VIỆN GIA ĐÌNH VÀ GIỚI
NUÔI DƯỠNG TRẺ NHỎ Ở MỘT SỐ
ĐỊA PHƯƠNG CỦA VIỆT NAM:
Thực tiễn và vấn đề chính sách Hà Nội, ngày 22 tháng 01 năm 2013
BẢNG CÁC TỪ VIẾT TẮT Tổ chức Y tế Thế giới WHO
Viện Dinh dưỡng Quốc gia NIN
Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc UNICEF
Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hiệp quốc FAO
Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam TLĐLĐVN
Công nhân, nhân viên CN, NV
Chuyên môn cao CM cao
Tiểu học TH
Trung học cơ sở THCS
Trung học phổ thông THPT
Trung cấp TC
Cao đẳng, Đại học CĐ, ĐH
MỤC LỤC
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU 5
I. Bối cảnh ra đời nghiên cứu 5
II. Những phát hiện chính 5
III. Các khuyến nghị chính sách 7
PHẦN MỘT: MỞ ĐẦU 8
1. Giới thiệu 8
2. Mục tiêu nghiên cứu 9
3. Phạm vi nghiên cứu 9
4. Mẫu khảo sát 10
5. Phương pháp phân tích 11
6. Hạn chế của phân tích 12
PHẦN HAI: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 13
I. Thực hành nuôi con bằng sữa mẹ 13
1. Tiêu chuẩn quy định và nội dung phân tích 13
2. Hiểu biết của các bà mẹ về lợi ích của việc cho con bú sữa mẹ 13
3. Cho trẻ bú sớm sau khi sinh 16
4. Cho trẻ bú đúng cách 20
5. Tiếp tục cho bú sữa mẹ khi trẻ được 12 tháng tuổi và 24 tháng tuổi 23
6. Thời gian bú sữa mẹ 29
7. Nhận thức về các biện pháp giúp tăng sinh nguồn sữa mẹ 31
II. Thực hành bổ sung thức ăn cho trẻ 34
1. Tiêu chuẩn cho ăn bổ sung và nội dung phân tích 34
2. Thực hành cho trẻ ăn bổ sung 37
3. Thức ăn bổ sung cho trẻ 7-24 tháng tuổi đủ dinh dưỡng theo khuyến nghị 53
4. Kiến thức, nguồn thông tin về thức ăn bổ sung và lựa chọn của các bà mẹ về
cách cho trẻ ăn 56
PHẦN BA. KẾT LUẬN VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ 60
1. Về việc cho bé bú sữa mẹ 60
nhỏ Việt Nam từ 6 đến 24 tháng tuổi và đạt được các mục tiêu của Chiến lược quốc
gia về dinh dưỡng.
II. Những phát hiện chính
Chính sách của Nhà nước và nhận thức của người dân về nuôi con bằng sữa
mẹ rất tích cực
Theo số liệu điều tra, tỷ lệ trẻ đã từng được bú mẹ rất cao (98%) và cao hơn so
với các nước Đông Nam Á theo phương pháp tính toán của WHO (theo Dữ liệu Toàn
cầu của WHO về Dinh dưỡng cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ và các nguồn khác). Thời gian
trẻ được bú mẹ cũng trung bình là 15 tháng tuổi. Nhận thức về lợi ích của nuôi con
bằng sữa mẹ ở Việt Nam hiện rất cao. Đại đa số các bà mẹ Việt Nam hiểu đầy đủ về
6
lợi ích của nuôi con bằng sữa mẹ và chỉ có 1,8% phụ nữ trả lời không biết về lợi ích
của việc cho trẻ bú mẹ. Thêm vào đó, phần lớn các bà mẹ biết ngành y tế khuyến cáo
cho con bú mẹ đến 24 tháng, và 3 lý do chính thúc đẩy bà mẹ cho con bú đó là họ tin
rằng: (i) Sữa mẹ là tốt nhất trong việc tăng cường hệ miễn dịch cho con của họ (91%);
(ii) Việc cho bé bú mẹ trong 6 tháng đầu đời là rất quan trọng (78,2%); và (iii) Cho bé
bú mẹ cung cấp dưỡng chất vượt trội cho sự phát triển tối ưu của bé (76%).
