Lớp DHSH 3 Nhóm 3-DHSH3
Báo cáo "Thuốc bảo vệ thực vật và các tác động
của nó đối với môi trường và ngành nông
nghiệp"
GVHD: PGS T.S Trịnh Xuân Ngọ
1
Lớp DHSH 3 Nhóm 3-DHSH3
Trang
Phần một: Mở đầu 2
Phần hai: Nội dung 5
1.Cơ sở lý luận 5
1.1. Ảnh hưởng của sâu bệnh đối với cây trồng 5
1.2. Đặc điểm cây rau màu và sâu bệnh hại rau mà 5
1.2.1. Đặc điểm chung của rau
màu 5
1.2.2. Sâu hại rau màu 6
2. Nội dung 8
2.1. Các phương pháp phòng trừ sâu hại 9
2.1.1. Phương pháp cơ giới, vật
lý 9
2.1.2. Phương pháp hóa học 10
2.1.3. Phương pháp canh tác 11
2.1.4. Phương pháp sinh học 13
2.1.4.1. Sử dụng giống kháng sâu hại 13
2.1.4.2. Sử dụng thiên địch và các hợp chất sinh học 14
2.1.4.3. Sử dụng thuốc trừ sâu sinh học 15
2.1.4.3.1. Kết quả 15
2.1.4.3.2. Ưu điểm 16
2.1.4.3.3. Nhược
điểm 16
em xin thực hiện đề tài về vấn đề thuốc bảo vệ thực vật và các tác động của nó đối
với môi trường và ngành nông nghiệp như thế nào, và các biện pháp khắc phục
trong việc sữ dụng thuốc bảo vệ thực vật hiện nay ở Việt Nam
1.2 Mục đích, yêu cầu:
1.2.1. Mục đích:
Việc thực hiện bài tiểu luận này không những giúp cho sinh viên trang bị cho mình
nhựng kiến thức cần thiết cho việc học tập và nghiên cứu của mình mà còn giúp cho
sinh viên làm quen với phương pháp học tập và nghiên cứu theo nhóm, tập hợp
được sức mạnh của toàn nhóm, tập cho các bạn có được tinh thần học hỏi, suy luận
GVHD: PGS T.S Trịnh Xuân Ngọ
4
Lớp DHSH 3 Nhóm 3-DHSH3
khoa học, có thể mở ra những hướng suy luận hợp logic và đi sâu vào thực tiễn của
cuộc sống
1.2.2. Yêu cầu:
Bài tiểu luận tiến hành nhằm tìm hiểu về vấn đề thuốc bảo vệ thực vật và các tác
động của nó đối với môi trường và ngành nông nghiệp như thế nào, và các biện
pháp khắc phục trong việc sữ dụng thuốc bảo vệ thực vật hiện nay ở Việt Nam và
cụ thể là vùng Đồng Bằng sông Cửu Long, bên cạnh đó còn trang bị cho sinh viên
phương pháp luận và tư duy khoa học. Vận dụng những kiến thức khoa học để lý
giải, phân tích các vấn đề khoa học tự nhiên
1.3 Đối tượng nghiên cứu:
Bài tiểu luận về vấn đề thuốc bảo vệ thực vật và các vấn đề đối với môi trường,
các loại sâu hại, các loại thuốc phòng trừ và những tác động của nó đối với môi
trường
1.4 Phương pháp nghiên cứu:
Với đề tài này thì việc tiến hành đuợc dựa trên nhiều phương pháp như:
• Phương pháp trừu tượng hóa khoa học vì đây là phương pháp cơ bản để có
thể suy luận các vấn đề một cách khoa học
• Phương pháp thống kê nhằm thống kê sơ lược các số liệu về cấu trúc, đặc
Rau màu là các loại cây trồng phổ biến, đa dạng, phong phú về chủng loại cung cấp
cho thị trường nhiều loại rau, củ, quả và các nguyên liệu cho công nghiệp chế biến
thực phẩm.
1.2.1. Đặc điểm chung của rau màu
Cây rau màu canh tác ở cả 2 điều kiện ngoài tự nhiên và trong điều kiện có bảo vệ.
Trong điều kiện có bảo vệ như nhà lưới, nhà kính cây rau phát triển tốt, thuận lợi
cho các nước có mùa đông lạnh giá, có băng tuyết. Tuy nhiên, việc canh tác rau
màu trong điều liện nhà kính, nhà lưới thì chi phí cao, khá tốn kém, cần trình độ
thâm canh cao.
