nhiên, do thời gian và trình độ có hạn, bài viết
của nhóm không thế tránh khỏi những sai sót. Chúng tôi rất mong sẽ nhận được sự
góp ý của cô giáo và các bạn để bài viết được hoàn thiện hơn.
1
NHÓM 1 – CH18G Vị thế đồng USD qua các giai đoạn
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn!
2. Mục đích nghiên cứu

+ Chế độ bản vị vàng (tỷ giá theo ngang giá vàng)
+ Chế độ bản vị hối đoái vàng
+ Chế độ bản vị vàng thoi
- Giai đoạn sau Đại chiến Thế giới lần thứ hai, gồm:
+ Chế độ bản vị USD (chế độ tỷ giá cố định)
+ Chế độ SDR (chế độ tỷ giá thả nổi)
1.3. Quá trình hình thành và phát triển của đồng USD
Đồng đô la Mỹ là đơn vị tiền tệ chính thức của Hoa Kỳ. Hiện nay trên thế
giới ngoài Hoa Kỳ, còn có một vài quốc gia khác cũng dùng đô la Mỹ làm đơn vị
tiền tệ chính thức của mình và nhiều quốc gia khác cho phép dùng đôla Mỹ trong
thực tế (nhưng không chính thức).
1.3.1. Trước Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất
Cả thế giới sử dụng chế độ bản vị vàng. USD mới xuất hiện như đồng tiền của
một quốc gia.
3
NHÓM 1 – CH18G Vị thế đồng USD qua các giai đoạn
1.3.2. Sau Chiến tranh Thế giới lần thứ hai
Sau Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất, chế độ bản vị vàng sụp đổ. Đến khi
Chiến tranh Thế giới lần thứ hai kết thúc, đồng USD trở thành đồng tiền chủ
chốt của thế giới
1.3.3. Giai đoạn từ 1973 – 1980
Các giao dịch quốc tế dựa trên chế độ tỷ giá thả nổi mới được hình thành. Đồng
USD trở về với vai trò là một đồng tiền quốc gia, nhưng vẫn là một đồng tiền
mạnh.
1.3.4 Giai đoạn đỉnh cao 1980 – 1985
Trong giai đoạn này, USD liên tục tăng giá.
1.3.5 Sau cuộc khủng bố 11/9 và cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu cho đến
nay
Đồng USD liên tục mất giá sau cuộc khủng bố nhắm vào nước Mỹ và tiếp tục giảm
mạnh sau cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu nhưng hiện nay đang có xu hướng tăng trở

Tháng 7 năm 1944, Hoa Kỳ đã đứng ra triệu tập Hội nghị tiền tệ - tài chính
quốc tế tại thành phố Bretton-woods với sự tham gia của 44 nước để thoả thuận về
5
NHÓM 1 – CH18G Vị thế đồng USD qua các giai đoạn
việc thiết lập các quan hệ tài chính tiền tệ quốc tế mới cho thời kỳ sau chiến tranh
thế giới lần II. Được gọi là chế độ tiền tệ Bretton-woods. Nội dung chủ yếu của chế
độ tiền tệ Bretton-woods:
- Thừa nhận USD là đồng tiền chuẩn, làm trụ cột cho chế độ tiền tệ này. Nó
được coi là phương tiện dự trữ và thanh toán quốc tế, đóng vai trò chủ chốt trong
các quan hệ tiền tệ, thanh toán và tính dụng quốc tế. Nhiều thập kỷ qua, đồng đôla
vẫn là đồng tiền các nước trên thế giới có xu hướng sử dụng trong kinh doanh. Hầu
hết các ngân hàng trung ương trên thế giới giữ phần lớn lượng dự trữ ngoại tệ bằng
đồng đôla, mặt khác, hầu hết các hàng hóa được giao dịch trên toàn cầu (như dầu
lửa) cũng được định giá bằng đồng tiền của nước Mỹ này.
- Việc sử dụng USD trong thanh toán quốc tế và các quan hệ đối ngoại khác
không hạn chế, các đồng tiền của các nước khác phải liên hệ chặt chẽ với USD theo
chế độ tỷ giá cố định.
- Các nghiệp vụ về vàng được thực hiện theo 1 giá chính thức là 35 USD = 1
ounce vàng. Đô la Mỹ được tự do chuyển đổi ra vàng theo giá đó. Ngân hàng trung
ương của các nước thành viên phải can thiệp vào thị trường vàng để giữ giá vàng
chính thức luôn luôn ở mức 35 USD = 1 ounce vàng.
- Các nước phải thực hiện ngay các biện pháp thiết thực để loại trừ chế độ
kiểm soát và quản chế ngoại hối, đồng thời thiết lập chế độ tiền tệ tự do chuyển đổi.
- Thiết lập một tổ chức tiền tệ quốc tế nhằm điều chỉnh các quan hệ tiền tệ -
tài chính quốc tế theo những nguyên tắc của chế độ tiền tệ Bretton-woods.
2.1.3. Giai đoạn từ năm 1973 đến những năm 1980
Qua 2 lần phá giá USD, năm 1973, Mỹ và các quốc gia khác đã chấp thuận
cho phép tỷ giá hối đoái thả nổi. Chế động tiền tệ Bretton Woods sụp đổ. Hệ thống
tiền tệ thế giới hình thành nên 1 số chế độ tiền tệ mới:
6

