đề tài bảo vệ thực vật _Lê Ngọc Quang - Pdf 16


TRƯỜNG CĐSP BR-VT Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
KHOA TỰ NHIÊN Độc lập_tự do_hạnh phúc
NGÀNH SPCN
LỚP 11B2
TỔ : 3
GVHD : LÊ THỊ XUÂN MAI
TV TỔ 3 : LÊ NGỌC QUANG
NGUYỄN THỊ HOÀI THƯƠNG
MAI THỊ LUÂN
MAI HỒNG VÂN
TRẦN THỊ HỒNG DỊU
ĐỖ THỊ TUYẾT TRINH
THÁNG 1/2010
Bảo vệ thực vật là một ngành khoa học nghiên cứu về bản chất các loài dịch hại trên cây
trồng và các biện pháp phòng chóng tổng hợp dịch hại nhằm bảo vệ cây trồng,đảm bảo năng
suất cao ,chất lượng tốt, an toàn vệ sinh nông sản và môi trường.
Sâu bệnh và các loại dịch hại khác thường xuyên gây hại trên các loại cây trồng nông
nghiệp và cây lâm nghiệp .Chúng làm chết héo cây hoặc ảnh hưởng trực tiếp dến đời sống
sinh trưởng ,phát triển của cây,làm mất năng suất ,phẩm chất nông sản trên đồng ruộng và
trong kho bảo quản ,gây tổn thất kinh tế to lớn trong sản xuất nông lâm nghiệp ở nước ta và
trên thế giới .Các nguyên nhân gây hại bao gồm các loại côn trùng (sâu hại),bệnh cây, cỏ dại
chuột , nhuyễn thể ,tuyến trùng và các sinh vật hại khác làm tổn hại đến tài nguyên thực vật
trong sản xuất và trong nông lâm nghiệp gây nguy hại đến nền sản xuất nông lâm nghiệp .
Chính vì những tác động tiêu cực từ tự nhiên làm ảnh hưởng đến sự phát triển của nền

chỉ, lúa ma, lúa chét
Theo quy luật về thời tiết, trong vụ đông xuân thường có nhiều đợt sương mù, đây là
điều kiện rất thuận lợi cho bệnh phát sinh phát triển.
Trường CDSP BR_VT Tổ 3 Đề Tài Bảo Vệ Thực Vật
3
Bệnh hại trên cổ bông

Bệnh hại trên đốt thân Vết bệnh mới trên lá
Phòng trừ bằng cách:
● Sử dụng các giống lúa kháng bệnh đạo ôn như: IR1820, IR17494, OM3536, OM2517,
C70, C71, ITA212 Đối với các giống nhiễm, cần xử lý hạt giống trước khi ngâm ủ bằng
cách ngâm hạt giống trong nước có nhiệt độ 54oC trong 10 phút hoặc sau khi ngâm giống,
vớt để ráo nước, phun thuốc Rovral 50WP hay Copper B-WP rồi sau đó ủ giống như bình
thường.
● Không dùng hạt giống ở những ruộng bị nhiễm bệnh. Bón phân cân đối NPK. Không nên
bón đạm tập trung vào trước thời kỳ cuối đẻ nhánh, làm đòng và trước và sau trỗ. Khi cây
lúa bị bệnh, tuyệt đối không bón đạm, giữ nước xâm xấp, cắt tỉa bỏ những lá bị bệnh đem
đốt.
● Dùng có loại thuốc: New Hinosan 30EC, Kitazin 50EC, Kasai 21,2%, Fujione 40EC,
Beam 75WP, Trizol 20WP hoặc 75WP, Rabcide 30WP
Trường CDSP BR_VT Tổ 3 Đề Tài Bảo Vệ Thực Vật
4
Ruộng lúa bị bệnh đạo ôn hại nặng