Nhà nước cũng đã xây dựng và thực hiện nhiều chính sách quan trọng nhằm
bảo đảm việc nuôi con bằng sữa mẹ. Các chiến lược, kế hoạch hoạt động tuyên truyền,
phổ biến, giáo dục về thực hành nuôi con bằng sữa mẹ, cùng các chính sách nghiêm
ngặt nhằm khuyến khích nuôi con bằng sữa mẹ đã tạo ra được một môi trường pháp lý
- xã hội tốt nhất cho việc nuôi con bằng sữa mẹ. Nghị định 21/2006/NĐ-CP ngày
27/2/2006 của Chính phủ về việc kinh doanh và sử dụng các sản phẩm dinh dưỡng
dùng cho trẻ em được quốc tế đánh giá là một trong những chính sách bảo vệ việc nuôi
con bằng sữa mẹ tích cực nhất, có nhiều điểm vượt xa so với các khuyến nghị của Bộ
Quy tắc Quốc tế về bán ra thị trường các sản phẩm thay thế sữa mẹ của WHO. Tuy
nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc thực hành nuôi con bằng sữa mẹ trên thực tế
còn chưa tối ưu do yêu cầu thời gian và hoàn cảnh làm việc của bà mẹ. Ví dụ, nhóm
công nhân, viên chức cho trẻ ăn không đúng cách cao hơn đáng kể so với các nhóm
còn lại (88,2% so với khoảng 60%).
Khẩu phần ăn bổ sung của trẻ từ 7 đến 24 tháng cũng chưa bảo đảm sự đa dạng
các loại thực phẩm và tính cân đối trong khẩu phần thức ăn. Tỷ lệ sản phẩm dinh
dưỡng công thức trong khẩu phần ăn của trẻ nhìn chung còn thấp. Đặc biệt, trẻ em
sống ở nông thôn, trong gia đình có điều kiện kinh tế khó khăn và người mẹ không có
nghề nghiệp ổn định về thu nhập có khẩu phần ăn kém da dạng về dinh dưỡng hơn so
với các trẻ nhỏ khác.
Việc cho trẻ nhỏ ăn bổ sung đúng cách cũng chưa được chú trọng tại Việt Nam,
điều này thể hiện ở việc thực hành cho ăn bổ sung chưa hợp lý của các bà mẹ. Thông
tin về các sản phẩm dinh dưỡng bổ sung được dẫn dắt bởi các quan niệm và thói quen
truyền thống, đặc biệt là ở các vùng nông thôn. Các bà mẹ chủ yếu tìm kiếm thông tin
từ gia đình và bạn bè. Nguồn thông tin về dinh dưỡng bổ sung cho trẻ nhỏ cũng chưa
được phổ biến tới các bà mẹ một cách có hệ thống thông qua các cơ sở y tế và các
kênh xã hội hóa chính thống khác, do vậy, việc hỗ trợ để các bà mẹ có lựa chọn dinh
dưỡng bổ sung tốt nhất cho trẻ nhỏ từ 6 – 24 tháng còn nhiều hạn chế.
III. Các khuyến nghị chính sách
Bên cạnh việc tiếp tục phát huy những thành công đã đạt được về việc nuôi con
bằng sữa mẹ, Chính phủ cần có các giải pháp, cơ chế đồng bộ để bảo đảm việc cho con
bú đối với nhóm các bà mẹ có thu nhập thấp, học vấn thấp, cũng như đối với đối tượng
công nhân và người lao động tự làm việc ở nhà. Ngoài ra, cần chú ý đến nhóm các bà
mẹ có thu nhập cao về việc cho con ăn bổ sung quá sớm. Việc tăng cường tập trung
cho ăn bổ sung an toàn và đảm bảo dinh dưỡng cho trẻ từ 6-24 tháng tuổi chính là yếu
tố then chốt nhằm đạt được các mục tiêu của Chiến lược Dinh dưỡng Quốc gia 2020.
