SKKN- Rèn kỷ năng nói cho học sinh - Pdf 16

RÈN LUYỆN KỸ NĂNG NÓI CHO HỌC SINH
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay đất nước ta đang trên con đường hội nhập kinh tế toàn
cầu. Ngày 7/11/2006 vừa qua tổ chức Thương mại Thế giới WTO đã
chính thức kết nạp Việt Nam vào tổ chức này, mở đầu cho hàng loạt
những thách thức và những thời cơ mới cho Việt Nam. Điều này không
chỉ ảnh hưởng đến nền kinh tế, thương mại của nước nhà mà còn tác
động nhiều đến thế hệ trẻ – những chủ nhân tương lai của đất nước.
Trong bối cảnh mới có nhiều hoạt động giao lưu trên nhiều lónh vực như
hiện nay và trong thời gian sắp tới, thế hệ ấy cần phải trang bò cho mình
một phong cách năng động, sáng tạo và có kỹ năng giao tiếp tốt với
nhiều người trong nhiều môi trường khác nhau. Chính vì vậy, hơn ai hết,
khi các em còn ngồi trên ghế nhà trường, người thầy giáo phải là người
hướng dẫn, giúp đỡ các em rèn luyện để có được những kỹ năng cần
thiết đó trong cụôc sống xã hội hiện nay.
II. NỘI DUNG CHÍNH
Thực trạng của việc luyện nói cho học sinh trong nhà trường
hiện nay:
Dạy học theo quan điểm giao tiếp mà trọng tâm là rèn luyện kỹ
năng nói chính là một trong những tư tưởng quan trọng trong nhà trường
phổ thông và nhất là các trường THCS hiện nay. Việc luyện nói trong
nhà trường nhằm giúp các em sau này có thể giao tiếp tốt trong các môi
trường khác như môi trường xã hội, môi trường tập thể, công chúng.
Chúng ta biết rằng ngôn ngữ nói khác ngôn ngữ viết ở chỗ nó là phương
tiện giao tiếp có âm thanh, có ngữ điệu, có sự phối hợp biểu đạt của tư
thế, nét mặt, âm lượng, có sự giao cảm trực tiếp của người nói và người
nghe. Thực tế trong nhà trường hiện nay vấn đề rèn luyện kỹ năng nói
chưa được đặt thành vấn đề quan trọng như việc rèn luyện kỹ năng viết.
Hơn nữa, trong quá trình rèn luyện kỹ năng nói, chúng ta mới chỉ dừng
lại ở những tiết luyện nói về tập làm văn mà số giờ luyện nói quá ít. Ở
lớp 6: 4 tiết / năm, tới lớp 8, 9 giảm dần xuống chỉ còn 2 tiết / năm.

em nói câu có đủ chủ ngữ, vò ngữ.
Bên cạnh đó, khi giảng dạy bài mới, tôi nghó câu hỏi của giáo
viên phải khuyến khích được tất cả học sinh trong lớp suy nghó. Câu hỏi
phải ngắn gọn, rõ ràng ở nhiều cấp độ khác nhau, tạo điều kiện cho mọi
đối tượng học sinh có thể trả lời (khuyến khích học sinh yếu, nâng cao
năng lực của học sinh khá giỏi).
Thực tế trong khi tìm hiểu văn bản, khi giáo viên đặt câu hỏi để
phát hiện các chi tiết có giá trò nghệ thuật thì học sinh lớp 6, 7 (thậm chí
cả học sinh lớp 8, 9) lại đọc cả đoạn văn có chứa các từ ngữ ấy. Như
vậy, vừa mất thời gian, vừa không tập trung trả lời đúng câu hỏi. Tôi
nghó đối với học sinh lớp 6, vì các em chưa quen, cứ trả lời như hồi các
em học tiểu học nên giáo viên cần gọi các em đọc trước những đoạn văn
ngắn, sau đó cho học sinh phát hiện chi tiết, hình ảnh thì các em sẽ dễ
Triệu Thò Hòa – Giáo viên Trường THCS Hoàng Hoa Thám
3
trả lời hơn. Đối với giờ dạy – học văn bản, những câu hỏi bình, nâng
cao, mở rộng nên đặêt ra nhiều hơn đối với học sinh lớp 8, 9 sẽ kích thích
được nhiều em phát biểu, khám phá cái mới, đi sâu vào nội dung, nghệ
thuật của văn bản.
Đối với những bài văn cổ, phần tìm hiểu, chú thích tôi đã lồng vào
khâu tìm hiểu văn bản, kết hợp với liên hệ thực tế để học sinh dễ dàng
trả lời các câu hỏi của giáo viên.
Ví dụ: Khi dạy văn bản “Bàn luận về phép học” của tác giả
Nguyễn Thiếp ở lớp 8, tôi đã xây dựng hệ thống câu hỏi như sau:
-Em hãy trình bày thật ngắn gọn những hiểu biết của em về tác
giả Nguyễn Thiếp?
-Hãy cho biết bài “Bàn luận về phép học” được viết vào thời
gian nào?
-Thể loại của văn bản này?
-Ở nhà đã đọc bài và đọc phần chú thích, em hãy cho biết thế

