báo cáo chuyên đề thuốc bảo vệ thực vật và tính chất hai mặt - Pdf 26

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HCM
KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN

Báo cáo chuyên đề
Độc chất học môi trường
THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT VÀ
TÍNH CHẤT HAI MẶT
GVHD: Ts. Lê Quốc Tuấn
Nhóm thực hiện: Nhóm_DH10DL
Nguyễn Xuân Du 10157030
Nguyễn Thị Hồng Gấm 10157045
Lý Thảo Ngân 10157120
Dương Thị Kim Oanh 10157141
Nguyễn Thị Đan Tâm 10157161
Lào Văn Phấn 10157142
Thái Duy Bình 11157076
Tháng 03, 2013
Thuốc bảo vệ thực vật và tính chất hai mặt
MỤC LỤC
GVHD: Ts. Lê Quốc Tuấn Trang 2
Thuốc bảo vệ thực vật và tính chất hai mặt
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết
Việt Nam là một nước có chiều dài lịch sử về sản xuất nông nghiệp. Khí hậu
nhiệt đới nóng và ẩm của nước ta thuận lợi cho sự phát triển của cậy trồng nhưng
cũng thuận lợi cho sự phát sinh, phát triển của sâu bệnh, cỏ dại gây hại mùa màng.
Do vậy, việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật để phòng trừ sâu hại, dịch bệnh bảo vệ
mùa màng, giữ vững an ninh lương thực quốc gia là một trong những biện pháp
quan trọng và chủ yếu.
Tuy nhiên, những năm gần đây, việc sử dụng thuốc BVTV trong thâm canh
sản xuất, đặc biệt là trong nông nghiệp và lâm nghiệp có xu hướng gia tăng cả về

trùng, mạng nhện.
Năm 1500 TCN, có hợp chất để diệt bọ chét trong nhà.
Năm 1200 TCN, Trung quốc đã có thuốc xử lý hạt giống.
Năm 900 SCN, người ta dùng arsenic sulfides đểtrừ côn trùng trong vườn.
Thế kỷ thứ IV, người ta biết xử lý hạt lúa bằng arsen trắng.
Từ cuối thế kỷ XVIII đến cuối thế kỷ XIX là thời kỳ cách mạng công nghiệp
ở Châu Âu. Sản xuất nông nghiệp tập trung và năng suất cao hơn, đồng thời tình
hình dịch hại càng nhiều hơn xảy ra trong phạm vi toàn thế giới. Một số thuốc trừ
sâu, dịch hại, diệt hại phổ biến ở cuối thế kỷ XIX đến năm 1930, chủ yếu là chất vô
cơ như arsen, celenium, sulfur… hoặc một số chất thảo mộc vốn có chất độc. Xong
thời bấy giờ chưa ai biết được đến độc hại của nó.
Từ đầu thế kỷ XX, xuất hiện một biện pháp trừ sâu hại tích cực hơn và hiệu
quả hơn. Đó là sự ra đời của DDT thuộc nhóm Clor hữu cơ vào 1939, và lien tục
sau đó ra đời nhiều các hợp chất hóa học khác. Đây là hợp chất đầu tiên trong chuỗi
thuốc trừ sâu được khám phá, nó tiêu diệt được một số lượng lớn côn trùng. Trong
suốt 25 năm sau đó, nó được em như là vị cứu tinh của nhân loại, giúp diệt trừ côn
trùng và tăng sản lượng nông sản. Chu trình sản xuất cũng tương đối rẻ nên nó được
áp dụng phổ biến rộng rãi ở mọi nơi trên thế giới.
Năm 1940, người ta tổng hợp nên các hợp chất có gốc lân hữu cơ.
GVHD: Ts. Lê Quốc Tuấn Trang 4
Thuốc bảo vệ thực vật và tính chất hai mặt
Năm 1947, người ta tổng hợp nên hóa chất Carbamate.
Năm 1970 phát hiện được các loại thuốc pyrethroide.
Hiện nay thuốc trừ sâu tồn tại ba thế hệ, tín độc hại của thế hệ sau thường
thấp hơn thế hệ trước.
Thuốc trừ sâu thế hệ thứ nhất thường là thuốc chiết từ chất nicotin, hay
pyrethrum chiết từ một loại cúc khô, những chất vô cơ như phèn xanh, thạch tín…
Thuốc trừ sâu thế hệ thứ hai là tổng hợp các chất hữu cơ: DDT, 666,
Wofatox… (xuất hiện vào thập niên 40).
Thuốc trừ sâu thế hệ thứ ba, xuất hiện vào những năm 70 và 80 như gốc lân