Cần phải có chính sách tiếp tục khuyến khích việc nuôi trẻ hoàn toàn bằng sữa mẹ
trong 6 tháng đầu và tiếp tục cho trẻ bú mẹ đến 24 tháng tuổi, bên cạnh việc bảo đảm
cho các bà mẹ khả năng tiếp cận thuận lợi với các sản phẩm dinh dưỡng bổ sung an
toàn và tốt nhất. Các chính sách cần phải hỗ trợ các bà mẹ để họ có thể đưa ra quyết
định chọn lựa được các dinh dưỡng bổ sung tốt nhất và phù hợp nhất cho con mình.
Cũng cần có những nghiên cứu sâu hơn về vấn đề này.
2
.
NIN cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của giai đoạn cho ăn bổ sung trong việc
phòng ngừa còi cọc. Đánh giá dinh dưỡng của NIN năm 2009-2010 chỉ ra rằng tỷ lệ
thấp còi tăng cao nhất trong năm thứ hai của cuộc đời - khi thức ăn bổ sung chiếm tỷ lệ
lớn hơn trong tổng lượng dinh dưỡng của trẻ nhỏ (tăng 9,5% so với năm đầu tiên) có
trong các giai đoạn tăng trưởng của trẻ dưới 5 tuổi.
3
Nghiên cứu của Tổ chức Thrives
1
Nguồn: WHO, Báo cáo nghiên cứu Khối lượng và Chất lượng của Sữa mẹ năm 1985, trang 74
2
Nguồn: WHO, htttp://www.who.int/nutrition/topics/complementary_feeding/en/index.html
3
Nguồn: Viện Dinh dưỡng Việt Nam và Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc, Đánh giá Thực trạng dinh dưỡng Việt
Nam, 2009-2010, tháng 4/2011
9
and Alives cho thấy rằng có mối quan hệ giữa các chỉ số về cho ăn bổ sung (đa dạng,
đủ bữa) và tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi.
4
Chính phủ Việt Nam đã khuyến khích áp dụng: (1) cho trẻ bắt đầu ăn bổ sung từ
tháng thứ 7 nghĩa là từ khi trẻ được vừa tròn 180 ngày tuổi trở đi; (2) Trong trường
hợp bà mẹ vì bất kể một lý do nào đó không có sữa hoặc không thể cho con bú được,
phải sử dụng các sản phẩm thay thế sữa mẹ cho trẻ. Sau thời gian này, trẻ cần được
cho ăn bổ sung hợp lý để đáp ứng nhu cầu phát triển của trẻ, đồng thời tiếp tục duy trì
cho trẻ bú sữa mẹ ít nhất cho đến khi trẻ được 24 tháng. Thời điểm trẻ em được
10
tháng tuổi). Cụ thể, tỷ lệ thấp còi tăng vọt lên 20-30% với trẻ từ 6-12 tháng và đến 30-
40% với trẻ từ 15-20 tháng (theo Dữ liệu của Viện Dinh Dưỡng Quốc gia). Chính vì
vậy, với mục đích của Nghiên cứu là nhằm đưa ra một số gợi ý, giúp các nhà hoạch
định chính sách có thông tin trong việc xây dựng kế hoạch hành động cụ thể nhằm
giúp Việt Nam đạt được các mục tiêu của Chiến lược Dinh Dưỡng Quốc gia 2011-
2020 nên các phân tích, đánh giá của Nghiên cứu chủ yếu tập trung vào giai đoạn trẻ
từ 7 đến 24 tháng tuổi. Đối với việc cho trẻ dưới 6 tháng tuổi bú sữa mẹ hoàn toàn,
cho tới nay đã có nhiều nghiên cứu với quy mô khảo sát lớn của các cơ quan, tổ chức
có liên quan; Nhà nước cũng đã xây dựng được các chính sách chặt chẽ, rõ ràng, thu
hút được sự quan tâm tuyên truyền, giáo dục của các cấp chính quyền và đông đảo các
tổ chức có liên quan nên Nghiên cứu này chỉ đề cấp tới một số kiến nghị về công tác tổ
chức thực hiện nhằm thực hiện tốt hơn các chính sách đã đạt được.
