PP đổi mới trong dạy Tiếng Anh - Pdf 16

Một số vấn đề Đổi mới phơng pháp dạy học
môn tiếng anh trung học cơ sở
Phần I. đề cơng tập huấn
Chủ đề 1: Định hớng đổi mới PPDH môn tiếng Anh THCS
1. Quan điểm đổi mới PPDH
2. Bản chất của tích cực hoá hoạt động học tập của HS trong dạy học ngoại ngữ
3. Những căn cứ của đổi mới PPDH
4. Giải pháp đổi mới PPDH tiếng Anh THCS
5. Vận dụng một số PPDH theo định hớng đổi mới và sử dụng TBDH
Chủ đề 2: Kĩ thuật mở bài; Giới thiệu ngữ liệu mới; Luyện tập Ngữ pháp
1. Mở bài Gây không khí học tập
2. Giới thiiêụ ngữ liệu mới
3. Luyện tập ngữ pháp
Chủ đề 3: Luyện kĩ năng Nói
1. Ba bớc luyện Nói
2. Ví dụ minh hoạ (Tiết dạy Nói, Unit 1, lớp 8)
Chủ đề 4: Luyện kĩ năng Nghe hiểu
1. Ba bớc luyện Nghe hiểu
2. Xem băng và thảo luận (Tiết dạy Nghe hiểu, Unit 2, lớp 9)
Chủ đề 5: Luyện kĩ năng viết
1. Ba bớc luyện Viết
2. Ví dụ minh hoạ (Tiết dạy viết, Unit 4, lớp 9)
Chủ đề 6: Luyện kĩ năng Đọc hiểu
1. Thực hiện 3 bớc dạy các kĩ năng (nói chung)
2. Ba bớc luyện Đọc hiểu
3. Xem băng và thảo luận (Tiết dạy Đọc hiểu, Unit 9, lớp 8)
Phụ lục 1: Vận dụng một số PPDH và sử dụng TBDH
Phụ lục 2: Giáo án minh hoạ: Giới thiệu ngữ liệu mới (Unit 8, lớp 6)
Phụ lục 3: Giáo án minh hoạ: Luyện Ngữ pháp (Unit 4, lớp 9)
Phụ lục 4: Giáo án minh hoạ: Luyện kĩ năng Nói (Unit 1, lớp 8)
Phụ lục 5: Giáo án minh hoạ: Luyện kĩ năng viết (Unit 4, lớp 9)

sẽ tự giác học tập, chủ động huy động vốn kinh nghiệm đã tích luỹ (vốn từ, quy tắc ngữ pháp,
) để bắt ch ớc, tái hiện, tìm tòi cách ứng xử và ứng xử sáng tạo trong các tình huống giao
tiếp.
2
Học sinh chủ động lựa chọn kiến thức và thao tác t duy thích hợp để có những ứng xử ngôn
ngữ cần thiết, phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp.
Học sinh biết bộc lộ nhận thức và sự hiểu biết của mình ra bên ngoài bằng lời nói, bài viết
thông qua ngoại ngữ.
Học sinh biết cách làm việc theo cặp, theo nhóm, hợp tác với bạn khi cần thiết trong quá trình
luyện tập ngôn ngữ theo yêu cầu và nhiệm vụ của thày giao.
Học sinh biết cách tự học, biết chủ động trình bày những ý định của mình thông qua giao tiếp
nói hoặc viết.
Trên đây là một số nét biểu hiện chính của PPDH mới. Đây cũng chính là những năng lực và
phẩm chất mà ngời giáo viên cần phải hình thành và phát triển ở học sinh trong quá trình học tập
ngoại ngữ.
3. Nhng cn c ca i mi PPDH ngoi ng
i mi PPDH cn phi cn c vo c im ca mụn ngoi ng v c im tõm sinh lý
ca hc sinh:
3.1. Căn cứ vào đặc điểm của môn ngoại ngữ nói chung:
- Quan điểm giao tiếp là quan điểm đặc thù của môn ngoại ngữ trong nhà trờng. Quan điểm giao
tiếp quy định tính giao tiếp của hoạt động dạy học ngoại ngữ.
- Môn ngoại ngữ đòi hỏi nhận thức và giải quyết hợp lý mối quan hệ giữa kiến thức ngôn ngữ và kĩ
năng ngôn ngữ hai thành tố chủ yếu của nội dung dạy học. Kĩ năng là trung tâm, là mục đích
cuối cùng của quá trình dạy học. Kiến thức là điều kiện, là phơng tiện, là nền tảng. Chỉ có kiến thức
mà không có kĩ năng thì không có khả năng giao tiếp, ngợc lại, chỉ có kĩ năng mà không có kiến
thức thì khả năng giao tiếp bị hạn chế và không phát triển đợc.