Các chủng loại rau màu rất phong phú, đa dạng về chủng loại, phương pháp canh
tác. Mỗi loại rau màu có đặc điểm sinh trưởng, phát triển và phương pháp canh tác
khác nhau.
Các cây rau màu có khả năng trồng gối, trồng xen, gieo lẫn nhau nhờ các đặc điểm
về hình thái, phân bố cành và hệ thống rễ khác nhau, có thể bổ sung cho nhau.
Rau màu có thời gian sinh trưởng ngắn, thông thường từ 2-3 tháng. Vì thế, một năm
có thể trồng nhiều vụ, cần nhiều công lao động. đòi hỏi việc chăm sóc thường
xuyên, tỉ mỉ.
GVHD: PGS T.S Trịnh Xuân Ngọ
7
Lớp DHSH 3 Nhóm 3-DHSH3
Giá trị của cây rau màu:cung cấp nguồn thực phẩm giàu chất xơ, vitamin, khoáng
chất; là nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến thực phẩm, cung cấp các loại
gia vị, các vị thuốc và là mặt hàng xuất khẩu có giá trị cao, đồng thời còn là nguồn
lương thực phụ hay nguồn thức ăn cho chăn nuôi
Phân loại rau màu: để dễ dàng phân biệt loài cũng như đặc điểm sinh trưởng, canh
tác của các loài rau khác nhau được phân loại như sau:
− Rau cho củ, rễ: cà rốt. củ cải trắng, củ dền
− Rau họ hành, tỏi: hành tây, tỏi
− Rau họ đậu: đậu đũa, đậu ván
− Rau ăn thân củ như khoai lang, khoai tây
Lớp DHSH 3 Nhóm 3-DHSH3
Nhện đỏ
Sâu đục quả đậu
Bọ xít mướp
Ruồi đục quả
Ruồi đục lá
Sâu xanh da láng
Điều kiện phát sinh, phát triển của sâu hại rau màu: có 4 yếu tố tác động
Nguồn gốc của sâu hại trên rau màu: từ 2 nguồn chính
Từ các cây trồng, tàn dư thực vật và đất là nơi chứa cá nguồn bệnh như trứng,
nhộng, sâu non
Từ các hạt giống, cây con gieo trồng nhiễm sâu, trứng, nhộng.
Điều kiện khí hậu, đất đai: nhiệt độ và độ ẩm cao thì sâu bệnh càng phát triển nhưng
trong một giói hạn nhất định từ 25-30
0
C, độ ẩm trên 85%
Giống cây trồng: các giống cây trồng tính kháng yếu, mang sẵn mầm bệnh, sâu hại
dễ dàng bị sâu hại tấn công
GVHD: PGS T.S Trịnh Xuân Ngọ
10
Lớp DHSH 3 Nhóm 3-DHSH3
Chế độ chăm sóc: bón phân, tưới tiêu không hợp lý làm cây phát triển yếu, chống
chịu kém, sâu hại dễ tấn công và phát triển.
Để sâu hại phát triển thành dịch thì tất cả các yếu tố về nguồn sâu bệnh, thức ăn và
các điều kiện tự nhiên thuận lợi nhất cho sâu phát triển và sinh sản.
2.Nội dung
2.1. Các phương pháp phòng trừ sâu hại
2.1.1. Phương pháp cơ giới, vật lý
Ceresan, Falisan rất độc cho người và gia súc và thuốc không có thủy ngân như:
Arasan, Spegon, Captan ít độc cho người và gia súc. Ngoài ra còn có dung dịch
thuốc tím, Formaldehyde,
Các phương pháp dùng hóa chất xử lý hạt giống thường sử dung:
− Ngâm hạt trong dung dịch Formaldehyde được pha loãng ở nồng độ 1/300,
giữ ướt hạt trong 1 giờ, sau đó hong khô hạt.
− Xử lý hạt bằng thuốc tím 1% trong 10 phút, sau đó rửa hạt và hong khô hạt
− Xử lý khô bằng Thiram hay Captan từ 3- 5g thuốc cho 1kg hạt.