4. Mẫu khảo sát
Khảo sát được tiến hành bởi Công ty TNS, sử dụng phương pháp định lượng
với 1200 mẫu các bà mẹ được chọn một cách ngẫu nhiên. Khung mẫu bao gồm các bà
mẹ trong độ tuổi 18-40 tuổi, có con trong độ tuổi 0-4, ở các tầng lớp xã hội và nghề
nghiệp khác nhau. Nếu người mẹ có nhiều hơn một con, thì con nhỏ nhất sẽ được chọn
lấy thông tin.
Các mẫu được lấy rộng khắp 3 miền: Bắc, Trung, Nam Việt Nam, bao gồm cả
khu vực thành thị và nông thôn. Có 4 thành phố chính là Hà Nội, thành phố Hồ Chí
Minh, Cần Thơ, Đà Nẵng – đại diện cho khu vực thành thị. Ở khu vực nông thôn có 4
tỉnh tham gia là Thái Bình, Nghệ An, Đồng Nai, Tiền Giang, đại diện cho 4 vùng phía
Bắc, Trung, Đông Nam Bộ và Đồng Bằng Sông Cửu Long. Cỡ mẫu n = 150 ở mỗi tỉnh.
Số lượng mẫu ở các địa phương cụ thể như sau (Bảng 1):
Bảng 1: Phân bố cỡ mẫu khảo sát
Khu vực Thành thị Nông thôn Tổng số
<= 4,5 triệu đồng/tháng, ii) Từ 4,6-6,5 triệu đồng/tháng, iii) Trên 6,5 triệu
đồng/tháng).
Do ảnh hưởng của các yếu tố trên đến việc thực hành nuôi dưỡng trẻ nhỏ có thể
xảy ra đồng thời nên thông qua phân tích hai biến khó có thể xác định vai trò của từng
yếu tố. Để làm rõ tác động của từng yếu tố nhóm nghiên cứu đã sử dụng các mô hình
phân tích đa biến với hệ các biến số độc lập đã nêu trên.
Kết quả phân tích được trình bày theo hai nội dung chính sau:
a) Thực hành nuôi con bằng sữa mẹ
b) Thực hành cho trẻ ăn bổ sung
Đối với mỗi nội dung nêu trên các tác giả luôn đối chiếu với những quy chuẩn quốc
gia hoặc quốc tế để đánh giá mức độ thực hành nuôi dưỡng trẻ nhỏ một cách khoa học.
Do vấn đề thực hành nuôi con bằng sữa mẹ và thực hành cho trẻ ăn bổ sung có thể
chịu tác động của các yếu tố khác nhau nên việc so sánh với các nghiên cứu có liên
quan không thực hiện riêng mà gắn vào với mỗi nội dung. Mẫu phân tích cho từng vấn
đề cũng khác nhau và được giải thích rõ ở mỗi phần.
12
6. Hạn chế của phân tích
Vấn đề thực hành nuôi dưỡng trẻ nhỏ có liên quan đến nhiều yếu tố kinh tế-xã
hội khác nhau và đòi hỏi có sự phân tích hết sức chi tiết để lý giải chính xác đặc điểm
của mỗi loại hành vi hay nhận thức. Tuy nhiên, nhóm nghiên cứu sử dụng số liệu có
sẵn vì vậy trong một số trường hợp không có đầy đủ thông tin để phân tích sâu, bao
gồm cả phân tích đa biến.