2.Bệnh khô vằn(Rhizoctonia solani Kuhn)
Bệnh khô vằn: bẹ lá bị bệnh biến màu, trên bẹ lá xuất hiện các vệt to, hình bầu dục, đầu
tiên là có các đốm màu xanh xẫm, sau chuyển màu bạc nâu có viền màu nâu tím. Các vết
bệnh ban đầu dài khoảng 1 cm, có hình ô-van hay hình e-líp, sau các vết bệnh lớn dần, kéo
dài ra khoảng 2-3 cm và hoà lẫn vào nhau vằn vèo ở bất kỳ chỗ nào trên bẹ lá lúa. Trong
điều kiện ẩm độ phù hợp, những lá tiếp giáp với thân lúa bị bệnh có thể bị lây bệnh.

bị đứt rễ hoặc lúc lá lúa bị tổn thương.
Trường CDSP BR_VT Tổ 3 Đề Tài Bảo Vệ Thực Vật
6
Cây lúa bị cháy do bệnh bạc lá Vết bệnh trên lá
Khi vi khuẩn xâm nhập vào cây lúa qua rễ và gốc, cây có thể biểu hiện ngay triệu trứng
Kresek: lá và toàn bộ cây lúa bị héo từ thời kỳ mạ đến bắt đầu thời kỳ đẻ nhánh. Đôi khi lá
bệnh của giống lúa dễ nhiễm bệnh có màu nhạt. Lá già có vẻ bình thường và có màu xanh, lá
non có màu vàng trắng đồng đều hoặc vàng hoặc sọc vàng pha xanh. Nguồn vi khuẩn gây
bệnh vẫn còn tồn dư trong rơm rạ, lúa chét, hạt của cây lúa bị bệnh và cỏ dại ký chủ. Vi
khuẩn lây nhiễm nhờ giọt sương, nước tưới, nước mưa, nước lụt và gió mạnh thổi vào buổi
sáng; vi khuẩn hình thành những giọt dịch nhỏ, cứng và dính vào nước làm tan dịch vi khuẩn
và lan ra dọc theo lá; gió làm xây xát lan ra các lá khác. Bệnh nặng, lá lúa cháy, đặc biệt lá
đòng cháy làm lúa lép lửng cao, giảm năng suất nghiêm trọng. Bệnh này cũng rất dễ phát
sinh thành dịch, nhất là ở những nơi gieo cấy cáy giống nhiễm bệnh.
Ruộng lúa bị cháy do bệnh bạc lá
Phòng trừ bằng cách:
● Sử dụng các giống lúa kháng bệnh bạc lá để đưa vào gieo cấy ở vụ mùa.
● Bón vôi từ 10-15 kg/sào Bắc bộ, làm đất phải đủ ngấu để tránh ngộ độc rễ, có thể rắc tro
bếp thay cho vôi bột.
Trường CDSP BR_VT Tổ 3 Đề Tài Bảo Vệ Thực Vật
7
● Cấy mạ đủ tuổi cũng là một biện pháp giảm nhẹ bệnh. Nên bón cân đối NPK, và bón NPK
tổng hợp có hàm lượng kali cao. Chú ý bón nặng đầu, nhẹ cuối (bón lót sâu, bón thúc sớm
hết lượng đạm và kali), không nên bón kali vào lúc lúa đứng cái vì như vậy cây lúa bị huy
động đạm nên dễ bị bạc lá. Trong vụ mùa sau những đợt mưa lớn cần quan sát để phun thuốc
phòng chống bạc lá.
● Đối với các tỉnh phía Bắc: các giống lúa lai trong vụ phải chú ý bố trí cơ cấu mùa vụ và
xác định vùng sản xuất, nói chung không nên bố trí nhiều diện tích lúa lai trong vụ mùa. Đối
với các giống lúa chất lượng trong vụ mùa nên bố trí cấy lùi thời vụ vào cuối tháng 7 để lúa
trỗ trong khoảng từ 25/9 đến 5/10 vào lúc thời tiết mát sẽ đỡ bị bạc lá hơn.