- Dạy học ngoại ngữ thực chất là hoạt động rèn luyện năng lực giao tiếp dới các dạng: nghe, nói,
đọc, viết. Muốn rèn luyện đợc năng lực giao tiếp cần có môi trờng với những tình huống đa
dạng của cuộc sống. Môi trờng này chủ yếu do giáo viên tạo ra dới dạng những tình huống giao
tiếp và học sinh phải tìm cách ứng xử bằng ngoại ngữ cho phù hợp với từng tình huống giao tiếp

PPDH ting Anh theo nh hng tớch cc hoỏ hot ng hc tp
Ngy nay, ngi ta c bit quan tõm ti vic ỏp dng phng phỏp Giao tip vo quỏ trỡnh
ging dy ting Anh. Giỏo viờn luụn luụn coi trng vic hỡnh thnh v u tiờn phỏt trin cỏc k nng
giao tip (nghe, núi, c v vit). ng thi, vic cung cp kin thc ngụn ng (ng õm, t vng v
ng phỏp) l quan trng, gúp phn hỡnh thnh v phỏt trin cỏc k nng giao tip. Chớnh vỡ vy, phng
phỏp Giao tip, chng mc nht nh, ó phỏt huy c u im ca nú, thc s giỳp cho hc sinh
cú kh nng s dng c ting Anh giao tip.
Vic ỏp dng phng phỏp Giao tip (cú s kt hp vi cỏc phng phỏp dy hc khỏc)
trong quỏ trỡnh ging dy ting Anh THCS c thc hin nh sau:
Cả 4 kỹ năng ngôn ngữ (nghe, nói, đọc và viết) đều đợc quan tâm và đợc phối hợp trong các
bài tập và các hoạt động trên lớp.
Kỹ năng nghe luôn đợc sử dụng (phối hợp với kỹ năng đọc) để giới thiệu ngữ liệu hoặc nội dung
bài học mới. Ngoài ra, kỹ năng nghe còn đợc rèn luyện từng bớc thông qua các bài tập nghe khác nhau
nh nghe lấy ý chính, nghe hiểu các thông tin chi tiết, nghe để đoán nghĩa qua ngữ cảnh,vv .
4
Kỹ năng nói đợc dạy phối hợp với ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng, chức năng ngôn ngữ và với các kỹ
năng khác, thông qua các bài hội thoại/ mẫu hội thoại ngắn hoặc các nội dung chủ điểm của bài.
Kỹ năng đọc, ngoài ý nghĩa đợc sử dụng làm phơng tiện giới thiệu nội dung và ngôn ngữ mới, còn đ-
ợc phát triển thông qua các bài tập đọc có mục đích khác nhau nh đọc hiểu nội dung chi tiết, đọc lớt, đọc lấy ý
chính, đọc tìm thông tin cần thiết, vv; với các loại bài khoá có văn phong khác nhau nh văn bản viết, văn bản
nói, bài hội thoại, bài văn xuôi, bài văn vần, quảng cáo, bảng biểu, mẫu khai, vv .
Kỹ năng viết cơ bản đợc dùng để củng cố vốn ngữ liệu đã đợc học. Ngoài ra, còn có những
bài tập dạy viết có mục đích nh viết th cá nhân, điền các mẫu khai, viết báo cáo ở dạng đơn giản, viết
một đoạn văn ngắn có gợi ý, dựa vào bài đã học về một chủ điểm, hay bày tỏ quan điểm về một nhận
định hoặc ý kiến đa ra.
Ngữ liệu mới đợc giới thiệu theo chủ điểm và thông qua hoạt động nghe và đọc; sau đó đợc
luyện tập thông qua cả 4 kỹ năng. Có nghĩa là sẽ không có các mục dạy tách biệt cho ngữ âm, ngữ
pháp hay từ vựng trong từng bài học mà các yếu tố ngôn ngữ sẽ đợc dạy lồng ghép với nhau và phối
hợp với việc phát triển các kỹ năng. Cụ thể là:
Ngữ pháp đợc xuất hiện theo chủ đề và tình huống của bài học và đợc luyện tập trong ngữ

gây hứng thú cho bài học mới;
giúp học sinh liên hệ những điều đã học với bài học mới;
chuẩn bị về kiến thức cần cho bài học mới;
tạo tình huống, tạo ngữ cảnh cho phần giới thiệu bài tiếp theo;
tạo nhu cầu giao tiếp, hay tạo mục đích cho một hoạt động giao tiếp kế tiếp.
1.2. Các hình thức và thủ thuật vào bài
Tuỳ theo mục đích và đặc thù của giờ dạy, đồng thời tuỳ theo đối tợng học sinh cụ thể của
mình, giáo viên có thể lựa chọn những hoạt động hay thủ thuật vào bài cho phù hợp.
Giáo viên có thể tham khảo một số gợi ý sau:
1.2.1. Tạo môi trờng thuận lợi cho bài học
a) Thiết lập không khí dễ chịu giữa thày và trò ngay giờ phút vào lớp:
chào hỏi học sinh;
tự giới thiệu về mình;
hỏi chuyện thông thờng tự nhiên;
kể chuyện vui
b) Tạo thế chủ động, tự tin cho học sinh:
thăm hỏi học sinh;
tạo cơ hội cho học sinh đợc giới thiệu/nói về mình, hỏi các câu hỏi đáp lại
c) ổn định lớp, tập trung sự chú ý, gây hứng thú bằng cách bắt đầu ngay bằng một hoạt động học tập
nào đó liên quan đến bài học, ví dụ:
A short listening task;
Observing a picture then ask and answer about the picture;
A riddle
A language game (crosswords, noughts and crosses, etc)
A challenging task on vocabulary,
1.2.2. Chuẩn bị tâm lý và kiến thức cho bài học mới
6
a) Khai thác kiến thức đã biết của học sinh bằng thủ thuật gợi mở (eliciting), hay nêu vấn đền
để cả lớp đóng góp ý kiến (brainstorming).