Tùy thuộc vào loại cây trồng, loại sâu hại và mức độ gây hại mà ta sử dụng các loại
thuốc trừ sâu khác nhau. Đa số những thuốc trừ sâu sử dụng là những chất hữu cơ
tổng hợp như: thuốc trừ sâu lân hữu cơ, thuốc trừ sâu Pyrethroid (Cúc trừ sâu tổng
hợp), thuốc điều hoà sinh trưởng côn trùng, (như Atabron, Nomolt…), thuốc trừ sâu
Cacbamat, và các hợp chất hữu cơ khác (Padan, Trebon, Confidor, Regent,…). Các
thuốc trừ sâu tiêu diệt sâu hại bằng cách: tác động vào hệ thần kinh, hệ hô hấp, hệ
tiêu hóa hay ngăn cản sự lột da của sâu non, ấu trùng.
Khi sử dụng thuốc hóa học trừ sâu cần phải thực hiện đúng quy tắc 4 đúng sau:
đúng thuốc. đúng nồng độ và liều lượng, đúng lúc và đúng cách.
Việc sử dụng thuốc trừ sâu có nhiều ưu điểm là tiêu diệt dịch hại nhanh chóng và
triệt để, hiệu quả thể hiện rõ ràng; có thể phun rải trên diện rộng, nhất là đối với các
dụng cụ phun hiện đại như máy phun động cơ, bình phun áp lực Tuy nhiên, việc sử
dụng thuốc trừ sâu hóa học cũng đem lại nhiều nhược điểm khó lường và chưa được
kiểm soát chặt chẽ ở các vùng trồng rau:
GVHD: PGS T.S Trịnh Xuân Ngọ
12
Lớp DHSH 3 Nhóm 3-DHSH3
-Dễ gây độc hại đối với người sử dụng thuốc, gia súc và làm ô nhiễm môi trường.
- Để lại dư lượng trong nông sản, gây ngộ độc cho người tiêu dùng.
- Giết hại nhiều thiên địch, gây mất cân bằng hệ sinh thái. Có thể làm phát sinh
những đối tượng dịch hại quan trọng mới (dùng thuốc trừ sâu nhiều làm nhện đỏ
phát triển mạnh).
• Xen canh cây trồng
Xen canh là trồng đồng thời nhiều loại cây trên cùng một diện tích đất trong một vụ.
Trồng xen canh sẽ hạn chế được các loại sâu gây hại chuyên tính chỉ ăn một loại
thức ăn, đồng thời tận dụng lợi thế của tự nhiên: ánh sáng, nhiệt độ, phân bón, đất,
dinh dưỡng như trồng xen với cây họ đậu. Ngoài ra, còn làm phong phú khu hệ vi
sinh vật có lợi, các thiên địch tốt. Các mô hình xen canh có hiệu quả như: ngô- đậu,
bông-mía
Ngoài ra, để cây trồng phát triển tốt, cho năng suất cao nhất và tránh được sự tấn
công của sâu hại, bảo vệ và phát triển khu hệ sinh vật có lợi như các vi sinh vật, các
thiên địch ta co thể phối hợp nhiều kỹ thuật canh tác như:
.Gieo trồng đúng thời vụ: phù hợp với mỗi loài cây trồng, lúa gieo trồng đúng vụ sẽ
tránh rầy nâu hại, rau vụ đông xuân trồng muộn thường bị sâu hại nhiều hơn
Mật độ gieo trồng thích hợp: tùy theo giống, thời vụ, các điều kiện khác, nếu lúa
gieo trồng với mật độ dày dễ bị rầy nâu hại, các loài sâu khác
Bón phân, tưới nước đủ, hợp lý: giúp cây trồng phát triển tốt, có tính chống chịu
cao, loại bỏ các yếu tố thuận lợi cho sâu hại phát triển.
Sử dụng giống ngắn ngày: quay vòng nhanh, nâng cao sản lượng, tránh vòng đời
gây hại của sâu như sâu non, sâu trưởng thành, sâu chỉ gây hại lớn khi có đủ số
lượng.