- Thực hiện triệt để các biện pháp phòng trừ rầy nâu.
- Áp dụng các biện pháp canh tác đồng bộ để tạo cây lúa khỏe nhất là giai đoạn trước trỗ để
gia tăng sức đề kháng của cây.
Trường CDSP BR_VT Tổ 3 Đề Tài Bảo Vệ Thực Vật
8

Tiêu hủy nguồn bệnh trên đồng ruộng, cụ thể như sau:
- Giai đọan lúa còn non: nếu ruộng lúa bị nhiễm bệnh nặng (trên 10% số khóm bị bệnh)
thì phải tiêu hủy ngay bằng cách cày, bừa cả ruộng để diệt mầm bệnh; trước khi cày vùi phải
phun thuốc trừ rầy nâu để tránh phát tán truyền bệnh sang ruộng khác; nếu bị nhiễm nhẹ (rải
rác, dưới 10% số khóm bị bệnh) thì phải nhổ bỏ cây bệnh và vùi xuống ruộng, không bỏ tràn
lan trên bờ.
- Giai đọan lúa sau cấy 40 ngày trở đi: thường xuyên thăm đồng và nhổ, vùi bỏ bụi lúa
bệnh; đồng thời nếu phát hiện rầy cám có mật số trên 3 con/dảnh thì phải phun thuốc trừ rầy
nâu . Nếu ruộng lúa bị nhiễm bệnh quá nặng thì tiêu hủy bằng cách cày, bừa cả ruộng; trước
khi cày, bừa phải phun thuốc trừ rầy nâu nếu có rầy trên lúa để tránh phát tán truyền bệnh
sang ruộng khác.
HÌNH ẢNH VỀ BỆNH VÀNG LÙN, LÙN XOẮN LÁ

RUỘNG LÚA BỊ VÀNG LÙN, LÙN XOẮN LÁ

Trường CDSP BR_VT Tổ 3 Đề Tài Bảo Vệ Thực Vật
9
R
R
uộng bị bệnh nặng, cây lúa
uộng bị bệnh nặng, cây lúa

trồng ít bị bệnh khô vằn như: các loại rau trồng cạn (hành, ngò, ớt) hoặc rau trồng nước (rau
muống, rau cần )
Khi phát hiện có bệnh, dùng một vài loại thuốc sâu để phun xịt như: Validacin 3L, Validan
3DD hoặc 5DD, Folicur 250EW, Cozol 250EC, Vicuron 25BTN, Rovral 50WP hay
500WG
6.Bệnh đốm lá ngô
Trường CDSP BR_VT Tổ 3 Đề Tài Bảo Vệ Thực Vật
10
Bệnh này là do hai loại nấm gây ra, đó là: Helminthosporium maydis gây ra bệnh đốm lá
nhỏ và H.turcicum gây ra bệnh đốm lá lớn. Hai loại nấm này gây hại khá phổ biến ở các
vùng trồng ngô của nước ta, đặc biệt ở những ruộng không có sự đầu tư thâm canh, ruộng
đất xấu, đất trũng hay bị úng nước, ruộng có kết cấu thịt nặng, chặt, dễ đóng vàng, hoặc

ngừa bệnh, cần phải được coi trọng và đầu tư đúng mức.
- Với những ruộng bị bệnh có thể sử dụng một trong những loại thuốc sau đây để phun xịt:
Tilt super 300EC; Kumulus 80DF; Microthiol special 80WP; Dizeb-M45 80WP, Mannozeb
80WP (về liều lượng và cách sử dụng nên đọc kỹ hướng dẫn có in trên vỏ bao bì).
- Nếu đã áp dụng nhiều biện pháp, mà ruộng ngô vẫn bị bệnh nhiều, tốt nhất nên luân canh
với một số loại rau màu khác, để tạm thời cắt đứt cầu nối của bệnh cho các vụ ngô sau. Sau
một vài vụ luân canh thì lại tiếp tục trồng ngô trở lại.
Trường CDSP BR_VT Tổ 3 Đề Tài Bảo Vệ Thực Vật
11