b) Liên hệ những vấn đề của bài cũ có liên quan đến bài mới, có thể bằng các hình thức khác

Dựa vào tranh ở mục đầu của bài, hỏi, gợi ý về chủ đề mới:
- Sử dụng tranh ảnh, bản đồ, vật thực tự chuẩn bị thay cho tranh trong sách để gây hấp dẫn.
- Hỏi các kiến thức bài cũ có liên quan đến bài mới.
- Khai thác các kiến thức có sẵn của học sinh.
- Liên hệ đến thực tế của chính học sinh, của địa phơng hay các tình huống gần gũi với học
sinh và thay thế các tình huống trong sách nếu cần.
Khi tiến hành phần này, giáo viên cần chú ý một số điểm sau:
Có thể sử dụng cả tiếng Anh và tiếng Việt.
Cần tạo cơ hội cho học sinh hỏi lại giáo viên hoặc hỏi lẫn nhau để gây hứng thú, phát huy
tính tích cực của học sinh.
Luôn quan tâm đến tâm lý lứa tuổi và sở thích của học sinh để đa ra những thủ thuật phù
hợp, ví dụ nh kích thích trí tò mò, yêu cầu đoán tranh, đoán câu trả lời v.v
Cần chú ý thay đổi hình thức mở bài để gây hứng thú cho học sinh.
2. Giới thiệu ngữ liệu mới
Giới thiệu ngữ liệu mới là làm rõ nghĩa, cách phát âm, cấu trúc hình thái, và cách dùng của một
mục dạy nào đó trong một ngữ cảnh nhất định. Mục dạy có thể là các mẫu lời nói, từ vựng hay ngữ pháp,
hoặc một nội dung chủ điểm nào đó, thờng đợc giới thiệu thông qua một bài hội thoại hay một bài khoá,
hoặc những tình huống có sự hỗ trợ của giáo cụ trực quan.
Với phơng pháp dạy học mới, công việc giới thiệu ngữ liệu không còn thuần tuý chỉ là việc thày giải
thích nghĩa của từ mới (mà phần lớn giáo viên thờng thực hiện bằng cách cho nghĩa tiếng Việt) và giải
thích các quy tắc ngữ pháp và các mẫu câu. ở phần này, ngời giáo viên còn cần phải đồng thời làm rõ
cách sử dụng của các mẫu câu hoặc từ mới đó trong ngữ cảnh. Chỉ khi đợc giới thiệu trong ngữ cảnh,
nghĩa và cách sử dụng của các ngữ liệu cần dạy mới đợc làm sáng tỏ. Nh vậy, nội dung cần giới thiệu ở
bớc giới thiệu ngữ liệu là:
Hình thái (Form: pronunciation; spelling; grammar)
Ngữ nghĩa (Meaning)
Cách sử dụng (Use)
Một đặc điểm nổi bật của phơng pháp mới trong việc giới thiệu ngữ liệu là phơng pháp mới rất chú
trọng tới việc phải làm sao cho học sinh tiếp thụ bài học không chỉ qua nghe thụ động mà còn đợc vận động
trí óc, chủ động tham gia vào quá trình của họat động này qua nhiều hoạt động ngôn ngữ khác nhau.

dịch ra tiếng Việt (nếu phù hợp và cần thiết)
2.4. Tóm tắt các bớc giới thiệu ngữ liệu mới
Các bớc giới thiệu ngữ liệu mới có thể đợc tóm tắt theo một tiến trình nh sau:
1) Giới thiệu ngữ nghĩa và cách sử dụng của ngữ liệu: cấu trúc ngữ pháp/ từ mới/ mẫu câu chức
năng qua tình huống, ngữ cảnh, mẫu hội thoại, tranh ảnh
2) Nêu bật cấu trúc/ từ/ mẫu câu chức năng mới bằng cách đọc to cho học sinh nghe nhắc lại hoặc
bằng các thủ thuật khác nhằm hớng sự chú ý của học sinh vào những mục dạy đó.
3) Viết các cấu trúc/ từ mới lên bảng, làm rõ hình thái cấu trúc, giải thích nếu cần.
9
4) Làm rõ thêm nghĩa và cách sử dụng bằng cách tiếp tục đa thêm các tình huống hoặc các ví dụ
khác.
5) Lặp lại tơng tự bớc 2 hoặc cho học sinh tái tạo theo gợi ý.
6) Kiểm tra mức độ hiểu bài của học sinh sử dụng các thủ thuật kiểm tra hiểu nh gợí ý ở mục 2.3.
Khi giáo viên nhận thấy học sinh đã làm tốt đợc bớc 6. thì có thể chuyển sang phần luyện tập
sáng tạo hơn với các loại bài tập mang tính giao tiếp hơn.
