1
MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU 2
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ RỦI RO VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO 3
1.1. Rủi ro 3
1.1.1. Khái niệm rủi ro 3
1.1.2. Các loại rủi ro 3
1.2. Quản trị rủi ro 4
1.2.1. Khái niệm quản trị rủi ro 4
1.2.2. Vai trò của quản trị rủi ro 5
1.2.3. Quá trình quản trị rủi ro 5
Chương 2: QUẢN TRỊ RỦI RO TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN MAY HƯNG YÊN 12
2.1. Tình huống rủi ro 12
2.2. Quản trị rủi ro tại công ty cổ phần may Hưng Yên 13
2.2.1. Nhận dạng rủi ro 13
2.2.2. Phân tích rủi ro 14
2.2.3. Kiểm soát rủi ro 16
2.2.4. Tài trợ rủi ro 17
Chương 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN TRỊ
RỦI RO CỦA DOANH NGHIỆP 18
3.1. Đối với công ty cổ phần may Hưng Yên 18
3.2. Đối với các doanh nghiệp nói chung 18
KẾT LUẬN 20
TÀI LIỆU THAM KHẢO 21
BIÊN BẢN HỌP NHÓM (Lần 1) 22
BIÊN BẢN HỌP NHÓM (Lần 2) 23
ĐÁNH GIÁ CÁC THÀNH VIÊN TRONG NHÓM 24
Chương 2: Quản trị rủi ro tại công ty cổ phần may Hưng Yên.
Chương 3: Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro của doanh
nghiệp.
3
CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ RỦI RO VÀ
QUẢN TRỊ RỦI RO
1.1. Rủi ro
1.1.1. Khái niệm rủi ro
Một số quan điểm hiện đại về rủi ro:
- Sự may rủi thường được con người cho là khách quan nằm ngoài dự kiến khó
nắm bắt, vì vậy, họ bị động trước sự tác động của yếu tố này.
- Rủi ro và cơ hội luôn gắn liền với thực tiễn đời sống và ước vọng của con
người.
- Rủi ro và cơ hội, may mắn và không may mắn được quan niệm là 2 mặt đối
lập nhưng lại thống nhất trong một thực thể.
- Không có cơ hội và rủi ro cho tất cả trong mọi tình huống.
- Rủi ro có tính đối xứng hay không đối xứng, điều đó tùy thuộc vào quan
điểm của mỗi người đối với rủi ro và hậu quả của nó.
Từ đó, ta có thể rút ra khái niệm rủi ro như sau:
Rủi ro trong kinh doanh là những sự kiện bất lợi, bất ngờ, gây khó khăn trở
ngại cho chủ thể trong quá trình thực hiện mục tiêu, tàn phá các thành quả đang
có, bắt buộc các chủ thể phải chi phí nhiều hơn về nhân lực, vật lực, thời gian
trong quá trình phát triển của mình.
1.1.2. Các loại rủi ro
Nếu dựa vào nguồn gốc của rủi ro, có thể chia rủi ro thành 2 loại chính như
sau:
sót; chính sách tuyển dụng, đãi ngộ nhân viên không phù hợp…
+ Rủi ro do nhận thức của con người: môi trường nhận thức là nguồn rủi ro
đầy thách thức. Một khi nhận diện và phân tích không đúng thì tất yếu sẽ đưa ra
kết luận sai lầm. Nếu nhận thức và thực tế hoàn toàn khác nhau thì rủi ro sẽ vô
cùng lớn.
1.2. Quản trị rủi ro
1.2.1. Khái niệm quản trị rủi ro
Cho đến nay chưa có khái niệm thống nhất về quản trị rủi ro. Có nhiều
trường phái nghiên cứu về rủi ro và quản trị rủi ro, đưa ra những khái niệm về quản
trị rủi ro rất khác nhau, thậm chí mâu thuẫn, trái ngược nhau.
Có những tác giả cho rằng quản trị rủi ro chỉ đơn thuần là đồng nghĩa với
việc mua bảo hiểm. Chỉ quản trị những rủi ro “thuần túy”, “những rủi ro có thể
phân tán”, “những rủi ro có thể mua bảo hiểm”.