đến nay
Sau sự kiện khủng bố tại Mỹ và sự ra đời chính thức của đồng Euro, đồng
USD liên tục mất giá so với các các ngoại tệ khác và vàng (trong 05 năm qua, đồng
USD đã mất giá 25%). Đồng euro ngày càng được các công ty cũng như các chính
phủ từ Trung Quốc đến Trung Đông chấp nhận nhiều hơn như một ngoại tệ dự trữ .
Đồng đô la Mỹ có lúc trồi sụt, gây thiệt hại kinh tế, mất an toàn cho nền tài chính
tiền tệ các nước và nhiều nước chủ trương thay thế vị trí độc tôn của USD bằng
euro. Theo Quỹ Tiền tệ thế giới (IMF), dự trữ ngoại tệ toàn cầu trong quí 1 -2006
xấp xỉ 4,34 ngàn tỷ USD. Trong số đó, đồng USD chiếm 66,3% và đồng euro
24,8%. Kinh tế toàn cầu, vốn đang bị tác động bởi cuộc khủng hoảng thị trường tài
chính và sự suy giảm kinh tế của Mỹ, hiện đang đứng trước mối nguy hiểm, với
đồng USD giảm giá và vượt khỏi tầm kiểm soát. Thêm vào đó là mối lo sợ các ngân
hàng trung ương đột ngột tung nguồn dự trữ USD không lồ của họ ra để mua các
phương tiện dự trữ khác thay thế và các nước Trung Đông có thể từ bỏ chế độ tỷ giá
gắn kết với USD.
Sự kiện 11/9/2001 và cuộc chiến chống khủng bố đã tác động xấu đến cán
cân thanh toán của Mỹ, mà đỉnh cao là đổ vỡ tín dụng tại Mỹ và dẫn đến khủng
hoảng tài chính toàn cầu. Chính sự mất cân đối ngân sách kỷ lục tại Mỹ và sự nổi
lên của các nền kinh tế mới nổi đã khiến cho USD mất giá 16% tính từ tháng 3/2009
và trên 20% tính từ năm 2002 và còn tiếp tục xuống giá. Tỉ trọng USD trong dự trữ
thế giới giảm từ 72% vào năm 1999 (đồng euro bắt đầu lưu hành) xuống còn 62,8%
vào quí 2/2009.
Trong thời gian qua, thị trường tiền tệ thế giới có nhiều biến động với
việc đồng USD giảm giá kỷ lục so với các đồng tiền chủ chốt cũng như so với các
đồng tiền châu Á khác. Trong giai đoạn từ tháng 7 đến tháng 9/2007, giá trị đồng
USD đã giảm 5,4% so với đồng Euro và giảm 6,8% so với đồng Yen Nhật. Kể từ
đầu năm 2007 tới nay, đồng USD nhìn chung đã mất giá khoảng 16%.
8
NHÓM 1 – CH18G Vị thế đồng USD qua các giai đoạn
Đồng USD liên tục xuống dốc không phanh trong những tháng cuối năm