Tuy nhiên, cần phải lu ý rằng không phải lúc nào việc giới thiệu ngữ liệu cũng phải tuân theo tuần tự tiến
trình trên. Ví dụ, ngay sau bớc 2. nếu giáo viên cảm thấy học sinh đã hiểu và có thể làm tốt các bài tập
tái tạo thì có thể chuyển ngay sang bớc 6. Hoặc công việc của bớc 3. cũng có thể để lui lại để thực hiện
vào cuối bài ở bớc củng cố bài, sau khi học sinh đã làm các bài tập thực hành.
2.5. Giới thiệu từ vựng - Những điểm lu ý thêm
Tiến trình giới thiệu ngữ liệu đợc trình bày ở trên có thể đợc coi là tiến trình chung cho việc giới
thiệu ngữ liệu mới. Tuy nhiên, cách giới thiệu từ vựng cũng có những đặc thù riêng. Phần này sẽ trình
bày một số điểm cần lu ý khi giới thiệu từ mới.
2.5.1. Chọn từ để dạy
Thông thờng trong một bài học sẽ luôn luôn có từ mới. Song không phải từ mới nào cũng cần đa
vào dạy nh nhau. Để lựa chọn từ để dạy, giáo viên cần xem xét các câu hỏi sau:
a) Từ chủ động hay từ bị động?
Từ chủ động (active/ productive vocabulary) là những từ học sinh hiểu, nhận biết và sử dụng đợc
trong giao tiếp nói và viết.
Từ bị động (passive/ receptive vocabulary) là những từ học sinh chỉ hiểu và nhận biết đợc khi

bài của học sinh.
2.6. Tăng cờng sự tham gia của học sinh ở bớc giới thiệu ngữ liệu mới
Nh đã đề cập, điểm nổi bật ở phơng pháp mới là tạo cho học sinh đợc tham gia vào quá trình giới
thiệu ngữ liệu mới.
Trong giai đoạn giới thiệu ngữ liệu mới, thông thờng giáo viên đóng vai trò chính, vai trò truyền
thụ, học sinh đóng vai tiếp nhận, thụ động là chủ yếu. Tuy nhiên, nếu giáo viên tạo đợc điều kiện cho
học sinh tham gia vào quá trình này, kết quả tiếp thu bài của các em sẽ tốt hơn nhiều.
Để làm đợc điều đó, giáo viên cần tìm kiếm và sử dụng những thủ thuật phát huy sự chủ động
suy đoán, tự phát hiện của học sinh. Ví dụ, phát hiện và nhận biết cấu trúc hay từ mới và tự rút ra mẫu
cấu trúc của các mục ngữ pháp, hoặc đoán nghĩa từ trong ngữ cảnh, tự giải thích nghĩa từ bằng vốn từ có
sẵn, cho từ đồng nghĩa, hoặc trái nghĩa,v.v.
2.7. Sử dụng phối hợp các kỹ năng trong khi giới thiệu ngữ liệu mới
Trong quá trình giới thiệu ngữ liệu, giáo viên nên phối hợp nhiều các kỹ năng với nhau để giới
thiệu mục dạy, ví dụ giới thiệu qua nói, sau đó học sinh nghe và nhắc lại; học sinh nhìn mẫu đợc viết
trên bảng, hoc sinh tái tạo qua nói, nghe, viết , đọc; học sinh xây dựng các bài hội thoại theo mẫu qua
nói nghe trong nhóm sau đó viết lại hoặc ngợc lại, chuẩn bị qua viết, sau đó nói lại; học sinh viết các câu
trả lời trên giấy trong/ bảng con, sau đó đa ra trớc lớp để đợc nhận xét, v.v.
11
2.8. Ví dụ minh hoạ: Tiết dạy giới thiệu ngữ liệu - Unit 8, Lớp 6 (xem phụ lục 2).
3. Luyện tập ngữ pháp
Phần cuối cùng của mỗi đơn vị bài học là phần Language Focus, nhằm giúp hệ thống hoá,
củng cố và luyện tập sử dụng các chức năng ngôn ngữ, các điểm ngữ pháp và từ vựng đã xuất hiện
trong các bài đã học. Tuỳ theo nội dung từng bài tập, giáo viên có thể lựa chọn những loại bài để học
sinh thực hiện trên lớp hay hớng dẫn cho các em về làm tại nhà. Tuy nhiên, phần hệ thống hoá, củng
cố và chữa bài là khâu quan trọng. Qua những bài tập này, giáo viên có thể rút ra đợc những mặt
mạnh và mặt yếu của học sinh và có kế hoạch củng cố, bồi dỡng thêm cho các em.
Khi thực hiện các bài tập ở phần này, cần cho học sinh liên hệ lại những tình huống hay ngữ cảnh
mà các mục ngữ pháp, hay chức năng ngôn ngữ này đã đợc xuất hiện trong các mục trớc của bài học để
qua đó có thể làm rõ ý nghĩa các ngữ liệu đó và hệ thống hoá đợc tốt hơn. Đây là lúc giáo viên có thể giải
thích, tóm tắt hay chốt lại các điểm ngữ pháp đã xuất hiện trong bài một cách kỹ lỡng hơn.