7.Bệnh gỉ sắt :thường gặp ở nhiều loài cây trồng như bắp, cà phê ,hoa hồng
Triệu chứng:
Ở trên lá có 1 chấm nhỏ màu vàng ,vết bệnh = 0,3 - 1,2 mm. Về sau vết bệnh có màu vàng
trong sẽ nổi lên trên mặt lá và chuyển qua màu vàng nâu. Biểu bì là chỗ vết bệnh sẽ nứt ra,
bên trong có lớp bột màu vàng, màu gạch bào tử hạ. Trên 1 diện tích lá có nhiều ổ bào tử hạ
mọc chi chích gần nhau, liên kết với nhau tạo thành 1 vết lớn hình góc cạnh không đều giai
đoạn cuối cùng lá vàng -> vàng nâu và khô rụng hàng loạt.
Nhìn tổng quát lá bệnh có màu vàng -> giảm hàm lượng diệp lục (dễ lầm với bệnh sương
mai nhưng nó có 1 lớp mịn ở mặt dưới lá.
Quy luật biến động:
Bào tử hạ có màu vàng hình tròn hoặc hình trứng, có gai nhỏ, kích thước 20,3 x 27m Nẫy
mầm ở T0 = 20 - 250C, T0 > 300C & T0 < 150C ức chế bào tử nẩy mầm. Thời gian tiềm
dục 13 ngày, T0 = 20 - 300C, thời gian tiềm dục 6 - 8 ngày, T0 > 300C, thời gian tiềm dục
không ổn định, vết bệnh hình thành không rõ.
Bào tử hạ tồn tại trên cây trồng rất lâu, ở trong đất và trên hạt giống. Ở miền Nam không gặp
bào tử đông.
Bệnh gỉ sắt xuất hiện nhiều vào giai đoạn cây ra hoa. Xuất hiện phụ thuộc vào giai đoạn sinh
Trường CDSP BR_VT Tổ 3 Đề Tài Bảo Vệ Thực Vật
12
trưởng của cây khi có 2 lá kép đến chín (khi mới mọc đến bắt đầu ra hoa bệnh nhẹ hơn từ khi

Trường CDSP BR_VT Tổ 3 Đề Tài Bảo Vệ Thực Vật
14
Nguyên nhân:
Do thiếu chất đề kháng
Biện pháp phòng trừ:
Nhổ bỏ cây bệnh tránh để lây lan các cây khác
Phun thuốc hóa học 10.Bệnh loét cam quýt,chanh
Bệnh lây lan chủ yếu qua gió mưa, dụng cụ làm vườn, động vật, chim, con người qua tay
chân, quần áo, tấn công mạnh vào mùa mưa hay những vườn áp dụng biện pháp tưới phun
trên tán lá. Bệnh có lẽ có nguồn gốc từ Đông Nam Á, là nơi xuất phát điểm của cây có múi,
bệnh lây lan trên hơn 30 nước trồng cây có múi ở Châu Á, Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương,
Nam Mỹ và USA. Bệnh đã trở thành dịch lớn ở nhiều nước như: Argentina, Úc, Brazil,
Oman, Á Rập Saudi, đảo Reunion, USA, và Uruguay và nó trở thành đối tượng kiểm dịch
quan trọng.
Trong các giống cây có múi, loét nhiễm nặng nhất trên giống bưởi chùm, các giống
thuộc nhóm cam mật như Hamlin, Pineapple, và Navel, chanh giấy (Mexican limes), chanh
tàu, và cam ba lá.
Tác nhân gây bệnh: Bệnh do vi khuẩn Xanthomonas axonopodis pv. citri (tên củ là X.
campestris pv. citri.)
Triệu chứng bệnh và điều kiện phát sinh, phát triển:
Trường CDSP BR_VT Tổ 3 Đề Tài Bảo Vệ Thực Vật
15
Triệu trứng bệnh loét trên trái
Cam, quýt thuộc nhóm cây có múi. Trong nhóm cây này, bên cạnh những loại sâu bệnh
thường gặp như vẽ bùa, rệp sáp, nhện đỏ, sâu xanh ăn lá, rầy chổng cánh, bệnh loét cũng là
đối tượng gây hại phổ biến.
Bệnh do vi khuẩn Xanthomonas campestric pv. citri gây ra, thường tấn công gây hại các