“Ngũ thường”?
-Và với lối học như vậy sẽ dẫn đến hậu quả tai hại như thế nào?
Hiện nay có còn tồn tại lối học như vậy không? (câu hỏi liên hệ thực
tế)
Triệu Thò Hòa – Giáo viên Trường THCS Hoàng Hoa Thám
5
-Để khuyến khích việc học chân chính, Nguyễn Thiếp đã
khuyên vua Quang Trung thực hiện những chính sách gì?
-“Tóm lược cho gọn” ở đây có nghóa như thế nào?
-Em hiểu thế nào về quan điểm “học mà làm” của Nguyễn
Thiếp?
-Mặc dù còn băn khoăn, nhưng La Sơn Phu Tử vẫn rất tỏ ra rất
tin tưởng ở cách học chân chính. Niềm tin ấy thể hiện ở câu văn nào?
-Em hiểu suy nghó trên của Nguyễn Thiếp như thế nào?
-Như vậy, từ việc nêu ra mục đích chân chính của việc học, tác
giả đi đến phê phán “lối học hình thức hòng cầu danh lợi”, sau đó khẳng
đònh phương pháp học tập đúng đắn và tác dụng của việc học chân
chính. Các em hãy cho biết đây có phải là bài văn nghò luận không?
- Câu hỏi thảo luận: Hãy xác đònh trình tự lập luận của văn bản
“Bàn luận về phép học” bằng một sơ đồ.
-Với cách lập luận chặt chẽ như vậy, bài “Bàn luận về phép
học” giúp ta hiểu thêm về điều gì?
-Được học bài này, em có thể rút ra bài học gì cho bản thân về
mục đích và phương pháp học? (câu hỏi liên hệ thực tế)
Với hệ thống câu hỏi như vậy, học sinh sẽ dễ dàng trả lời được
các câu hỏi mà giáo viên đưa ra (kể cả học sinh yếu, trung bình). Vì đây
là thể loại tấu, lần đầu tiên học sinh THCS được tiếp xúc nên giáo viên
vừa cho các em giải thích từ khó vừa lồng vào bước tìm hiểu văn bản để
giúp các em nắm bắt tác phẩm nhanh hơn.
Triệu Thò Hòa – Giáo viên Trường THCS Hoàng Hoa Thám

nên tăng dần ở lớp 8 và 9.
Một điều cần chú ý nữa là tôi đã hướng dẫn cho học sinh trả lời
trúng câu hỏi. Như ở phần trên tôi đã nói, có em khi giáo viên hỏi phát
hiện từ ngữ, chi tiết thì đọc hết cả đoạn văn, hoặc trong một giờ tiếng
Việt sau khi phân tích các ví dụ, giáo viên đặt câu hỏi để hình thành
khái niệm thì các em lại đọc luôn cả phần ghi nhớ mà phần ghi nhớ lại
bao gồm nhiều ý chứ không chỉ có phần khái niệm. Ví dụ: ghi nhớ của
phần thán từ trong sách giáo khoa ngữ văn 8 bao gồm cả phần khái niệm
thán từ, vò trí của thán từ và các loại thán từ. Ở trường hợp này, giáo
viên cần uốn nắn cho học sinh trả lời đúng câu hỏi mà thầy cô ra. Tôi
cho rằng giáo viên có thể vận dụng kiến thức trong các giờ tiếng Việt :
lớp 6 tiết “Giao tiếp văn bản và phương thức biểu đạt”, lớp 8 tiết “Hành
động nói”, “Hội thoại”, lớp 9 vận dụng bài “Các phương châm hội
thoại” và “Xưng hô trong hội thoại” để giúp các em rèn luyện kỹ năng
nói một cách có hiệu quả.
VD: Ở lớp 8 khi dạy bài “Hội thoại”, tôi không những truyền thụ
cho các em kiến thức trên lớp mà còn hướng dẫn các em vận dụng vào
cuộc sống thực tế như: trong hội thoại, nên tôn trọng lượt lời của người
khác, tránh nói tranh lượt lời, cắt lời hoặc chêm vào lời của người khác
khi họ đang tham gia hội thoại trừ trường hợp quá đặc biệt và khẩn cấp.
Cụ thể, khi bạn đang phát biểu, các em không nên cắt ngang lời bạn.
Triệu Thò Hòa – Giáo viên Trường THCS Hoàng Hoa Thám
8
Muốn bổ sung ý kiến, hãy chờ bạn nói xong mới xin phép nói hoặc
không nên chen ngang lời của người lớn (như ông bà, bố mẹ …) khi họ
đang nói chuyện.
Trong bài này, tôi đã sử dụng kiến thức vai xã hội trong khi tham
gia hội thoại, hướng các em xác đònh đúng vai trên – vai dưới để chọn
cách nói cho phù hợp. Tôi cũng cho học sinh biết thêm, trong cuộc sống
hàng ngày, người nào cũng có mối quan hệ xã hội : rộng – hẹp, thân –