Mặc dù mẫu nghiên cứu đã trải rộng trên cả ba vùng miền và bao gồm cả các khu
vực thành thị và nông thôn, tuy nhiên vẫn không bảo đảm đây là số liệu có tính đại
diện quốc gia. Vì vậy các kết luận rút ra cần được hiểu trong khuôn khổ của mẫu đã
được chọn. Trong một số trường hợp, mẫu phân tích chỉ là một bộ phận trong tổng thể
mẫu, số lượng hạn chế, vì vậy không thực hiện được các phân tích chi tiết.
giáo dục về thực hành nuôi con bằng sữa mẹ
6
.
5
Hiểu biết của người mẹ về những lợi ích của việc cho bé bú mẹ được xây dựng từ câu hỏi Q16, với việc nhóm
5 phương án trả lời lại thành 3 phương án để phân tích: 1/Không biết và biết rất ít = Không biết, 2/ Biết
mộtchút, 3/ Biết khá rõ và biết rất rõ = Biết rõ.
6
Ví dụ về các chương trình/dự án đã được thực hiện để thúc đẩy nuôi con bằng sữa mẹ
- Hỗ trợ 20.000 lao động nữ nuôi con bằng sữa mẹ đúng cách. Nguồn: Báo điện tử Chính phủ nước
CHXHCNVN, />cach/201211/153293.vgp.
- “Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu”: Nhận thức của mẹ - sức khoẻ của con. Nguồn: Tổng
Liên đoàn Lao động Việt Nam,
14
Biểu đồ 1.1: Tỷ lệ phụ nữ biết về lợi ích của việc cho trẻ bú mẹ
88
1.8
10.2
0
10
20
30
40
50
60
70
80
việc cho trẻ bú mẹ (%)
Số
lượng
Không biết Biết một chút Biết rõ
Thu nhập hộ gia đình
- <=4,5 triệu đồng/tháng 507
2,1
11,5
86,5
- 4,6-6,5 triệu đồng/tháng 522
1,4
9,4
89,2
- Trên 6,5 triệu đồng/tháng 171
2,2
7,3
90,5
- 18-25 tuổi 331
1,5
11,1
87,4
- 26-30 tuổi 445
1,5
11,3
87,2
- 31-35 tuổi 277
1,8
8,4
89,8
- 36-40 tuổi 147
- Thành thị 600
1,8
10,5
87,7
- Nông thôn 600
1,9
10,1
88,0
Nghề nghiệp hiện nay
- Tự làm riêng 292
2,6
14,9
82,5 - Sinh thường 916
1,5
9,8
88,6
- Sinh có can thiệp 284
2,7
12,1
85,216
Phần lớn các bà mẹ biết khuyến cáo của ngành y tế về việc cho con bú đến 24
tháng tuổi (67,3%), ngoài ra, chỉ có 11,9% phụ nữ cho rằng ngành y tế khuyến cáo cho
trẻ bú mẹ đến 12 tháng. Tuy nhiên, những bà mẹ thuộc các nhóm như gia đình có mức
thu nhập 4,5 triệu/tháng trở xuống, hiện sinh sống ở nông thôn, tự làm riêng, đã sinh
con thứ hai trở lên biết rõ hơn về khuyến cáo cho con bú mẹ đến 24 tháng của ngành y
tế so với nhóm các bà mẹ thuộc các nhóm: gia đình có mức thu nhập từ 4,6 triệu
đồng/tháng trở lên, ở thành thị, làm công ăn lương hay không đi làm, mới có con đầu
khuyến nghị việc bú sữa mẹ nên được thực hiện ngay trong vòng 1 giờ sau khi trẻ em
được sinh ra.