Ngược lại, trường phái mới cho rằng cần quản trị tất cả mọi loại rủi ro của tổ
chức một cách toàn diện
5
Trong đó, khái niệm quản trị rủi ro được sử dụng nhiều nhất đó là:
Quản trị rủi ro là quá trình bao gồm các hoạt động nhận dạng, phân tích, đo
lường, đánh giá rủi ro, để từ đó tìm các biện pháp kiểm soát, khắc phục các hậu
quả của rủi ro đối với hoạt động kinh doanh nhằm sử dụng tối ưu các nguồn lực
trong kinh doanh.
1.2.2. Vai trò của quản trị rủi ro
- Giúp tổ chức hoạt động ổn định
- Giúp tổ chức thực hiện mục tiêu sứ mạng, thực hiện chiến lược kinh doanh
- Giúp các nhà quản trị đưa ra quyết định đúng đắn
1.2.3. Quá trình quản trị rủi ro
1.2.3.1. Nhận dạng rủi ro
Để quản trị rủi ro trước hết phải nhận định được rủi ro.
a, Khái niệm
• Phương pháp phân tích báo cáo tài chính
Bằng cách phân tích bản báo cáo hoạt động kinh doanh, bản dự báo về tài
chính và dự báo ngân sách, kết hợp với các tài liệu bổ trợ khác, nhà quản trị có thể
xác định được các nguy cơ rủi ro về tài sản, về trách nhiệm pháp lý, về nguồn nhân
lực…Ngoài ra, bằng cách kết hợp phân tích các số liệu trong kỳ báo cáo có so sánh
với các số liệu dự báo cho kỳ kế hoạch ta còn có thể phát hiện được các rủi ro có
thể phát sinh trong tương lai. Phương pháp phân tích báo cáo tài chính không chỉ
giúp thấy được các rủi ro thuần túy mà còn giúp nhận dạng được những rủi ro suy
đoán.
Đây là phương pháp thông dụng, mọi tổ chức đều thực hiện nhưng ở những
mức độ và sử dụng vào những mục đích khác nhau.
• Phương pháp lưu đồ
Đây là một phương pháp quan trọng để nhận dạng rủi ro.
Trên cơ sở xây dựng một hay một dãy các lưu đồ diễn tả các hoạt động diễn ra
trong những điều kiện cụ thể và trong những hoàn cảnh cụ thể, nhà quản trị có điều
kiện phân tích những nguyên nhân, liệt kê các tổn thất tiềm năng về tài sản, về
trách nhiệm pháp lý và về nguồn nhân lực.
Ví dụ: Đối với doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu thì cần bắt đầu từ
đầu vào của quá trình sản xuất hàng xuất khẩu – cung cấp nguyên, nhiên, vật liệu,
nhân công và các điều kiện sản xuất khác và kết thúc bằng khâu hoàn tất quá trình
tổ chức thực hiện hợp đồng xuất khẩu hàng hóa.
• Phương pháp thanh tra hiện trường, nghiên cứu tại chỗ
Đối với các nhà quản trị rủi ro, thanh tra hiện trường là công việc phải làm
thường xuyên.
Bằng cách quan sát trực tiếp các hoạt động diễn ra ở mỗi đơn vị, mỗi bộ phận,
mỗi cá nhân trong doanh nghiệp, nhà quản trị tìm hiểu được các mối hiểm họa,
nguyên nhân và các đối tượng rủi ro.
7
• Phương pháp làm việc với các bộ phận khác của doanh nghiệp
ra các biện pháp phòng ngừa.
a, Khái niệm phân tích rủi ro
8
Phân tích rủi ro là quá trình nghiên cứu những hiểm họa, xác định các mối
nguy hiểm và nguy cơ rủi ro.
b, Nội dung phân tích rủi ro
Phân tích hiểm họa
• Nhà quản trị tiến hành phân tích những điều kiện tạo ra rủi ro hoặc những
điều kiện làm tăng mức độ tổn thất khi rủi ro xảy ra.
Nhà quản trị có thể thông qua quá trình kiểm soát trước, kiểm soát trong và
kiểm soát sau để phát hiện ra mối hiểm họa
Phân tích nguyên nhân rủi ro
• Phân tích nguyên nhân rủi ro dựa trên quan điểm: Phần lớn các rủi ro xảy ra
đều liên quan đến con người.