lệ thuốc trừ sâu ngày càng giảm trong tổng số thuốc BVTV được sử
dụng.
− Thuốc trừ bệnh: là những thuốc phòng trừ các loài vi sinh vật gây
bệnh cho cây (nấm, vi khuẩn, tuyến trùng). Một số vi sinh vật quan
trọng khác gây bệnh cho cây như Virut, Mycoplasma tới nay chưa có
thuốc diệt trừ. Các thuốc trừ bệnh nói chung là ít độc hơn so với
thuốc trừ sâu và ngày càng được sử dụng nhiều.
− Thuốc trừ cỏ: là những thuốc phòng trừ các loại thực vật, rong, tảo
mọc lẫn với cây trồng, làm cảng trở đến sinh trưởng của cây trồng.
Thuốc trừ cỏ cũng ít độc hơn so với thuốc trừ sâu nhưng lại rất dễ
gây hại cây trồng. Thuốc trừ cỏ cũng được sử dụng ngày càng nhiều.
− Thuốc trừ chuột: là những thuốc dùng phòng trừ chuột và các loại
gậm nhầm khác. Các thuốc trừ chuột đều rất độc với con người và
gia súc.
− Thuốc trừ nhện: là những thuốc chuyên dùng phòng trừ các loài nhện
hại cây trồng. Có nhiều loại thuốc trừ sâu cũng có tác động với nhện.
− Thuốc trừ ốc sên: có nhiều loài ốc gây hại cho cây trồng, cũng có
những loại thuốc chuyên dùng để phòng trừ.
− Thuốc điều tiết sinh trưởng cây trồng: còn gọi là thuốc kích thích
sinh trưởng. Là những thuốc có khả năng kích thích cây rễ, tăng độ
nảy mầm, tăng trưởng và phát triển của thực vật, rút ngắn giai đoạn
sinh trưởng dẫn đến tăng năng suất nông sản. Cũng có ức chế sinh
trưởng dùng chống lốp đổ hoặc hạn chế chiều cao cây mà tăng nảy
chồi, nảy hoa.
2.3.2. Phân loại theo gốc hóa học
2.2.2.1 Thuốc trừ sâu:
GVHD: Ts. Lê Quốc Tuấn Trang 6
Thuốc bảo vệ thực vật và tính chất hai mặt
− Nhóm thuốc thảo mộc: có độ độc cấp tính cao nhưng mau phân
hủy trong môi trường.

Hình 2.4. DDVP (Dichlovos): C
4
H
7
Cl
2
O
4
P.

Hình 2.5. Dipterex (Trichlorfon): C
4
H
8
Cl
3
O
4
P
− Nhóm carbamate: Mipcin, Bassa, Sevin,…đây là thuốc được dùng
rộng rãi bởi vì thuốc tương đối rẻ tiền, hiệu lực cao, độ độc cấp
tính tương đối cao, khả năng phân hủy tương tư nhóm lân hữu cơ.
GVHD: Ts. Lê Quốc Tuấn Trang 8
Thuốc bảo vệ thực vật và tính chất hai mặt
Hình 2.6. Carbaryl
− Nhóm Pyrethoide (Cúc tổng hợp): Decis, Sherpa, Sumicidine,
nhóm này dễ bay hơi và tương đối mau phân hủy trong môi trường
và cơ thể người.
Hình 2.7. Permethrin: C
21