Theo kết quả khảo sát, trong số 1160 trẻ em đã từng được bú mẹ, chỉ có 42,6%
trẻ em được mẹ cho bú ngay sau khi sinh (Bảng 1.2). Kết quả này có thể do một số bà
mẹ vẫn còn bị ảnh hưởng bởi tập quán cho con bú khi bầu vú căng sữa (hay còn gọi là
xuống sữa). Thời gian chờ đợi cho việc xuống sữa thường là 1-2 ngày sau khi sinh.
Việc người mẹ chờ đợi đủ sữa để cho con bú là một quan niệm sai lầm và ảnh hưởng
không tốt đến sức khỏe của trẻ sơ sinh. Trẻ bú muộn sẽ không được tiếp cận với sữa
non - nguồn sữa có nhiều vitamin A chống bệnh khô mắt, có nhiều kháng thể giúp trẻ
chỗng nhiễm khuẩn và đỡ bị vàng da.
Trẻ em là con đầu có tỷ lệ được bú sữa mẹ ngay sau khi sinh thấp hơn trẻ em có
số thứ tự sinh khác, 33% so với 52%. Điều này thể hiện sự tích lũy kiến thức, kinh
nghiệm của người mẹ ở lần sinh khác so với lần sinh đầu trong việc cho trẻ bú sớm
ngay sau khi sinh.
Người mẹ sinh ở bệnh viện công có tỷ lệ cho con bú sớm ngay sau khi sinh thấp
hơn so với người mẹ sinh ở nơi khác. Hình thức sinh của người mẹ cũng có mối liên
hệ với việc cho con bú sớm ngay sau khi sinh. Các bà mẹ sinh mổ hoặc có can thiệp có
tỷ lệ cho con bú sớm ngay sau khi sinh chỉ bằng một nửa (22% so với 47,1%) so với
những người mẹ khác. Nguyên nhân có thể là do theo khuyến cáo của ngành y tế đối
với những trường hợp sinh mổ, thời gian bắt đầu cho trẻ bú nên khoảng sau 6 giờ vì
người mẹ phải đợi hồi phục sau tác dụng của thuốc gây mê và kháng sinh.
So với hai nhóm tuổi trẻ nhất (18-25 tuổi) và lớn nhất (36-40 tuổi), người mẹ ở
nhóm tuổi 26-30 và 31-35 có tỷ lệ cho con bú sớm sau sinh cao hơn với tỷ lệ là 44%
và 47,4%, so với 36,8% và 42,1%. 18
Làm ăn lương: CM cao 25,6 47
Không đi làm 40,1 192
Nơi cư trú
Thành thị 28,3 167
Nông thôn 49,3 265
Chung 42,6
432
Có xu hướng là những người mẹ ở nhóm học vấn thấp hơn có tỷ lệ cho con bú
sớm cao hơn nhóm có học vấn cao hơn. Khoảng một nửa (51,1%) bà mẹ có trình độ
học vấn từ THCS trở xuống đã cho con bú ngay sau khi sinh, tỷ lệ này giảm xuống còn
khoảng 40% ở nhóm có trình độ THPT và 34% ở nhóm có trình độ cao đẳng, đại học
trở lên. Ngay cả khi tách ra theo nhóm con sinh lần đầu và sinh lần khác thì nhóm bà
mẹ có học vấn cao hơn vẫn có có tỷ lệ cho con bú sớm ngay sau khi sinh thấp hơn ở cả
hai nhóm con đầu và không phải con đầu (Biểu đồ 1.2).