của lớp 8 để rèn luyện các em.
Sẽ rất thiếu sót nếu không có sự khích lệ đúng mức của giáo viên.
Đối với những câu trả lời đúng, tôi cho điểm cộng hoặc khen ngợi các
em để động viên các em kòp thời.
Tóm lại, trong quá trình dạy học môn ngữ văn, ngoài những câu
hỏi, những bài tập chỉ đòi hỏi những câu trả lời ngắn, còn có những câu
hỏi, những bài tập yêu cầu học sinh trình bày cảm nhận chủ quan của
mình trên lónh vực văn học, nghệ thuật. Nếu không có năng lực hay
ngôn ngữ văn chương và không mạnh dạn, học sinh rất dễ có tâm lý
ngại nói trước tập thể, bạn bè. Vì vậy, giáo viên cần giúp đỡ các em ở
nhiều khía cạnh để các em không sợ sai sót, hòa nhập với bạn bè, bộc lộ
ý kiến một cách mạnh dạn.
2. Hiệu quả ban đầu
Triệu Thò Hòa – Giáo viên Trường THCS Hoàng Hoa Thám
10
Cũng cùng tiết học “Bàn luận về phép học” nhưng ở năm 2005-
2006 chưa áp dụng phương pháp này và năm 2006-2007 đã áp dụng
phương pháp này. So sánh hiệu quả thấy như sau:
-Năm 2005-2006: chỉ có 45% các em giơ tay phát biểu trong đó
15% học sinh nói đạt yêu cầu về tư thế, tác phong và âm lượng, cách
thức diễn đạt phù hợp.
-Năm 2006-2007: có 75-80% các em giơ tay phát biểu trong đó
50% học sinh nói đạt yêu cầu về tư thế, tác phong và âm lượng, cách
thức diễn đạt phù hợp.
3. Kiểm nghiệm
-Sau thời gian áp dụng cho học sinh các khối trong trường, tỷ lệ
học sinh phát biểu trong lớp tăng lên đáng kể. Có lớp từ chỗ chỉ có một
số học sinh khá giỏi phát biểu đã xuất hiện thêm nhiều em trước đây
chưa bao giờ nói mạnh dạn đứng lên nói lên suy nghó của mình.
-Những em phát biểu ý kiến đã nói có chủ ngữ, vò ngữ, nói to, rõ

-Động viên các em phát biểu ý kiến đối với các câu trả lời xuất
sắc bằng cách cho điểm cộng hoặc khen ngợi kòp thời.
-Cố gắng tạo cơ hội cho những em ít phát biểu và nhút nhát được
nêu ra ý kiến, suy nghó của mình.
V. KẾT LUẬN
Triệu Thò Hòa – Giáo viên Trường THCS Hoàng Hoa Thám
12
Kính thưa các thầy cô giáo!
Giữa những bộn bề của nền giáo dục nước nhà hôm nay, chưa bao
giờ xã hội quan tâm đến các nhà giáo chúng ta với nhiều góc cạnh đến
như vậy. Dù suy nghó ở góc độ nào đi nữa, tôi nghó mỗi thầy cô giáo
chúng ta đã chọn cho mình một cái nghề vì lương tâm chứ không hẳn vì
mục đích kinh tế. Hơn lúc nào hết, mỗi thầy cô giáo chúng ta hãy vì
trách nhiệm của mình rèn luyện cho các em kỹ năng nói khi các em còn
ngồi trên ghế nhà trường, đó cũng chính là giúp các em phát triển kỹ
năng giao tiếp để sau này khi các em vào đời, các em có thể tự tin trong
bất kỳ một môi trường, một hoàn cảnh giao tiếp nào trong xã hội.
Những suy nghó của cá nhân tôi có thể còn nhiều khiếm khuyết.
Rất mong nhận được sự góp ý chân thành từ quý thầy cô.
Xin chân thành cảm ơn.
Ngày 1/4/2007
Người viết
Triệu Thò Hòa
Triệu Thò Hòa – Giáo viên Trường THCS Hoàng Hoa Thám
13
Triệu Thò Hòa – Giáo viên Trường THCS Hoàng Hoa Thám
14


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status