Mỹ trong năm 2006 tương đương 6% GDP, mức cao chưa từng có trong lịch sử
nước này. Trong khi đó, một số nước châu Á như Trung Quốc và Nhật Bản lại đạt
thặng dư thương mại ngày càng lớn. Năm 2006, thặng dư thương mại của Nhật Bản
đạt 3,9% GDP, trong khi con số này của Trung Quốc là 9,4% GDP. Các số liệu Hải
quan Trung Quốc cũng cho biết khối lượng thặng dư mậu dịch của nước này trong 9
tháng đầu năm đã lên tới 185,7 tỷ USD, vượt qua cả số lượng thặng dư mậu dịch
của cả năm 2006 (177,47 tỷ USD). Dự đoán thặng dư thương mại năm 2007 của
Trung Quốc sẽ tăng lên 250 - 300 tỷ USD. Xu hướng thâm hụt thương mại kéo dài
đã tạo nên áp lực khiến đồng USD tiếp tục giảm giá.
- Một nhân tố khác cũng có tác động đồng thời lên đồng USD là đầu tư trực tiếp
nước ngoài (FDI). Đồng USD yếu đã kích thích luồng vốn lớn từ nước ngoài đổ vào
Mỹ. Nhờ vào việc đồng Euro có sức mua mạnh, các doanh nghiệp trong khu vực
Eurozone và Anh có thể đẩy mạnh chuyển hướng đầu tư và mua lại các công ty Mỹ.
Năm 2000, khi người ta bắt đầu đề cập tới vấn đề đồng Euro yếu, châu Âu đã đầu tư
125 tỷ USD vào Mỹ dưới dạng FDI. Năm 2006, con số này đã giảm xuống chỉ còn
122 tỷ USD và trong 6 tháng đầu năm 2007 mới chỉ có 12,1 tỷ USD được giải ngân
trong lĩnh vực này. Trong khi đó, luồng FDI từ Mỹ sang châu Âu đã tăng từ 77 tỷ
USD năm 2000 lên 127 tỷ USD năm 2006, và trong 6 tháng đầu năm 2007, con số
này cũng đã đạt 85 tỷ USD. Như vậy, tính từ năm 2006 đến nay, dòng vốn FDI có
xu hướng chảy từ Mỹ sang châu Âu. Và xu hướng này cũng đã được kiểm chứng
trên phạm vi toàn cầu khi mà trong 6 tháng đầu năm 2007, lượng vốn FDI vào Mỹ
là 85 tỷ USD, trong khi lượng vốn chạy ra khỏi Mỹ lại lên tới 150 tỷ USD. Thêm
vào đó là cán cân tài khoản vãng lai bị thâm hụt từ năm 1989 khiến cho các luồng
tài chính phải chịu sức ép không thuận lợi của việc đồng USD mất giá.
10
NHÓM 1 – CH18G Vị thế đồng USD qua các giai đoạn
Đồng USD ngay lập tức bị ảnh hưởng sau khi vài quan chức ngân hàng Trung Quốc
phát biểu rằng Trung Quốc có thể thay đổi cơ cấu tiền tệ của kho dự trữ ngoại hối
khổng lồ. Tính đến cuối tháng 9/2007, dự trữ ngoại tệ của quốc gia này đã lên tới
1.430 tỷ USD, tăng 45,1% so với cùng kỳ năm ngoái. Nhiều đối tác làm ăn của