19
Biểu đồ 1.2: Tỷ lệ trẻ em được bú sớm ngay sau khi sinh
chia theo học vấn và lần sinh của người mẹ
35.8
32.5
31.1
33.1
61.4
46
39.3
51.9
0
29.3
48.4
0
10
20
30
40
50
60
70
Tự làm riêng CN, NV CM cao K0 đi làm
Lần đầu Lần khác
Trẻ em ở khu vực nông thôn có tỷ lệ được bú sớm ngay sau khi sinh cao hơn so
với trẻ em ở khu vực thành thị, 49,3% so với 28,3% (Bảng 1.2). Chênh lệch giữa hai
khu vực về tỷ lệ trẻ được bú sớm ngay sau khi sinh khoảng 21 điểm phần trăm. 20
4. Cho trẻ bú đúng cách
Theo hướng dẫn của ngành y tế, cho trẻ bú đúng cách là cho bú hết một bên rồi
chuyển sang bú bên kia nếu trẻ còn đói. Người mẹ không nên cho trẻ bú một chút bên
này rồi một chút bên kia vì như vậy là trẻ sẽ chỉ bú sữa trong dẫn đến trẻ dễ bị tiêu
chảy và không tăng cân. Đối với trẻ mới sinh, nếu không bú hết sữa thì người mẹ phải
vắt bỏ sữa còn lại trong bầu vú tránh còn thừa sữa sẽ làm hạn chế việc tiết sữa.
Cuộc khảo sát tiến hành thu thập thông tin đối với 543 người mẹ hiện vẫn đang
cho con bú về cách thức cho con bú. Kết quả phân tích cho thấy, chỉ có khoảng một
phần ba (33%) người mẹ đang cho con bú thực hiện việc cho bú đúng bằng cách cho
bú hết một bên rồi sang bên kia.
Không/ảnh hưởng vừa phải 34,5 125
Rất/ khá ảnh hưởng 29,7 65
Nơi cư trú
Thành thị 34,5 84
Nông thôn 32,0 106
Chung 32,6 190
21
Học vấn của người mẹ có mối liên hệ với việc cho con bú đúng cách: người mẹ
có học vấn cao hơn có tỷ lệ cho con bú đúng cách cao hơn, bất kể địa bàn cư trú. Kết
quả phân tích cho thấy, khoảng 27,3% số bà mẹ trong nhóm học vấn lớp 0-9 cho con
bú đúng cách, tỷ lệ này tăng lên ở mức 32,2% trong nhóm người mẹ có học vấn Trung
học phổ thông và trung cấp. Đối với nhóm người mẹ có trình độ cao đẳng, đại học trở
lên, tỷ lệ cho con bú đúng cách đạt 44,3%.
Biểu đồ 1.4: Tỷ lệ trẻ em được bú đúng cách
chia theo học vấn và nơi cư trú của người mẹ
29.7
27.6
44.4
34.2
27.1
33.2
44.4
31.9
0
10
20
30
40
khả năng cho con bú đúng cách là học vấn của người mẹ. Học vấn của người mẹ càng
cao thì xác suất cho con bú đúng cách càng cao hơn. So với nhóm người mẹ có học vấn
từ lớp 9 trở xuống, người mẹ có học vấn cao đẳng, đại học có khả năng cho con bú đúng
cách cao hơn 2,1 lần. Nhóm người mẹ có học vấn THPT cũng có khả năng cho con bú
đúng cách cao hơn nhóm người mẹ có học vấn từ lớp 9 trở xuống là 1,3 lần. Các yếu tố
còn lại trong mô hình phân tích đa biến đều không có ảnh hưởng đáng kể đến khả năng
bà mẹ cho con bú đúng cách.
Bảng 1.4: Tác động của các yếu tố người mẹ đến khả năng cho con bú đúng cách
Tỷ số chênh lệch
(Exp(B))
Thứ tự lần sinh
Lần đầu 1
Lần thứ hai trở đi 1,145
Tuổi của mẹ
18-25 1
26-30 0,772
31-40 0,786
Học vấn của mẹ
0-9 1
10-12, TC 1,280
CĐ, ĐH+ 2,128**
Nghề nghiệp của mẹ
Tự làm riêng 1
Làm công ăn lương 1,147
Mức độ ảnh hưởng của tài liệu quảng bá cho bú sữa mẹ
Không/ ảnh hưởng vừa phải 1
7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24
Bảng 1.5 trình bày kết quả phân tích số liệu trẻ em tiếp tục được bú sữa mẹ khi
1 tuổi (12-16 tháng) và khi 2 tuổi (20-24 tháng). Khoảng hai phần ba (70%) trong số
114 trẻ em ở độ tuổi 12-16 tháng vẫn tiếp tục được bú sữa mẹ, tỷ lệ này trong số 122
trẻ em ở nhóm tuổi 20-24 tháng là 26,3%.