• Phân tích nguyên nhân rủi ro dựa trên quan điểm: Phần lớn các rủi ro xảy ra
là do các yếu tố kỹ thuật, do tính chất lý hóa hay cơ học của đối tượng rủi ro.
• Phân tích nguyên nhân rủi ro dựa trên quan điểm: Kết hợp cả 2 nguyên nhân
kể trên. Nguyên nhân rủi ro một phần phụ thuộc vào yếu tố kỹ thuật, một phần
phục thuộc vào yếu tố con người.
Phân tích tổn thất
Có thể phân tích tổn thất thông qua 2 cách thức
• Phân tích những tổn thất đã xảy ra: nghiên cứu, đánh giá những tổn thất đã
xảy ra để dự đoán những tổn thất sẽ xảy ra.
• Căn cứ vào hiểm họa, nguyên nhân rủi ro, người ta dự đoán những tổn thất
có thể có.
1.2.3.3. Kiểm soát rủi ro
Công việc trọng tâm của quản trị rủi ro là kiểm soát rủi ro.
a, Khái niệm
Kiểm soát rủi ro là việc sử dụng các biện pháp (kỹ thuật, công cụ, chiến lược,
trong trường hợp này: trang bị thêm máy móc, tổ chức làm thêm giờ, đặt hàng cho
các cơ sở sản xuất khác có khả năng sản xuất được hàng hóa phù hợp với yêu cầu
chất lượng của hợp đồng…
• Tuy nhiên cần lưu ý:
- Né tránh rủi ro bằng cách loại bỏ nguyên nhân rủi ro không hoàn toàn phổ
biến như chủ động né tránh trước khi rủi ro xảy ra.
- Né tránh rủi ro có thể làm mất cơ hội. Do vậy, né tránh rủi ro không thể thực
hiện một cách tuyệt đối.
Ngăn ngừa rủi ro (chấp nhận nhưng giảm thiểu rủi ro)
• Ngăn ngừa rủi ro là việc sử dụng các biện pháp để giảm thiểu tần suất và
mức độ rủi ro khi chúng xảy ra.
• Các hoạt động ngăn ngừa rủi ro sẽ tìm cách can thiệp vào 3 mắt xích, đó là
mối hiểm họa, môi trường rủi ro và sự tương tác. Sự can thiệp đó là:
10
- Thay thế hoặc sửa đổi mối hiểm họa. Ví dụ: trong quá trình vận chuyển hàng
hóa xuất nhập khẩu, phương tiện vận tải có thể bị mắc cạn, chìm, lật, đâm vào các
vật thể khác… gây tổn thất lớn cho hàng hóa. Biện pháp phòng ngừa: mua bảo
hiểm cho hàng hóa.
- Thay thế hoặc sửa đổi môi trường. Ví dụ: trong quá trình đàm phán hợp đồng
ngoại thương, do cán bộ đàm phán còn non yếu, không có những hiểu biết cần thiết
về môi trường văn hóa của nước đối tác, dẫn đến hành xử không đúng và gặp rủi
ro. Biện pháp phòng ngừa: đào tạo, huấn luyện, nâng cao trình độ cho cán bộ đàm
phán, đặc biệt là kiến thức về văn hóa và cách ứng xử.
- Can thiệp vào quy trình tác động lẫn nhau giữa mối hiểm họa và môi trường
kinh doanh. Ví dụ: khi đến kinh doanh ở một thị trường mới sẽ có thể gặp rất nhiều
bỡ ngỡ, khó khăn; biện pháp phòng ngừa rủi ro: thông qua người trung gian thứ ba
để tiếp cận thị trường, tạo mối quan hệ tốt với chính quyền địa phương.
Giảm thiểu tổn thất
Là việc sử dụng các biện pháp để giảm thiểu những thiệt hại, mất mát mà rủi ro
Trong thực tế có 2 biện pháp cơ bản để tài trợ rủi ro:
Tự khắc phục rủi ro (còn được gọi là lưu giữ rủi ro)
Là phương pháp mà người/ tổ chức bị rủi ro tự mình thanh toán các tổn thất.
Nguồn bù đắp rủi ro là nguồn tự có của chính tổ chức đó, cộng với các nguồn mà
tổ chức đó đi vay và có trách nhiệm hoàn trả.