phẩm từ dầu mỏ được dùng làm thuốc trừ sâu.
2.2.2.2 Thuốc trừ nhện
Nhiều loại thuốc trừ sâu có khả năng trừ nhện. Ngoài ra còn có một số
thuốc chuyên dùng từ nhện.
2.2.2.3 Thuốc trừ bệnh
Gồm 2 nhóm lớn:
- Nhóm thuốc vô cơ: chủ yếu là các nhóm hóa học:
GVHD: Ts. Lê Quốc Tuấn Trang 10
Thuốc bảo vệ thực vật và tính chất hai mặt
+ Nhóm đồng (Cu): có thuốc Bordeaux và các hợp chất đồng
sulfate, đồng oxychlorid, đồng hydrocid.
+ Nhóm lưu huỳnh (S): bột lưu huỳnh và hợp chất Cacium sunful.
+ Nhóm thủy ngân (Hg): các hợp chất thủy ngân Chloride.
+ Tác động chủ yếu của nhóm này là tiếp xúc, phổ tác dụng rộng.
Độ độc cấp tính thấp nhưng chậm phân hủy trong môi trường và
cơ thể người, một số đã cấm sử dụng trong nông nghiệp (thủy
ngân).
- Nhóm thuốc hữu cơ: có các nhóm chính là:
+ Nhóm lân hữu cơ: có cấu tạo hóa học chung tương tự nhóm lân
hữu cơ trừ sâu. Phổ biến hiện nay là các chất Edifenphos,
Iprobenphos.
+ Nhóm carbamate: có gốc carbamate như thuốc trừ sâu. Chủ yếu
là các chất Benomyl, Carbendazim.
+ Nhóm Dithiocarbamate: hai nguyên tử S thay cho hai nguyên tử
O trong cấu tạo gốc carbamat. Chủ yếu là các chất Maneb,
zineb, mancozeb.
+ Nhóm Triazole: trong công thức hóa học có gốc Triazole.
- Nhóm Dicarboximit: có các chất Captan, Folpet.
- Nhóm thuốc sinh học: là những chất kháng sinh được chiếc xuất
trong quá trình lên men của một số loài nấm nhóm Streptomyces.

trừ ốc hại cây (Metaldehye), thuốc chuyên dùng xử lý kho (Methyl Bromide).
2.3.3. Phân loại theo độc tính
Căn cứ độ độc cấp tính của thuốc tổ chức Y tế thế giới (WHO) phân chia các
loại thuốc thành 5 nhóm độc khác nhau: Ia (rất độc), Ib (độc cao), II (độc trung
bình), III (ít độc), IV (rất ít độc).
Ở nước ta, tạm thời theo cách phân nhóm độc của WHO và lấy căn cứ chính
là LD
50
qua miệng

(chuột) phân chia thành 4 nhóm độc là nhóm I (rất độc, gồm cả Ia
và Ib), nhóm II (độc trung bình), nhóm III (ít độc) và nhóm IV (rất ít độc).
Bảng 2.1. Bảng phân loại độc tính
Phân nhóm Ký hiệu Biểu tượng
Nhóm I: Rất độc Chữ đen trên dải đỏ Đầu lâu xương chéo trên
GVHD: Ts. Lê Quốc Tuấn Trang 12
Thuốc bảo vệ thực vật và tính chất hai mặt
nền trắng
Nhóm II: Độc trung bình Chữ đen trên dải vàng Chữ thập đen trên nền
trắng
Nhóm III: ít độc Chữ đen trên dải xanh
nước biển
Vạch đen không liên tục
trên nền trắng
Nhóm IV: Rất ít độc Chữ đen trên dải xanh
lá cây
Bảng 2.2. Các dạng thuốc BVTV
Dạng thuốc Chữ viết tắt Thí dụ Ghi chú
Nhũ dầu ND, EC Tilt 250 ND,
Basudin 40 EC,