b) Bớc luyện tập (practice):
Học sinh thực hiện các bài tập có kiểm soát (controlled practice) đến các bài tập mở, tự do
hơn (less controlled practice).
c) Bớc vận dụng (production):
Học sinh đợc khuyến khích vận dụng các cấu trúc câu (hiện tợng ngữ pháp) vừa học trong
những tình huống giao tiếp mới hoặc kết hợp nhiều kiến thức ngôn ngữ đã học với nhau. Cũng trong
bớc luyện tập này học sinh chuyển sự chú ý từ hình thức ngôn ngữ (accuracy) sang nội dung giao tiếp
(fluency).
3.3 Ví dụ minh hoạ, tiết dạy Language focus, Unit 4, Lớp 9 (xem phụ lục 3)
13
Chủ đề 3: Luyện kĩ năng nói
1. Ba bớc luyện nói
Sau phần giới thiệu ngữ liệu (ở lớp 8 và lớp 9) là phần luyện tập nói (Speak), với các hình thức
bài tập và hoạt động ở mỗi bài có khác nhau nhằm luyện tập sử dụng các trọng tâm cấu trúc ngữ
pháp, hay từ vựng để diễn đạt các chức năng ngôn ngữ theo các chủ đề và tình huống có liên quan
đến bài học.
Quy trình luyện nói bao gồm:
a) Chuẩn bị nói (Pre-speaking)
Giới thiệu bài nói mẫu (Những phát ngôn riêng lẻ hay một bài hội thoại).
Yêu cầu học sinh luyện đọc (Chú ý cách phát âm và nghĩa của từ mới)
Giáo viên dùng câu hỏi gợi mở để HS tự rút ra cách sử dụng từ và cấu trúc câu.
Giáo viên yêu cầu bài nói.
b) Luyện nói có kiểm soát (Controlled practice)
Học sinh dựa vào tình huống gợi ý (qua tranh vẽ, từ ngữ, cấu trúc câu cho sẵn hoặc bài hội
thoại mẫu) để luyện nói theo yêu cầu.
HS luyện nói theo cá nhân/ cặp /nhóm dới sự kiểm soát của của GV (sửa lỗi phát âm, lỗi ngữ
pháp, gợi ý từ )
GV gọi cá nhân hoặc cặp HS trình bày (nói lại) phần thực hành nói theo yêu cầu.
c) Luyện nói tự do (Free practice/ Production)
HS nói về kinh nghiệm bản thân, bạn bè, ngời thân trong gia đình hoặc về quê hơng, đất nớc

Chia quá trình nghe thành từng bớc nếu cần. Ví dụ, nghe lần thứ nhất: nghe ý chính, trả lời các
câu hỏi đại ý; nghe lần thứ hai: nghe chi tiết nội dung; có thể cho HS nghe thêm lần thứ ba để tự
tìm hết đáp án hay tự sửa lỗi trớc khi giáo viên sửa lỗi và cho đáp án.
Lu ý: Nên cho nghe hết cả nội dung bài, không dừng từng câu một (trừ trờng hợp câu khó muốn
cho HS tìm thông tin chi tiết chính xác)
c) Sau khi nghe (Post-listening):
Các bài tập ứng dụng, chuyển hoá tơng tự nh các bài tập sau khi đọc.
Cần phối hợp nhiều cách kiểm tra các đáp án nh: để HS hỏi lẫn nhau, trao đổi đáp án và chữa
chéo, hay một HS hỏi trớc lớp và chọn ngời trả lời trớc khi GV cho đáp án cuối cùng.
2. Xem băng (Unit 2 Grade 9) và thảo luận
15
Chủ đề 5: Luyện kĩ năng viết
1. Ba bớc luyện viết
a) Trớc khi viết (Pre-writing)
Giới thiệu bài viết mẫu (phần a).
Yêu cầu học sinh đọc kĩ để tìm hiểu cấu trúc của bài viết (lu ý cách diễn đạt ngôn ngữ trong
văn bản viết).
GV cần làm rõ nghĩa từ mới và mẫu câu.
b) Trong khi viết (While-writing)
GV nêu yêu cầu bài viết (phần b) và có thể cho gợi ý.
HS thảo luận theo cặp hoặc nhóm, sau đó cá nhân HS tự viết.
HS cần bám sát bài viết mẫu, các gợi ý để viết theo yêu cầu.
GV gọi vài HS (đại diện nhóm) trình bày bài viết trớc lớp (có thể ding OHP).
GV sửa lỗi và đa ra đáp án gợi ý.
c) Sau khi viết (Post-writing)
HS có thể trình bày lại bài viết (dới dạng nói).
GV có thể yêu cầu HS viết một bài theo tình huống gợi ý tơng tự (bài viết mới liên hệ thực tế,
mang tính sáng tạo và tự do hơn).
Nói tóm lại, các bài luyện viết thờng bắt đầu bằng một bài mẫu ở mục a). Thông qua hoạt
động đọc hiểu, học sinh nắm bắt cách trình bày viết một bài viết theo mục đích hay yêu cầu nhất

Thực hiện các bài tập thông qua một trong những kỹ năng để từ đó có thể thực hiện các kỹ
năng khác (ví dụ, nghe trớc khi nói về một chủ điểm nào đó; nói trớc khi viết, hoặc đọc trớc
khi viết v.v )
b) Các hoạt động trong khi thực hiện bài:
Các hoạt động ở bớc này gồm các yêu cầu bài tập giúp học sinh thực hành các kỹ năng đặt ra.