GVHD: PGS T.S Trịnh Xuân Ngọ
14
Lớp DHSH 3 Nhóm 3-DHSH3
Trồng cây bẫy: các loài cây thu hút sâu hại để tiêu diệt. Cây bẫy có thể là cây khác
trồng xen canh hoặc chính cây trồng đó nhưng chín sớm hơn hay trồng sớm hơn ở
một diện tích nhỏ. Như trường hợp cây hướng dương trồng dọc ruộng lạc thu hút
các loài sâu xám, sâu khoang…
Vệ sinh đồng ruộng : thu dọn tàn dư thực vật, rơm rạ, cỏ dại làm mất nơi cư trú của
nhiều sâu hại, côn trùng hại, trứng và sâu non.
Do chỉ có tác dụng phòng trừ và các yếu tố thời tiết, ngoại cảnh luôn thay đổi nên
các biện pháp này cần thực hiện ở trên diện rộng, đồng bộ và có sự tư vấn, hướng
sâu non gây hại của chúng trên đồng ruộng khi con đực vừa mới vũ hóa xuất hiện
đều được hấp dẫn vào bẫy pheromone và chết ở đó. Bởi vì pheromone có những ưu
điểm nổi bật là:
- Hoàn toàn không độc hại tới cây trồng, sản phẩm, con người, môi trường và các
thiên địch có ích.
- Có chuyên tính chọn lọc rất cao, có hiệu lực hấp dẫn rất cao, thời gian bảo tồn
hiệu lực kéo dài.
- Liều lượng sử dụng cực nhỏ (1 microlit/1 mồi bẫy) nhưng diện tích có hiệu lực
hấp dẫn con đực khá rộng (khoảng 100 m
2
).
- Không làm cho sâu phát triển tính kháng thuốc, và người nông dân dễ áp dụng, dễ
theo dõi được sâu hại phát sinh trên ruộng vì sau khi đặt mồi bẫy một ngày đêm thì
trưởng thành sâu hại đã vào bẫy và bị chết.
- Hạn chế việc sử dụng các thuốc trừ sâu, giảm chi phí, hiệu quả cao
Các bẫy pheromone được sử dụng là các bẫy làm từ chai lọ hay các sản phẩm có
sẵn trên thị trường. Việc sử dụng các bẫy pheromone cần tiến hành sớm ngay khi
gieo trồng. Việc sử dụng bẫy chỉ hạn chế một phần bướm, con trùng có cánh hại,
GVHD: PGS T.S Trịnh Xuân Ngọ
16
Lớp DHSH 3 Nhóm 3-DHSH3
đồng thời có thể dự báo mức độ sâu hại, giai đoạn phát triển của sâu cung cấp thông
tin giúp người trồng có biện pháp thích hợp.
Ngoài sử dụng các bẫy sinh học chứa các chất dẫn dụ giới tính thì nông dân còn sử
dụng thiên địch. Một biện pháp đã có từ lâu và nay đang được phát triển rộng rãi.
Thiên địch là các loài sinh vật không gây hại cho cây trồng mà còn có tác dụng
chống lại các loài gây hại cây trồng.
Có nhiều loại thiên địch chống sâu hại rau như: các loài ăn mồi như nhện, bọ rùa,
chuồn chuồn cỏ, bọ xít ; các loài ong ký sinh như ong cự, ong mắt nhỏ ; các loài vi
sinh vật gây bệnh như vi khuẩn NVP, nấm kí sinh, vi khuẩn Bt…
virus trừ sâu tơ, sâu khoang hại rau, virus trừ sâu keo da láng, virus trừ sâu xanh hại
đay và virus trừ sâu róm hại thông rừng
2.1.4.3.2. Về ưu điểm:
Thuốc trừ sâu sinh học không gây độc hại cho người và gia súc, không nhiễm bẩn
môi trường, ít thấy khả năng kháng thuốc của sâu hại; không ảnh hưởng đến chất
lượng, phẩm chất nông sản, đất trồng và không khí trong môi trường (do không để
lại dư lượng); không làm hại thiên địch và những vi sinh vật có lợi với con người;
nếu sử dụng hợp lý, đúng phương pháp, đúng kỹ thuật trong điều kiện nhiệt độ, độ
ẩm thích hợp thì sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao. Hiệu quả sử dụng thường kéo dài
vì chúng không chỉ tiêu diệt trực tiếp lứa sâu đang phá hoại mà chúng còn có thể lan
truyền cho thế hệ tiếp theo.