Để có thể tự khắc phục rủi ro một cách có hiệu quả thì cần lập quỹ tự bảo
hiểm và lập kế hoạch tài trợ tổn thất một cách khoa học.
Chuyển giao rủi ro
Chuyển giao rủi ro có thể thực hiện bằng cách:
+ Chuyển tài sản hoặc hoạt động mang lại rủi ro đến cho người khác/ tổ
chức khác.
+ Chuyển rủi ro thông qua con đường ký kết hợp đồng với người khác/ tổ
chức khác, trong đó quy định chỉ chuyển giao rủi ro, không chuyển giao tài sản cho
người nhận rủi ro. Ví dụ: mua bảo hiểm cho hàng hóa xuất nhập khẩu.
• Có thể kết hợp cả 2 biện pháp tài trợ rủi ro trên để hình thành các kỹ thuật tài
trợ rủi ro khác nhau.
12
CHƯƠNG 2:
QUẢN TRỊ RỦI RO TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN MAY
HƯNG YÊN
2.1. Tình huống rủi ro
Công ty cổ phần may Hưng Yên thành lập từ năm 1966 với tổng diện tích
52.000 m
2
, số lượng công nhân khoảng trên 7000 công nhân nữ với hơn 2515 công
nhân lành nghề và trên 4500 máy may chuyên dùng hiện đại được nhập khẩu từ
Nhật, Đức và Mỹ. Sản phẩm của công ty đã được xuất khẩu sang thị trường lớn
Mối nguy hiểm
+ Đặc thù của công ty yêu cầu tuyển
dụng nhiều công nhân là nữ
+ Do các công nhân là nữ đều muốn
sinh con khi tuổi còn trẻ để có thể chăm
sóc con một cách tốt nhất
+ Đa số công nhân nữ trong công ty đều
đang ở độ tuổi từ 18 – 35 tuổi. + Do ý thức của công nhân là chưa
muốn đi làm khi con chưa đủ năm
+ Do áp lực từ gia đình không cho họ đi
làm lại khi con chưa đủ cứng cáp
+ Do sức khỏe của em bé không được
tốt
+ Do đội ngũ quản lý chậm chạp trong
việc nắm bắt tình hình để đưa ra các giải
pháp cho phù hợp
+ Do công ty chưa có nhiều sự quan
tâm, giúp đỡ, khuyến khích họ đi làm
sớm hơn
+ Công ty không có nhà trông trẻ riêng
giành cho con của các cán bộ công nhân
viên
+ Do công nhân nữ không có gia đình ở
bên hoặc không tìm được nơi để gửi con
khi con còn nhỏ
- Nguy cơ rủi ro:
+ Hoạt động sản xuất của công ty bị chậm trễ do có nhiều công nhân cùng nghỉ
Công ty chưa chú trọng tới việc quan tâm, giúp đỡ, khuyến khích những phụ
nữ nghỉ thai sản đi làm sớm hơn nếu có thể. Công ty không có nhà trông trẻ riêng
để công nhân có thể yên tâm hơn khi đi làm trở lại khi mới sinh con.
Do công ty chưa có biện pháp tuyên truyền, hướng dẫn cụ thể về việc sinh
nở có kế hoạch cho công nhân, nhiều công nhân còn có suy nghĩ rằng muốn con
thông minh, xinh xắn thì chọn năm tốt để sinh con (ví dụ: năm nhâm thìn), như vậy
năm đó thì công ty rơi vào tình trạng khủng hoảng nhân viên trong công tác sản
xuất.
Biết về quy định mới này nhiều chị em trong công ty quyết định sinh thêm
con. Bởi lẽ trước đây họ được nghỉ có 4 tháng, hết 4 tháng họ phải trở lại làm việc,
nếu muốn ở nhà chăm sóc con cho cứng hơn thì họ chấp nhận mất việc, phải bồi
thường hợp đồng hoặc chấp nhận nghỉ việc thêm 1 đến 2 tháng không lương,
không được hưởng phụ cấp, nhiều phụ nữ còn e ngại về vấn đề kinh tế, công
việc,… Giờ đây được tăng thời gian nghỉ là 6 tháng giúp cho các lao động nữ có
thời gian chăm lo cho con lâu hơn mà vẫn nhận được phần trăm lương, tiền phụ
cấp nghỉ thai sản, nuôi con thơ cộng thêm tiền bảo hiểm. Chế độ nghỉ thai sản mới
này đã loại bỏ đi hàng rào cản là vấn đề kinh tế và thời gian nên nhiều công nhân
nữ quyết định sinh thêm con khi tuổi còn trẻ. Do đó công ty lúc nào cũng có thể ở
trong tình trạng “mùa sinh nở”.