trái, lá cây non khi chuyển từ màu đồng sang xanh sáng là giai đoạn mẫn cảm nhất, cuống lá
cũng nhiễm dẫn đến hiện tượng rụng sớm. Trong trường hợp nhiễm nặng, toàn bộ chồi
nhiễm bị cháy và chết khô, nhất là gặp lúc thời tiết ẩm.
Tác nhân gây bệnh: Bệnh do nấm Colletotrichum gloeosporioides và C. acutatum gây ra.
Nấm C. gloeosporioides cần ẩm độ cao cho sự xâm nhiễm, bào tử nấm có thể dễ dàng nẩy
mầm trong nước sau đó tạo nên các giác bám và tiến hành xâm nhiễm.
Triệu chứng bệnh và điều kiện phát sinh, phát triển
Bệnh bắt đầu bằng những đốm màu vàng nâu nhỏ trên toàn bộ bề mặt lá, trái, sau đó
chuyển sang nâu phát triển lan rộng ra có thể là những đốm tròn hay bất định.
Bệnh thán thư ở xoài
Trường CDSP BR_VT Tổ 3 Đề Tài Bảo Vệ Thực Vật
17
Dưới điều kiện ẩm ướt chúng liên kết lại thành những đốm lớn. Những đốm này có tâm
màu nâu sáng đến nâu xám được bao bọc bởi rìa màu nâu đen và hơi có quầng màu xanh
vàng. Trong điều kiện khô ráo, những vết bệnh trở nên khô và rơi xuống tạo thành những lỗ
hỏng trên lá.
Trên trái, vết bệnh có thể bị nứt giữa các mãng liên kết trong điều kiện ẩm độ cao, trên
những vết bệnh có khối các bào tử nấm màu hồng. Nếu có những đợt mưa trong quá trình
sinh trưởng của trái, thì vết bệnh tạo thành từng dãy chảy dọc xuống gọi là tear-staining. Khi
mưa dứt, có thể những giọt này chảy xuống theo trái và đọng lại ở phần cuối trái làm cho
bệnh nhiễm trên phần này.
Phòng trừ
Có thể kết hợp nhiều biện pháp khác nhau để phòng trừ bệnh một cách có hiệu quả.
Trong đó bao gồm:
Biện pháp canh tác
Đào mương lên líp (luống): Tuỳ theo độ cao của đất mà thiết kế líp đôi hay líp đơn, sao cho
đảm bảo hơn mực nước ở thời điểm cao nhất là 20 cm.
Trồng cây chắn gió: Nên phối hợp với hệ thống bờ bao đối với vùng có nguy cơ ngập
nước và trồng cây chắn gió đối với những vùng chuyên canh có diện tích tương đối lớn.
Mật độ và khoảng cách trồng: Nên trồng với mật độ vừa phải để tạo sự thông thoáng

- Ngắt bỏ các lá bị bệnh nặng.
- Phun thuốc ngừa hoặc khi bệnh chớm xuất hiện
Sử dụng các loại thuốc bột có lưu huỳnh như Kumulus, Okesulfulac có thể ngăn chặn
được sự phát triển của bệnh
Trường CDSP BR_VT Tổ 3 Đề Tài Bảo Vệ Thực Vật
20
15. Bệnh nứt thân chảy nhựa (Bệnh bả trầu, bệnh chạy dây)
- Do nấm Mycosphaerella melonis gây ra. Nấm tồn tại trong tàn dư cây bệnh, lây lan bằng
bào tử. Thời tiết nóng và mưa nhiều thích hợp cho bệnh phát triển.
- Bênh gây hại chủ yếu trên thân, đôi khi trên lá và cuống quả. Trên thân vết bệnh lúc đầu là
đốm hình bầu dục, màu xám trắng, kích thước 1-2 cm, vết bệnh hơi lõm, làm khuyết một bên
thân hay nhánh. Trên vùng bệnh, nhựa màu nâu đỏ ứa ra thành giọt, sau đổi thành màu nâu
sẫm và khô cứng lại. Bệnh nặng làm thân cây bị nứt thành vệt dài và chảy nhựa nhiều hơn,
trên đó có những hạt nhỏ màu đen (các ổ bào tử nấm), cả cây có thể bị khô chết.
- Trên lá, đốm bệnh không đều đặn và lan rộng dần, có màu nâu xám nhạt. Bệnh thường xuất
hiện từ bìa lá lan vào theo những mảng hình vòng cung, trên đó có các ổ bào tử màu đen, lá
bị cháy, khô rụng.
- Trên cuống quả, triệu chứng bệnh giống như trên thân, có thể nứt và chảy nhựa, quả nhỏ
hoặc bị rụng sớm.
Phòng trị :
- Thu dọn tàn dư cây trồng.
- Bón phân đạm vừa đủ.
- Phun ướt đẫm cây dưa và gốc :
+ Bavistin 50FL; Carbenda 50SC : 10-15 ml/bình 8 lít
+ Polyram 80DF; Dithane xanh M45 80WP; Manozeb 80WP: 30-40 g/bình 8 lít
+ Ridozeb 72WP; Bemyl 50WP : 25-30 g/bình 8 lít
+ Top 70WP : 4-8 g/bình 8 lít
Trường CDSP BR_VT Tổ 3 Đề Tài Bảo Vệ Thực Vật
21
16. Bệnh thúi thân (bệnh chảy mủ)