bả mồi.
Thuốc phun
bột
BR, D Karphos 2 D Dạng bột mịn, không tan
trong nước, rắc trực tiếp
ND: Nhủ Dầu, EC: Emulsifiable Concentrate.
DD: Dung Dịch, SL: Solution, L: Liquid, AS: Aqueous Suspension.
BTN: Bột Thấm Nước, BHN: Bột Hòa Nước, WP: Wettable Powder,
DF: Dry Flowable, WDG: Water Dispersible Granule, SP: Soluble Powder.
GVHD: Ts. Lê Quốc Tuấn Trang 13
Thuốc bảo vệ thực vật và tính chất hai mặt
HP: huyền phù FL: Flowable Liquid, SC: Suspensive Concentrate.
H: hạt, G: granule, GR: granule.
P: Pelleted (dạng viên)
BR: Bột rắc, D: Dust.
2.3. Cách tác động của một số nhóm thuốc phổ biến
2.3.1. Thuốc trừ sâu:
Thuốc trừ sâu có thể tác động đến sâu hại theo nhiều cách khác nhau:
− Tác động đường ruột còn gọi là tác động vị độc: Thuốc theo thức ăn (lá
cây, vỏ thân cây ) xâm nhập vào bộ máy tiêu hoá rồi gây độc cho sâu
hại.
− Tác động tiếp xúc: Khi phun thuốc lên cơ thể côn trùng hoặc côn trùng di
chuyển trên thân, lá của cây có phun thuốc, thuốc sẽ thấm qua da đi vào
bên trong cơ thể rồi gây độc cho sâu hại.
Ví dụ: SOUTHSHER 10EC, ASITRIN 50EC… là thuốc trừ sâu mới, có
phổ tác dụng rộng, tác dụng tiếp xúc và vị độc
− Tác động xông hơi: Thuốc ở thể khí (hoặc thể lỏng hay thể rắn nhưng có
khả năng bay hơi chuyển sang thể khí) xâm nhập vào cơ thể côn trùng
qua các lỗ thở qua đường hô hấp rồi gây độc cho sâu hại.
− Tác động thấm sâu: Sau khi được phun thuốc lên mặt lá, thân cây thuốc

dùng sớm, khi dự báo bệnh có khả năng xuất hiện và gây hại cho thực
vật. Nếu dùng chậm thuốc không thể ngăn chặn được bệnh phát triển. Ví
dụ: Boóc đô, Đồng oxyclorua, Monceren, Mancozeb…
− Thuốc có tác dụng trừ bệnh: Khi phun lên cây, thuốc có khả năng xâm
nhập dịch chuyển bên trong mô thực vật và diệt được vi sinh vật gây
bệnh đang phát triển ở bên trong mô thực vật.
Nhiều loại thuốc trừ nấm thông dụng ở nước ta là những thuốc có tác
dụng trị bệnh. Aliette, Anvil, Kitazin, Validacin, …
2.3.3. Thuốc trừ cỏ dại
Thuốc trừ cỏ thường tác động đến các khả năng chủ yếu của cây cỏ như quá
trình hô hấp, quang hợp, quá trình biến dưỡng tạo các chất cơ bản như glucid, lipid
và protid hoặc làm biến đổi các phản ứng sinh lý sinh hóa trong cây cỏ. Sau đây là
một vài cơ chế thường gặp:
− Thuốc trừ cỏ có tác động như là một chất kích thích tố sinh trưởng,
chúng làm cho tế bào phát triển quá mức bình thường, đồng thời gây rối
loạn sinh trưởng. Đại diện cho nhóm Phenoxy-acetic acid là 2,4-D.
GVHD: Ts. Lê Quốc Tuấn Trang 15
Thuốc bảo vệ thực vật và tính chất hai mặt
− Ức chế quá trình quang hợp, phá hủy cấu trúc của tế bào diệp lục. Đại
diện cho nhóm Oxadiazon là Ronstar 25 EC.
− Ngăn trở sự hình thành các acid amin: Một số loại thuốc trừ cỏ ngăn cản
đến sự hình thành các acid amin không thay thế được, thiếu những chất
nầy cây cỏ sẽ chết dần. Đại diện cho hoạt chất Pyrazosulfuron là sirius
10 WP, Star 10 WP
− Ngăn trở sự hình thành chất béo: Một số loại thuốc trừ cỏ có khả năng ức
chế sự hình thành của các lipid, thiếu những chất nầy cây cỏ cũng sẽ chết
dần. Đại diện cho hoạt chất Butachlor là Butoxim 60 EC, Meco 60 EC,
Echo 60 EC, Butan 60 EC và Phenoxapprop-P-ethyl là Whip’S 7,5 EWP.
2.3.4. Thuốc trừ chuột:
Có 3 cơ chế chính:

xuất hiện các cơn co giật mạnh và chết.
Thuốc trừ sâu cơ clo gây ức chế enzim axetylcolinesteraza, biểu diễn như
sau:
− Bước 1:
− Bước 2:
Axetylcolin là chất điều chỉnh sự rung động dây thần kinh, nó có tác dụng
kích động các tế bào thần kinh. Khoảng không gian giữa các tế bào thần kinh chứa
cả hai chất axetylcolin và enzim axetylcolinesteraza. Thuốc trừ sâu có clo có thể tác
dụng thúc đẩy enzim axetylcolinesteraza phá hủy axetylcolin và ngăn cản các tế bào
thần kinh làm việc. Bước đầu, enzim axetylcolinesteraza tác dụng với axetylcolin
tạo ra các thành phần trung gian là enzim axetyl và colin. Sau đó, enzim axetyl bị
thủy phân tạo thành axit axetic và tái tạo lại enzim axetylcolinesteraza ban đầu.
GVHD: Ts. Lê Quốc Tuấn Trang 17
Thuốc bảo vệ thực vật và tính chất hai mặt
Thuốc diệt côn trùng cơ photphoco1 thể tác dụng giống như axetylcolin và
kích thích sự tạo thành photphoryl enzim:
Sự phân hủy hợp chất trung gian enzim photphoryl xảy ra chậm hơn nhiều so
với quá trình thủy phân enzim axetyl.
Với loại côn trùng, cacbamat phản ứng cũng xảy ra tương tự:
Các phản ứng ở trường hợp thuốc trừ sâu loại cơ photpho và cacbamat trên
điều dẫn tới nồng độ enzim hoạt động bị giảm đi. Axetylcolin enzim không tiếp tục
bị phân hủy đủ nhanh và thần kinh sẽ hoạt động ở trạng thái không kiểm soát được,
kết quả là côn trùng bị tiêu diệt.
2.5. Một số loại thuốc bảo vệ thực vật điển hình:
2.6.1. Aldicarb
Aldicarb là chất BVTV dùng để diệt giun trong đất và ve có trên nhiều loại
cây. Aldicarb tan tốt trong nước và lưu chuyển dễ dàng trong đất. Aldicacrb bị biến
chủ yếu do quá trình thủy phân và sinh học. Thời gian tồn lưu aldicarb trong môi
trường có thể từ vài tuần cho đến vài tháng.
Có nhiều bằng chứng cho thấy Aldicarb không có tính gây nhiễm độc gen

dụng cho cây trồng, vật nuôi, nó còn được dùng để bảo quản gỗ.
Lindace là một chất tồn lưu có ái lực với nước thấp và di động trong đất
chậm, đã phát hiện có trong nước. Nhiễm lindace cho ngườ xảy ra chủ yếu do thực
phẩm.
Giá trị cho phép trong nước uống là 2µg/l.
2.6.7. Permethrin
Permethrin là chất diệt côn trùng gốc pyrethoid tổng hợp, được dùng rộng rãi
để bảo vệ mùa màng phục vụ cho hoạt động trong y tế cộng đồng. Nó còn được
dùng để diệt bọ gậy trong các bể dự trữ nước và để khống chế sự phát triển của các
động vật không xương sống trong các ống dẫn nước chính. Permethrin có ái lực
GVHD: Ts. Lê Quốc Tuấn Trang 19
Thuốc bảo vệ thực vật và tính chất hai mặt
đáng kể với đất, các chất lắng và có ái lực kém với nước. Nó có thể bị phân hủy
quang học hoặc sinh học và tồn lưu trong khoảng thời gian từ vài ngày đến vài tuần.
Permethrin không có tính gây nhiễm độc gan. Giá trị cho phép trong nước
uống là 20µg/l.
3. HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG VÀ QUẢN LÝ
3.1. Hiện trạng sử dụng
3.1.1. Số lượng thuốc bảo vệ thực vật trong thời gian qua
Mặc dù đến nay vẫn có nhiều quan điểm khác nhau về sử dụng thuốc BVTV
trong sản xuất nông nghiệp, nhưng phải công nhận rằng thuốc BVTV đã góp phần
không nhỏ trong việc bảo vệ và tăng năng suất cây trồng trên thế giới nói chung và
ờ Việt Nam nói riêng. Do đó, nhiều nông dân coi thuốc BVTV như một thứ thần
dược duy nhất để bảo vệ sản lượng diện tích nhỏ nhoi của họ mà lãng quên đi mặt
trái của chúng.
Theo thống kê của Cục Tài Nguyên Môi Trường, lượng HCBVTV được sử
dụng ở Việt Nam từ 1986-1990 khoảng 13 nghìn-15 nghìn tấn (Hoàng Lê, 2003) và
thống kê của Viện BVTV Việt Nam, năm 1990 lượng thuốc BVTV từ 10.300 tấn lên
33.000 tấn, đến năm 2003 tăng lên 43.000 tấn và năm 2005 là 50.000 tấn (Phương
Liễu, 2006). Đây là con số đáng báo động.