15
Do ý thức của công nhân chưa muốn đi làm khi con chưa đầy năm. Ít cơ sở
nhận trông trẻ nhỏ dưới 6 tháng tuổi, mà chi phí cho gửi trẻ là quá đắt, không phù
hợp với thu nhập của gia đình mà không nhờ được bố, mẹ hay người quen nào
trông nom con cho mình nên họ nghỉ việc mà không báo trước cho công ty để công
ty có thời gian chuẩn bị cho các dự án trong tương lai.
Do sức khỏe của bé không được tốt, nên người công nhân này bắt buộc phải
nghỉ làm để chăm sóc, trông nom bé. Ban quản trị công ty không chủ động, linh
hoạt trong vấn đề nếu nhân viên nghỉ thai sản sau đó không quay trở lại làm việc
nữa.
Nếu phát hiện sản phẩm bị lỗi trên thị trường thì ảnh hưởng tới uy tín của
công ty, mất chi phí cho việc khắc phục lại nó.
Thời gian nghỉ thai sản đối với mỗi người là 6 tháng, đây là một khoảng thời
gian khá dài, các nhân viên có đủ thời gian để khôi phục lại sức khỏe sau sinh tuy
nhiên thì tay nghề của những công nhân có thể bị giảm, ảnh hưởng tới năng suất
làm việc hay chất lượng của sản phẩm mà người đó đã làm ra.
Trong thời gian mà những lao động nghỉ thai sản, công ty có những thay đổi
nhất định khi sản xuất kinh doanh, chẳng hạn có công nghệ và kỹ thuật mới,… khi
những nhân viên này quay trở lại làm việc sẽ rất khó để có thể sắp xếp chỗ hợp lý
cho họ. Còn nếu không tiếp nhận họ quay trở lại làm việc nữa thì sẽ bị xã hội lên
án, vi phạm quy định của nhà nước và nhân viên khác không nhiệt tình làm việc
nữa hoặc thậm chí có thể là đình công do họ không tán thành với chính sách đó của
công ty.
2.2.3. Kiểm soát rủi ro
Giảm thiểu tổn thất
+ Tuyển dụng lao động thời vụ, đào tạo kỹ năng nghề nghiệp cơ bản cho những
lao động này.
+ Áp dụng các chính sách hỗ trợ người lao động đi làm sớm như: tăng lương,
vừa hưởng chế độ thai sản vừa tính lương thông thường, hoặc linh hoạt thời gian
làm việc cho lao động vừa sinh con.
+ Tăng giờ làm việc, tăng ca làm việc để đảm bảo năng suất lao động chung của
công ty không bị sụt giảm, hợp đồng với các đối tác vẫn được đảm bảo thực hiện
tốt.
+ Khuyến khích nhân viên tăng năng suất cao hơn để bù lại phần sản lượng bị
thiếu hụt do nhiều công nhân nữ xin nghỉ để sinh con.
Phòng ngừa rủi ro
+ Ngay từ đầu phải xác định xây dựng đội ngũ lao động thay thế cho lượng lao
động nghỉ sinh để đảm bảo tiến độ sản xuất vẫn được duy trì.
+ Dùng quỹ dự phòng, vốn tự có để chi trả cho các chi phí tuyển dụng lao động
thời vụ, đào tạo cho lao động mới.
chi trả trợ cấp ốm đau và thai sản cũng chỉ đạt ở mức hơn 85% và đến đấu năm
2030 số chi bằng 92% số thu. Như vậy quỹ dự phòng vẫn còn 8%, quỹ đảm bảo ở
mức an toàn.