Các yêu cầu bài tập có thể là các câu hỏi đọc hiểu hay nghe hiểu; sắp xếp trật tự nội dung; những
bài tập chuyển hoá, bài tập viết theo mẫu v.v.
c) Các hoạt động sau khi thực hiện bài:
Các hoạt động sau khi thực hiện bài thờng gồm những bài tập ứng dụng mở rộng dựa trên bài vừa
học, thông qua các kỹ năng nói hoặc viết.
2. Ba bớc luyện đọc hiểu
a) Trớc khi đọc (Pre-reading):
Các hoạt động trớc khi đọc gồm những hoạt động nhằm đạt đợc những mục đích sau:
Gây hứng thú;
Giới thiệu ngữ cảnh, chủ đề;
Tạo nhu cầu , mục đích đọc;
17
Đoán trớc nội dung bài đọc;
Nêu những điều muốn biết về nội dung sắp đọc;
Giới thiệu trớc từ vựng, ngữ pháp mới giúp cho học sinh hiểu đợc bài đọc;
v.v
b) Trong khi đọc (While-reading):
Các hoạt động luyện tập trong khi đọc nhằm giúp học sinh hiểu bài đọc. Tuỳ theo mục đích nội dung
của từng bài đọc, sẽ có những dạng câu hỏi và bài tập khác nhau. Những dạng bài tập phổ biến gồm:
Check/tick the correct answers;
True/ false
Complete the sentences;
Fill in the chart;
Make a list of
Matching;

Phương pháp Ngữ pháp – Dịch (Grammar – Translation Method) hay còn gọi là phương pháp
Truyền thống được áp dụng mạnh mẽ ở Việt Nam vào những năm 1970 cho đến tận những năm 1990.
Về bản chất, theo phương pháp này, chương trình tập trung chủ yếu vào phát triển kĩ năng đọc
hiểu, học thuộc lòng từ vựng, dịch văn bản, viết luận (composition) và phân tích ngôn ngữ (học để nắm
chắc quy tắc ngôn ngữ). Quy trình thực hiện: Các bài khóa (texts) được biên soạn và chia ra thành từng
đoạn ngắn. Việc giảng giải quy tắc ngôn ngữ là cơ bản. Học sinh được học về ngữ pháp rất kĩ trên cơ sở
các hiện tượng ngữ pháp cơ bản được rút ra từ các bài khóa. Để kiểm tra sự thông hiểu về nội dung bài
khóa (nội dung văn hóa, đất nước học nói chung) và các quy tắc ngôn ngữ, HS bắt buộc phải dịch các bài
khóa sang tiếng mÑ ®Î. HS không được phép mắc lỗi ngôn ngữ, nếu có phải sửa ngay.
Ưu điÓm:
- HS được rèn luyện rất kĩ về ngữ pháp và tiếp thu lượng từ vựng khá lớn.
- HS nắm được tương đối nhiều các cấu trúc câu cơ bản, thuộc lòng các đoạn văn hay hoặc
bài khóa mẫu.
- HS có thể đọc hiểu nhanh các văn bản.
Hạn chế:
- Không giúp HS “giao tiếp” được. Hoạt động chủ yếu trong lớp là người thày- thày giảng
giải, nói nhiều; HS thụ động ngồi nghe và ghi chép, không có ý kiến phản hồi hoặc không
tham gia giao tiếp (nói) với thày và bạn bè.
- Hoạt động dạy học chỉ diễn ra một chiều - HS hoàn toàn bị động, không có cơ hội thực
hành giao tiếp trong lớp; khả năng sáng tạo và đặc biệt kĩ năng nãi của HS bÞ h¹n chÕ.
Một số lưu ý:
- Ở chừng mực nào đó, GV vẫn có thể áp dụng Phương pháp Truyền thống, ví dụ: khi muốn
kiểm tra sự hiểu chính xác về một văn bản (đoạn văn, câu thơ…trong bài đọc hiểu) hoặc một cấu
trúc câu phức tạp khác với cấu trúc câu trong tiếng Việt, GV có thể yêu cầu HS dịch sang tiếng Việt.
19
- Việc kiểm tra sự thông hiểu qua hoạt động dịch không nên tiến hành thường xuyên vì sẽ tạo
thói quen cho HS phải tư duy qua tiếng mẹ đẻ (tiếng Việt) trước khi phát ngôn. Như vậy sẽ cản trở
sự lưu loát (fluency) của HS trong giao tiếp.
Ví dụ minh họa: Việc đánh giá kết quả học tập của HS thông qua các hoạt động trả lời các
câu hỏi về nội dung các bài khóa; dịch các bài khóa, các đoạn văn trích (dịch sang tiếng Việt, và dịch

điều chỉnh phương thức dạy học cần thiết.