1991 20.300 22,5 16.900 83,3
1992 23.100 24,1 18.000 76,4
1993 24.800 33,4 18.000 72,7
1994 20.380 58,9 15.226 68,3
1995 25.666 100,4 16.451 64,1
1996 32.751 124,3 17.352 53,0
Theo các báo cáo gần đây nhất cũng như các kết quả điều tra của Viện
BVTV thì việc lạm dụng và sử dụng các thuốc BVTV có độ độc cao, thậm chí các
loại thuốc bị hạn chế và thuốc cấm sử dụng vẫn đang diễn ra trong sản xuất.
3.1.2. Chủng loại thuốc BVTV trong sản xuất nông nghiệp
Các HCBVTV hiện nay có một số nhóm chính như phosphor hữu cơ, chlor
hữu cơ, cacbamat, pyrethroid và một số chất khác như aldicarb, camphechlor…với
hang tram tên thương mại và nguồn gốc xuất xứ khác nhau dẫn đến nhiều khó khan
trong sữ dụng và quản lý. Trong tháng 9/2012, Cục BVTV đã tiến hành kiểm tra các
cửa hang, đại lý kinh doanh thuốc BVTV. Kết quả có 427/455 mẫu đạt chất lượng
(chiếm 93,8%), có 28 mẫu (chiếm 6,2%) không đạt chất lượng.
3.1.3. Vấn đề lạm dụng thuốc BVTV trong sản xuất
Gần đây đã có khá nhiều báo cáo đề cập đến hiện tượng lạm dụng thuốc
BVTV như tăng số lần và nồng độ thuốc phun, không đảm bảo thời gian cách ly,
phun định kỳ không theo diễn biến của dịch hại. Các hiện tượng đã trở nên phổ biến
ở hầu hết các vùng sản xuất.
Bên cạnh việc tăng lượng dung và số lần sử dụng, nông dân thưởng tăng
nồng độ thuốc phun. Việc tăng nồng độ thuốc phun có thể xuất hiện dưới hai dạng:
- Khi phun thuốc thấy sâu không chết, nông dân có thể tăng lượng thuốc
dung trong một bình phun.
GVHD: Ts. Lê Quốc Tuấn Trang 21
Thuốc bảo vệ thực vật và tính chất hai mặt
- Nông dân vẫn giữ nguyên lượng thuốc phun nhưng giảm lượng nước
phun theo khuyến cáo, như vậy vô tình họ đã tăng nồng độ thuốc phun.
Theo kết quả điều tra của Viện BVTV năm 1995 và 1996, hầu hết nông dân