18
CHƯƠNG 3:
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
QUẢN TRỊ RỦI RO CỦA DOANH NGHIỆP
3.1. Đối với công ty cổ phần may Hưng Yên
Ngoài những biện pháp kiểm soát và tài trợ rủi ro mà công ty cổ phần may
Hưng Yên đã áp dụng như trên, công ty có thể áp dụng một số biện pháp cụ thể
sau:
+ Xây dựng nhà trẻ phục vụ cho việc trông nom, chăm sóc con của các lao
động nữ trong công ty để các công nhân có thể yên tâm làm việc trong khi con còn
nhỏ.
+ Hạn chế tuyển lao động nữ trong độ tuổi sinh sản.
+ Khi công ty ký kết hợp đồng với đối tác, phải có điều khoản dự phòng
trường hợp giao hàng chậm do thiếu lao động làm việc.
+ Đào tạo đội ngũ quản lý chuyên nghiệp, tích cực kiểm tra giám sát quá
trình làm việc của nhân viên, để có thể nắm bắt được số lượng công nhân đang
chuẩn bị nghỉ để sinh con.
+ Quan tâm đến đời sống của công nhân, đặc biệt là công nhân nữ. Từ đó,
nắm bắt được nhu cầu của các công nhân, đồng thời tạo được bầu không khí làm
việc hòa đồng, thân thiện trong công ty.
+ Sau khi các công nhân nữ hết thời gian nghỉ sinh và bắt đầu quay trở lại
làm việc, có các chính sách quan tâm, chia sẻ với các bà mẹ và con cái của họ; tạo
điều kiện cho họ trong quá trình làm việc.
3.2. Đối với các doanh nghiệp nói chung
phó với những thay đổi bất ngờ.
20 KẾT LUẬN
Thông qua nghiên cứu các vấn đề lý thuyết về rủi ro và quản trị rủi ro, cũng
như phân tích rủi ro do sự thay đổi chính sách nghỉ thai sản tới công ty cổ phần
may Hưng Yên, ta có thể nhận thấy rõ tầm quan trọng của công tác quản trị rủi ro
trong các doanh nghiệp hiện nay.
Đối với mỗi loại hình doanh nghiệp kinh doanh trong các ngành nghề, các
lĩnh vực khác nhau thì những rủi ro mà doanh nghiệp có thể gặp phải những rủi ro
khác nhau. Tuy nhiên, công tác quản trị rủi ro tại các doanh nghiệp chỉ xoay quanh
các bước: nhận dạng rủi ro, phân tích rủi ro, kiểm soát rủi ro và tài trợ rủi ro. Nhà
quản trị rủi ro tại các doanh nghiệp cần nắm vững các bước quản trị rủi ro này và
nghiên cứu, áp dụng chúng cho phù hợp với môi trường kinh doanh tại doanh
nghiệp mình.
Bên cạnh đó, nhà quản trị rủi ro cũng cần xem xét việc quản trị rủi ro trong
mối quan hệ với quản trị tác nghiệp và quản trị chiến lược để công tác quản trị rủi
ro mang lại hiệu quả cao nhất đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh
nghiệp.
21
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Quản trị rủi ro và bảo hiểm trong doanh nghiệp (NXB Thống kê)
2. Quản trị rủi ro & khủng hoảng (NXB Lao động – xã hội)
3. Rủi ro trong kinh doanh (NXB Thống kê)
4. Bài giảng quản trị rủi ro
Trương Thị Thu Hà
23
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
ĐỘC LẬP - TỰ DO - HẠNH PHÚC
BIÊN BẢN HỌP NHÓM
(Lần 2)
+ Thời gian: 11h30 ngày 10/4/2014.
+ Địa điểm: sân thư viện - Đại Học Thương Mại.
+ Số thành viên có mặt: 9/9.
+ Nội dung công việc: Cả nhóm thống nhất và sửa chữa những sai sót trong bài
trước khi in. Nhóm trưởng công bố điểm đánh giá từng thành viên trong nhóm.
Nhóm trưởng giải đáp các thắc mắc của các thành viên về điểm số. Nhóm trưởng Trương Thị Thu Hà
24
9
7
Nguyễn Thị Hằng
k48k4
9.5
8
Nguyễn Thị Hằng
k48k5
9
9
Vũ Thị Hậu
k48k5
8.5