2.1.4.3.3. Nhược điểm:
Tuy có nhiều ưu điểm nhưng thuốc trừ sâu bằng sinh học cũng có một số
những nhược điểm như:
- tác động chậm hơn thuốc hóa học
- phổ tác dụng hẹp
- một vài loại thuốc bị ảnh hưởng bởi yếu tố thời tiết nên hạn chế đến kết quả.
- Công nghệ SX phức tạp, thủ công nên giá thành thường cao hơn thuốc trừ
sâu hóa học nhập nội nên nông dân ít sử dụng.
GVHD: PGS T.S Trịnh Xuân Ngọ
18
Lớp DHSH 3 Nhóm 3-DHSH3
2.1.4.3.4. sản phẩm thuốc trừ sâu sinh học
trên thị trường
Catex 1.8, 3.6EC) và Dylan 2EC
Năm 2006 công ty Cổ phần Nicotex đã
cho ra đời dòng sản phẩm sinh học với 2 loại
thuốc Catex 1.8, 3.6EC (hoạt chất Abamectin) và
Dylan 2EC (hoạt chất Emamectin benzoate).
Có khả năng trừ sâu tơ, sâu xanh trên các
cách tơ, bọ xít muỗi, nhện đỏ hại chè, bông vải, thuốc lá, sâu vẽ bùa, rầy chổng
cánh, rệp, nhện đỏ hại cam quýt, xoài, nho, nhện lông nhung hại vải Tuy độ độc
của hoạt chất Emamectin khá cao (LD50 qua miệng khoảng 200mg/kg thể trọng,
thuộc nhóm độc II) nhưng vì hiệu lực diệt sâu rất mạnh nên hàm lượng hoạt chất và
lượng hoạt chất sử dụng trong thuốc Đầu Trâu BI-SAD 0,5ME rất thấp, vì vậy
thuốc rất ít độc hại với người và môi trường. Do tác dụng diệt sâu nhanh và mau
phân hủy nên thuốc không để lại dư lượng trên nông sản, rất thích hợp trong việc
sản xuất nông sản sạch, đáp ứng yêu cầu của thị trường tiêu thụ nông sản hiện nay ở
trong nước cũng như xuất khẩu. Cũng do khả năng thấm sâu nên thuốc rất ít hại các
loài thiên địch.
Xentari 35 WDG
Xentari 35 WDG (Bacillus thuringiensis
var.aizawai): là một sản phẩm của Công ty Valent
BioSciences-Hoa Kỳ đã được Nhà nước cho phép
sử dụng trên rau.
Xentari: là một loại thuốc trừ sâu vị độc,
chứa các tinh thể protein độc và các bào tử sống.
Khi sâu ăn phá cây trồng, Xentari cùng thức ăn đi
vào ruột. Các tinh thể protein độc sẽ tác động lên thành ruột làm tê liệt hoạt động
của bộ máy tiêu hóa, tiếp theo sẽ phá vỡ thành ruột, mở đường cho các bào tử xâm
nhập vào máu của sâu hại, gây nhiễm trùng máu và sâu sẽ chết trong vòng 1-3 ngày
7 chế phẩm thuốc trừ sâu sinh học đa năng (đã được đăng ký vào danh mục
thuốc BVTV được phép sử dụng ở Việt Nam) gồm:
- Hai chế phẩm NPV (Nuclear polyhedrosis Virus) trừ sâu hại rau màu và cây công
nghiệp là sản phẩm của Viện BVTV với các tên thương mại: ViS và ViHa.
GVHD: PGS T.S Trịnh Xuân Ngọ
20
Lớp DHSH 3 Nhóm 3-DHSH3
- Hai chế phẩm Bt (Bacillus thuringiensis
Kurstak) trừ sâu hại rau là sản phẩm của
phun, không cần biết phạm vi tác dụng của chúng ra sao. Có người hay phun quá
liều chỉ dẫn để cho "chắc ăn", làm tăng lượng thuốc thừa tích đọng trong đất và
nước.
Các loại thuốc trừ sâu thường có tính năng rộng, nghĩa là có thể diệt được nhiều loại
côn trùng. Khi dùng thuốc diệt sâu hại một số côn trùng có ích cũng bị diệt luôn,
đồng thời ảnh hưởng tới các loại chim ăn sâu, vì chim ăn phải sâu đã trúng độc. Nói
cách khác, sau khi phun thuốc trừ sâu, số lượng thiên địch của nhiều loại sâu cũng
giảm. Ðiều đó có lợi cho sự phát triển của sâu hại.