tổn thất về giá trị tài sản cho các kho dự trữ ngoại tệ của các nước này. IMF cho biết
các kho dự trữ ngoại tệ trên toàn cầu hiện tăng từ 2.000 tỷ USD trong quý II/2002
lên 5.700 tỷ USD đến quý II/2007. Hơn thế nữa, 2/3 trong tổng số quỹ dự trữ ngoại
tệ trên toàn thế giới nằm trong tay 6 nền kinh tế như Trung Quốc, Nhật Bản, Đài
Loan, Hàn Quốc, Nga và Singapore.
Theo các chuyên gia kinh tế, việc nhiều đồng tiền của các nước châu Á tăng giá so
với đồng USD trong năm nay đã khiến cho hàng hóa xuất khẩu trở nên đắt đỏ hơn
và lượng ngoại tệ dự trữ bị giảm giá trị. Giá trị đồng USD sụt giảm sẽ khiến cho các
mặt hàng xuất khẩu của các nước châu Á trở nên đắt đỏ hơn đối với người tiêu dùng
ở Mỹ. Ấn Độ và Thái Lan là những nước đáng lo ngại nhất, vì tỷ giá hối đoái sẽ tạo
lợi thế cho hàng hóa của Trung Quốc so với hàng hóa của hai nước này trên thị
trường thế giới. Tuy nhiên, chính phủ các nước châu Á không quá lo ngại đối với
vấn đề giá cả hàng hóa xuất khẩu đắt đỏ hơn, một phần vì đa số các đồng tiền trong
khu vực đều tăng giá so với đồng USD. Các chuyên gia cho rằng, sự sụt giảm lượng
hàng hóa xuất khẩu sang Mỹ có thể bù lại bằng việc xuất khẩu sang châu Âu, châu
Phi và Mỹ Latinh. Bên cạnh đó, chính phủ các nước châu Á được hưởng lợi từ việc
đồng nội tệ tăng giá vì điều này sẽ giúp họ mua dầu mỏ - được bán với giá tính
bằng USD - rẻ hơn. Nhiều nước cũng mua được hàng hóa của Mỹ với giá rẻ hơn,
giúp những nước phụ thuộc vào nhập khẩu như Singapore có thể bù đắp lại sự gia
tăng giá cả của một số mặt hàng nhập khẩu.
Đồng USD yếu khiến các mặt hàng được giao dịch bằng USD như dầu thô trở nên
rẻ hơn đối với những khách hàng sử dụng đồng tiền có giá trị hơn và do đó khuyến
khích nhu cầu tiêu thụ. Điều này giúp bù đắp giá dầu đang ở mức cao kỷ lục trên thị
12
NHÓM 1 – CH18G Vị thế đồng USD qua các giai đoạn
trường thế giới. Tuy nhiên, đồng USD yếu sẽ làm giảm giá trị doanh thu từ xuất
khẩu dầu của các nước khai thác dầu thô lớn. Thực tế này khiến Tổ chức các nước
Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) không vội vã tăng sản lượng một lần nữa, mặc dù
nguồn cung trên thị trường thế giới đang eo hẹp. Cho đến nay, nền kinh tế Khu vực
đồng Euro vẫn chưa phải hứng chịu tác động của sự bất ổn về tỷ giá hối đoái,

Đồng đô la còn được dùng làm đơn vị tiêu chuẩn trong các thị trường quốc
tế cho các mặt hàng như vàng và dầu hỏa. Ngay cả các công ty ngoại quốc ít buôn
bán tại Hoa Kỳ, như Airbus, liệt kê và bán sản phẩm của họ bằng đô la (tuy trong
trường hợp này một số người cho rằng lý do là vì các doanh nghiệp Hoa Kỳ đang
thống trị ngành hàng không).
Vào thời điểm này, đồng đô la Mỹ vẫn là đơn vị tiền dự trữ hàng đầu, hầu
hết trong đơn vị $100. Phần đông tiền giấy Hoa Kỳ đang ở ngoài Hoa Kỳ. Theo
kinh tế gia Paul Samuelson, nhu cầu cho tiền đô la cho phép Hoa Kỳ giữ sự thiếu
hụt trong xuất-nhập khẩu mà không dẫn đến sự suy sụp của đồng tiền.
Không lâu sau khi đồng euro (€; mã ISO 4217 EUR) được ra mắt như tiền
mặt trong năm 2002, đồng đô la đã bị từ từ giảm giá trên thị trường quốc tế. Sau khi
đồng euro lên giá trong tháng 3 năm 2002, việc thiếu hụt trong chi tiêu và thương
mại của Hoa Kỳ ngày càng gia tăng. Đến Giáng Sinh năm 2004 đồng đô la đã tụt
giá thấp nhất đối với các đơn vị tiền quan trọng khác, đặc biệt là đồng euro. Đồng
euro lên giá cao hơn $1,36/€ (dưới 0,74€/$) lần đầu tiên cuối năm 2004, khác hẳn
với đầu năm 2003 ($0,87/€). Bắt đầu từ cuối tháng 5 đến đầu tháng 6 năm 2005
đồng đô la lại lên giá nhanh chóng so với đồng euro sau khi nền kinh tế các nước
châu Âu đang ứ đọng và Hiến pháp Liên minh châu Âu không được phê chuẩn
trong cuộc trưng cầu dân ý ở hai nước Pháp và Hà Lan. Trong khi tỷ lệ thất nghiệp
tại các nước sử dụng euro và sự phát triển kinh tế bị chậm lại tại các nước thuộc
14


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status