Đối với cả hai nhóm tuổi, hầu như không có sự khác biệt khi so sánh theo thứ tự
sinh của trẻ trong việc bé tiếp tục được bú sữa mẹ lúc 1 tuổi và 2 tuổi. Tương tự, tuổi
người mẹ và việc người mẹ chịu ảnh hưởng nhiều của tài liệu quảng bá về cho bé bú
mẹ không có tác động đáng kể đối với việc duy trì cho con bú lúc trẻ được 1 tuổi và 2
tuổi.
Cách thức sinh trẻ có ảnh hưởng đến việc trẻ được tiếp tục bú sữa mẹ khi 1 tuổi.
Những trẻ được sinh thường có tỷ lệ tiếp tục được bú sữa mẹ khi 1 tuổi cao hơn so với
trẻ sinh mổ/can thiệp, 73% so với 60%, tỷ lệ này không có sự khác biệt nhiều ở nhóm
trẻ 2 tuổi.
Học vấn của người mẹ có mối liên hệ với việc nuôi con bằng sữa mẹ cho đến
lúc trẻ được 1 tuổi. Người mẹ có học vấn cao hơn có tỷ lệ cho con tiếp tục bú sữa mẹ
lúc 1 tuổi thấp hơn, khoảng 77% trẻ em trong độ tuổi 12-16 tháng hiện vẫn đang bú
sữa mẹ trong nhóm mẹ có học vấn lớp 0-9 và 72,9% trong nhóm mẹ có học vấn lớp
10-12 và trung cấp. Trong khi đó tỷ lệ trẻ em tiếp tục được bú sữa mẹ khi 1 tuổi ở
24
nhóm người mẹ có học vấn cao đẳng đại học trở lên là 50%. Tuy nhiên, số liệu chưa
cho thấy rõ đây có phải là kết quả tác động của yếu tố trình độ học vấn hay của do yếu
tố khác. Một số lớn các bà mẹ có học vấn cao thường là những người làm công ăn
lương, không có điều kiện ở nhà cho con bú. Đối với nhóm trẻ được 2 tuổi, học vấn
của người mẹ không có mối liên hệ rõ ràng với việc trẻ tiếp tục được bú sữa mẹ.
Kết quả phân tích cũng cho thấy nghề nghiệp của người mẹ có mối liên hệ với
việc tiếp tục cho con bú sữa mẹ khi trẻ 1 tuổi. Tỷ lệ vẫn cho con bú khi trẻ được 12-16
0-9 76,2 28,6
10-12, TC 72,9 23,1
CĐ, ĐH+ 50,0 31,6
Nghề nghiệp của mẹ
Tự làm riêng 52,2 22,4
25
Làm ăn lương: NV, CN 60,0 14,3
Làm ăn lương: CM cao 47,4 25,0
Không đi làm 83,9 36,2
Hiểu biết về bú mẹ
Rất ít/ đôi chút 50,0 23,8
Khá rõ 69,8 19,6
Rất rõ 74,5 31,7
Mức độ ảnh hưởng (AH)
của tài liệu quảng bá cho
bú sữa mẹ
Không/ AH vừa phải 63,3 20,0
Rất/ khá ảnh hưởng 63,2 21,4
Biết khuyến cáo của
ngành y tế về thời gian
cho con bú
Không biết 65,0 19,5
Biết 81,8 40,0
Thu nhập của HGĐ