- HS áp dụng những gì đã được lĩnh hội trong lớp học vào thực tiễn giao tiếp ngôn ngữ là khó. Các
em không thể vận dụng các hình thức ngôn ngữ (các mẫu lời nói) được luyện tập trên lớp một cách tự
nhiên vì tuy HS có khả năng nghe hiểu, nhớ và bắt chước (nói theo) ngay tại chỗ trong lớp học, song
các em cũng rất chóng quên và cảm thấy bị “tắc” khi gặp tình huống tương tự trong giao tiếp thực;
tức là không diễn đạt được những gì định nói mặc dù sau một thời gian dài học tập. Người ta cảm
thấy nghi ngờ về tính hiệu quả của phương pháp này so với phương pháp Ngữ pháp-Dịch. Tuy nhiên,
HS có thể nghe và nói thuần thục nếu các em được rèn luyện trong môi trường ngoại ngữ (language
environment) mà điều kiện này bị hạn chế ở trường THCS.
Một số lưu ý:
Lớp học không nên quá đông (không quá 35 HS/lớp). Giờ học nên được tiến hành ở các
phòng học tiếng có thiết bị nghe chuẩn; hoặc GV cần chuẩn bị băng cát-sét/ đĩa CD ghi âm các bài
đối thoại mẫu có chất lượng cao để đảm bảo cho HS có thể nghe hiểu và thực hành nói đạt hiệu quả.
Đối với HS tiểu học hoặc HS đầu cấp THCS, GV nên chuẩn bị nhiều tranh ảnh để tạo tình huống
giao tiếp; chú ý tổ chức các hoạt động ngôn ngữ khác nhau như: trò chơi, câu đố… để gây không khí
thoải mái trong học tập cho các em.
Ví dụ minh họa:
HS tiểu học hoặc HS ở đầu cấp THCS có thể được nghe các mẫu đối thoại chứa cấu trúc câu
thông thường như hỏi và trả lời về thời tiết, ví dụ: What’s the weather like? It’s cold
(hot/sunny/rainy etc.). HS cần phải được GV làm rõ ý nghĩa (bằng giải thích, cho ví dụ hoặc thậm
chí phải dịch sang tiếng Việt nếu cấu trúc câu không có trong tiếng mẹ đẻ, ví dụ: đại từ “it” dùng để
chỉ thời tiết) và hiểu được cách sử dụng cấu trúc câu, cách phát âm, ngữ điệu câu hỏi (xuống giọng).
HS có thể vận dụng hỏi-trả lời về thời tiết trong các tình huống gợi ý (ví dụ: các tranh vẽ trời
nóng/lạnh/ấm…) hoặc trong tình huống thật ở các địa danh khác nhau dựa vào bản tin dự báo thời
tiết trên TV; ví dụ: What’s the weather like in Hanoi/Hue/ Ho Chi Minh City…? It’s
1. 3 Phương pháp Giao tiếp
Phương pháp Giao tiếp (Communicative Approach) hay còn gọi là Đường hướng Giao tiếp được
xem như phương pháp dạy học ngoại ngữ phổ biến nhất và hiệu quả nhất hiện nay. Hầu hết các giáo trình,
SGK phổ thông tiếng Anh ở các nước trên thế giới và ở Việt Nam đều được biên soạn dựa theo quan điểm
giáo học pháp của Phương pháp Giao tiếp. Phương pháp này do các nhà ngôn ngữ ứng dụng người Anh phát

ngoài ngôn ngữ… nhằm rèn luyện kĩ năng giao tiếp hoàn chỉnh. Đặc biệt Phương pháp Giao tiếp coi
hình thành và phát triển bốn kĩ năng giao tiếp như nghe, nói, đọc và viết là mục đích cuối cùng của quá
trình dạy học. Các kiến thức ngôn ngữ như ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp là phương tiện, điều kiện
hình thành và phát triển các kĩ năng giao tiếp. Vì vậy, phương pháp Giao tiếp thực sự giúp cho HS có
khả năng sử dụng được tiếng Anh để giao tiếp.
22
Hn ch: Phng phỏp Giao tip nhn mnh vo vic hỡnh thnh v phỏt trin 4 k nng ngụn ng:
nghe, núi, c, vit trong quỏ trỡnh dy hc, trong ú kin thc ngụn ng (ng õm, t vng v ng
phỏp) khụng c quan tõm mt cỏch thớch ỏng. Kt qu l mt s HS cm thy khú cú th giao
tip vỡ HS lm sao cú th nghe, núi, c, vit c mt khi cỏc em khụng nm chc h thng qui tc
ngụn ng. Mt khỏc, theo quan im ca phng phỏp ny, quan h gia ý nh giao tip (bao gm
cỏc hnh ng li núi hay l cỏc chc nng ngụn ng hc c) v hin thc l quỏ phc tp, khụng rừ
rng. Núi mt cỏch khỏc, ngi ta khú cú th la chn cỏc phỏt ngụn theo chc nng phự hp vi nhu
cu giao tip thc t a dng v rt phc tp.