(khi cây cho thu hoạch không giao tán với nhau), tránh độ ẩm cao ở phần gốc và nên sử lý
thuốc trừ bệnh trước khi trồng.
Kết hợp với việc tỉa cành tạo tán giúp cho cây được thông thoáng để hạn chế bệnh phát triển.
Khi trong vườn có cây bị bệnh, ta dùng dao cạo bỏ phần vỏ bị nhiễm và dùng thuốc Ridomyl
Gold hoặc Aliette pha với liều lượng 20 g/lít nước rồi dùng cây cọ sơn bôi thuốc lên chổ đã
cạo nhiều lần đến khi vết bệnh khô hẳn.
Trong giai đoạn cây cho trái cần phun ngừa định kỳ 10-15 ngày một lần để tránh bệnh xâm
nhiễm làm trái bị thối bằng các loại thuốc như trên theo liều lượng khuyến cáo.
Đối với cây bưởi hay nhóm cây có múi có gốc tương đối lớn, chúng ta có thể sử dụng thuốc
Phosphonate (Agri phos) để bơm vào trong thân cây cũng có tác dụng phòng ngừa bệnh rất
tốt. Sau mỗi 3 tháng bơm một lần, tuy nhiên trong mùa mưa do lượng nước trên cây nhiều
nên tốc độ bơm rất chậm.
Vườn cây có múi nên bón nhiều phân hữu cơ và cung cấp nấm đối kháng Trichoderma vào
trong đất xung quanh gốc cây để nấm hoạt động và tiêu diệt các mầm bệnh là nấm đất còn
tồn tại trong đất hay xác bã thực vật nằm trong đất.
Gốc cây cũng nên được quét vôi mỗi năm từ 1 đến 2 lần, vào cuối mùa nắng hay đầu mùa
mưa và cuối mùa mưa, chiều cao của vết quét ít nhất là 50 cm kể từ gốc cây, xung quanh gốc
nên rải vôi. Vôi có tác dụng làm hạn chế sự nẩy mầm của bào tử nấm.
Trường CDSP BR_VT Tổ 3 Đề Tài Bảo Vệ Thực Vật
23
Xì mủ ở cây xoài
17.Bệnh vàng lá trên tiêu
Nguyên nhân được xác định là do không chọn lọc kỹ và thanh trùng ngay từ khâu xuống
giống.
Triệu chứng: lá vàng rụng, năng suất giảm, dây thối rễ rồi chết;
18. Bệnh xoăn lá cà chua
Triệu chứng
Cây bị bệnh còi cọc, lá hơi cứng, nhỏ, biến dạng nhăn lốm đốm. Bệnh thường xuất
hiện trên lá non, cây có thể phân hóa nhiều cành, cho ít trái và trái nhỏ.
Tác nhân gây bệnh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status