Công cụ phun rải thuốc kém chất lượng cũng làm giảm hiệu quả thuốc và
gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe người sử dụng. Theo báo cáo của Vũ Lữ
(1998) thì hiện nay nông dân phổ biến vẫn đang sử dụng các loại bơm tay đeo vai
được sử dụng từ các cơ sở trong nước và từ Trung Quốc. Nhưng phần lớn các bên
này không đủ tiêu chuẩn chất lượng vẫn rất hay xảy ra hỏng hóc các phụ kiện như
vòi phun, can phun, bình kích áp… làm cho kích thước hạt thuốc to, không đồng
đều, do đó hiệu quả của thuốc bị giảm đáng kể. Mặc khác, khi bơm hỏng dễ bị rò rỉ
thuốc ra ngoài, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của người phun.
3.2. Hiện trạng quản lý
Một thực tế đang tồn tại gây khó khăn cho việc quản lý thuốc BVTV ở nước
ta là tình trạng "loạn" danh mục các loại thuốc. Hiện chúng ta có quá nhiều tên
thương mại của các loại thuốc trong khi nhiều loại không còn được sử dụng.
Hiện nay, trong danh mục của chúng ta có hơn 1.200 hoạt chất để chế tạo thuốc
BVTV trong khi các nước khác trong khu vực như Thái Lan, Malaysia chỉ có từ
400 - 600 hoạt chất. Trong đó, có những hoạt chất có hàng trăm tên thương mại,
giống như "ma trận" đánh lừa người dân. Chẳng hạn, hoạt chất Abamectin có tới
188 tên thương mại.
Thuốc BVTV là mặt hàng kinh doanh hạn chế và có điều kiện nên Nhà nước
thống nhất quản lý việc nhập khẩu, bảo quản, vận chuyển, kể cả trong sử dụng.
Quyết định 175/2004/QĐ của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành
ngày 10/10/2004 quy định: Tất cả các nhãn thuốc BVTV phải ghi bằng tiếng Việt,
có thể kèm theo tiếng nước ngoài, phải rõ ràng, dễ đọc, gắn lên bao bì, không được
dùng hình nền trùng với màu chỉ độc chung… Nội dung nhãn phải gồm đủ 10 mục:
thông tin về độ độc, tên thuốc, thành phần hoạt chất, dạng thuốc, công dụng, hướng
dẫn sử dụng, những biện pháp an toàn khi sử dụng
Trên thị trường hiện có khoảng 22.000 cửa hàng buôn bán thuốc BVTV,
trung bình mỗi tỉnh có 400-500 cửa hàng được rải đều ở các xã, phường trên cả
nước. Tuy đây là mặt hàng hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện, nhưng,
theo thống kê của Cục Bảo vệ thực vật, hiện mới chỉ có 80% cá nhân buôn bán
thuốc BVTV được cấp chứng chỉ hành nghề, 20% hoạt động buôn bán thuốc BVTV

- Rút ngắn thời gian sinh trưởng, ra hoa sớm, quả chín sớm.
- Tăng sức chống chịu với điều kiện bất thuận như chống rét, chống hạn,
chống lốp đổ, tăng khả năng hút chất dinh dưỡng, chống sâu bệnh.
- Một số thuốc BVTV có tác dụng kích thích giúp cây trồng phát triển tốt,
khỏe mạnh hơn (2,4-D dùng xịt cỏ còn giúp lúa đẻ nhánh mạnh hơn).
- Tăng phẩm chất nông sản.
GVHD: Ts. Lê Quốc Tuấn Trang 24
Thuốc bảo vệ thực vật và tính chất hai mặt
- Tăng khả năng hoạt động của vi sinh vật và cải tạo đất tốt.
- Đẩy lùi tác hại của sâu, bệnh, cỏ dại và các sinh vật gây hại khác đối với
cây trồng và nông sản một cách nhanh chóng.
- Đảm bảo cho các giống tốt phát huy được các đặc tính ưu việt, giúp cây
trồng tận dụng được điều kiện thuận lợi của các biện pháp thâm canh.
- Dễ dàng cho công việc cơ giới hóa ngành nông nghiệp (thuốc làm rụng
bông, khô thân khoai tây, được sử dụng trước khi thu hoạch bằng cơ
giới.)
Hình 4.1. Thuốc BVTV giúp tăng năng suất cây trồng
4.1.2. Đối với hệ sinh vật đất
Các thuốc BVTV tác động rất khác nhau đến hoạt động của vi sinh vật.
Các thuốc trừ sâu ở liều lượng thông dụng ít hay không ảnh hưởng xấu đến
hệ vi sinh vật đất. Ngược lại trong một số trường hợp còn kích thích cho vi sinh vật
đất phát triển nhiều hơn. Chỉ ở liều cao chúng mới ảnh hưởng đến hoạt động của vi
sinh vật. Còn một số trường hợp một lượng thấp thuốc trừ sâu cũng hạn chế được sự
phá hoại của vi sinh vật gây bệnh.
Nhìn chung các thuốc trừ cỏ không gây hại đến vi sinh vật đất, nếu có chỉ ức
chế tạm thời sự hoạt động của vi sinh vật, sau đó lại phát triển mạnh hơn trước.
4.1.3. Đối với kinh tế và xã hội
Nông nghiệp là thế mạnh, là ngành sản xuất quan trọng của cả nước, chiếm
tỷ trọng cao trong cơ cấu kinh tế, góp phần đảm bảo an ninh lương thực cho quốc
gia. Nếu không có thuốc bảo vệ thực vật , nhiều dịch hại cây trồng có thể làm giảm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status