Mt s lu ý:
GV gi vai trũ l ngi hng dn, t chc thực hin. HS úng vai trũ ch o trong quỏ trỡnh
dy hc; tc l phi phỏt huy cao tớnh tớch cc ca cỏc em trong luyn tp thc hnh. trng
THCS (lớp 8 và 9), HS cn tp trung rốn luyn sõu tng k nng nghe, núi, c, vit. Mun thc hin
c, cỏ nhõn HS phi tớch cc v t giỏc tham gia thc hnh, khụng s mc li, v cn lu ý rng
lu loỏt ngụn ng (fluency) trong giai on ny l rt quan trng. iu kin ti thiu HS thc hnh
k nng ngụn ng l mi lp hc khụng quỏ ụng (khong 35 HS/lp); cú y thit b nghe nhỡn
nh mỏy cỏt-sột, bng/a CD, tranh tỡnh hung. Vic kim tra ỏnh giỏ kt qu hc tp nờn nhn
mnh vo 4 k nng, v mt phn nh kin thc ngụn ng. Kim tra k nng ngụn ng luụn luụn c
u tiờn trong bt k hỡnh thc no.
Khi vn dng Phng phỏp Giao tip, GV cn lu ý:
Giảm thiểu tối đa thời gian nói trên lớp của GV, tăng thời gian sử dụng ngôn ngữ cho HS.
Dạy học theo phơng pháp gợi mở: GV chỉ gợi mở và dẫn dắt để HS tự tìm ra lời giải đáp
hoặc con đờng đi của mình.
Động viên tất cả kiến thức sẵn có về văn hoá, xã hội cũng nh ngôn ngữ của HS trong
luyện tập ngôn ngữ.

cnh cú ngha, va bỏm sỏt ni dung ch ca bi hc. iu quan trng l HS c luyn tp v cú
th vn dng vo cỏc tỡnh hung giao tip tng t.
2. Sử dụng thiết bị, đồ dùng dạy học
2.1 Giới thiệu thiết bị, đồ dùng dạy học tối thiểu
Bộ băng tiếng cát-sét/ đĩa CD môn tiếng Anh lớp 6 - 9 đợc xây dựng theo danh mục thiết bị
dạy học tối thiểu do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định. Bộ băng tiếng cát-sét/ đĩa CD gồm 2 đĩa CD-
Audio hoặc 2 băng cát-sét do ngời bản ngữ đọc, đảm bảo chất lợng âm thanh (stereo). Mở đầu mỗi
bài, mỗi đề mục và kết thúc mỗi bài, mỗi đề mục đều có nhạc báo hiệu. Đối với mỗi bài đối thoại th-
ờng có 2 giọng đọc (giọng nam và giọng nữ) theo độ tuổi khác nhau của nhân vật tham gia đối thoại.
Mục đích sử dụng bộ băng tiếng cát-sét/ đĩa CD là nhằm giúp cho việc tạo dựng môi trờng học tiếng
đợc tự nhiên, tạo điều kiện và cơ hội cho học sinh tiếp cận với lời nói chuẩn xác của ngời bản ngữ, hỗ
trợ cho quá trình dạy học thêm hấp dẫn, đạt hiệu quả theo mong muốn.
24
Ngoài bộ băng tiếng cát-sét/ đĩa CD và một số tranh ảnh (theo quy định của danh mục thiết bị
dạy học tối thiểu), trong quá trình dạy học giáo viên cần tham khảo và có thể sử dụng các phơng tiện
dạy học khác (các thiết bị có sẵn hoặc tự tạo) nh: tranh ảnh tham khảo, giáo cụ trực quan, bảng biểu,
máy chiếu hắt (OHP) có bản trong, máy vi tính . Đây là những ph ơng tiện dạy học cần thiết, góp
phần tích cực vào việc nâng cao hiệu quả và chất lợng dạy học tiếng Anh trong trờng THCS.
2.2 Sử dụng thiết bị, đồ dùng dạy học
Tranh ảnh, bảng biểu hệ thống ngữ pháp và giáo cụ trực quan
Tranh ảnh trong chơng trình lớp 6 - 9 đợc in sẵn hoặc do giáo viên tự chuẩn bị (tự thiết kế, tự vẽ hoặc
thuê vẽ, su tầm từ trong các báo, tạp chí, sách vở). Đây là nguồn thông tin bổ ích góp phần làm sinh động
bài giảng. Các giáo cụ trực quan khác cũng có tác dụng tơng tự. Để đảm bảo chất
lợng giảng dạy, các tranh, ảnh cần đa dạng, đủ to cho một lớp học khoảng 45 học sinh. Các trờng THCS
nên tổ chức thi làm giáo cụ trực quan để chọn ra sản phẩm đảm bảo chất lợng phục vụ cho việc giảng dạy.
Máy chiếu hắt (OHP)
Máy chiếu hắt đợc trang bị phần lớn ở các trờng THCS và có tác dụng nhất định trong dạy
học ngoại ngữ. Giáo viên có thể chiếu các bản trong in bài giảng, bài tập, trọng tâm ghi nhớ cho học
sinh. Ưu điểm của bản trong là có thể tái sử dụng nhiều lần trong giờ học, cho nhiều lớp khác nhau.
Học sinh có thể viết câu trả lời trực tiếp lên bản trong và chiếu trớc lớp. Thiết bị này tiện lợi cho việc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status