Các loại thuốc trừ sâu đều có tính độc cao. Trong quá trình dùng thuốc, một
lượng thuốc nào đó có thể đi vào trong thân cây, quả, hoặc dính bám chặt trên lá,
quả. Người và động vật ăn phải các loại nông sản này có thể bị ngộ độc tức thời đến
chết, hoặc nhiễm độc nhẹ, từ từ gây
ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức
khoẻ. Do trình độ hạn chế, một số
nông dân không tuân thủ đầy đủ các
quy định về sử dụng, bảo quản
thuốc trừ sâu, có người cất thuốc
vào chạn, vào tủ quần áo, nên đã
gây nên những trường hợp ngộ độc,
thậm chí chết thảm thương do ăn
nhầm phải thuốc.
Do các loại thuốc BVTV thường là các chất hoá học có độc tính cao nên mặt trái
của thuốc BVTV là rất độc hại với sức khoẻ cộng đồng và là một đối tượng có nguy
cơ cao gây ô nhiễm môi trường sinh thái nếu không được quản lý chặt chẽ và sử
dụng đúng cách. Dư lượng thuốc BVTV quá giới hạn cho phép trong nông sản, thực
phẩm là mối đe dọa đối với sức khoẻ con người.
2.3.2. Tác hại đối với môi trường
GVHD: PGS T.S Trịnh Xuân Ngọ
22
Lớp DHSH 3 Nhóm 3-DHSH3
23
Lớp DHSH 3 Nhóm 3-DHSH3
năm 1991 đến nay lượng thuốc sử dụng biến động từ 25- 38 ngàn tấn. Đặc biệt năm
2006 lượng thuốc BVTV nhập khẩu là 71.345 tấn. Cơ cấu thuốc BVTV sử dụng
cũng có biến động: thuốc trừ sâu giảm trong khi thuốc trừ cỏ, trừ bệnh gia tăng cả
về số lượng lẫn chủng loại.
Ngoài ra, việc không tuân thủ thời gian cách ly sau khi phun thuốc, tình trạng vứt
bao bì thuốc BVTV bừa bãi sau sử dụng khá phổ biến. Thói quen rửa bình bơm và
dụng cụ pha chế thuốc BVTV không đúng nơi quy định gây ô nhiễm nguồn nước,
gây ngộ độc cho động vật thuỷ sinh cũng cần được cảnh báo và khắc phục ngay
Hiện tượng nhập lậu các loại thuốc BVTV (bao gồm cả thuốc cấm, thuốc ngoài
danh mục, thuốc hạn chế sử dụng) đang là vấn đề chưa thể kiểm soát nổi. Hàng năm
vẫn có một khối lượng lớn thuốc BVTV nhập lậu vào nước ta. Tình trạng các thuốc
BVTV tồn đọng không sử dụng, nhập lậu bị thu giữ đang ngày càng tăng lên về số
lượng và chủng loại. Điều đáng lo ngại là hầu hết các loại thuốc BVTV tồn đọng
này được lưu giữ trong các kho chứa tồi tàn hoặc bị chôn vùi dưới đất không đúng
kỹ thuật nên nguy cơ thẩm lậu và dò rỉ vào môi trường là rất đáng báo động. Cùng
với thuốc BVTV tồn đọng, các loại thuốc và bao bì, đồ dựng thuốc BVTV đang là
nguy cơ đe dọa sức khoẻ cộng đồng và gây ô nhiễm môi trường nếu không áp dụng
ngay các biện pháp giải quyết khẩn cấp.
2.3.2.2. Biện pháp khắc phục tình trạng trên
Sử dụng thuốc BVTV để bảo vệ một nền sản xuất nông nghiệp bền vững phải đi đôi
với việc bảo vệ sức khoẻ cộng đồng và môi trường. Vì vậy, nhiệm vụ phòng chống
ô nhiễm và suy thoái môi trường do sản xuất, kinh doanh và sử dụng thuốc BVTV
phải được coi là mục tiêu của ngành BVTV. Muốn đạt được mục tiêu đó nên chăng
cần có một số giải pháp sau đây:
Về pháp lý:
- Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra xử lý vi phạm trong lĩnh vực bảo
vệ thực vật. Phối hợp các lực lượng liên ngành trong kiểm tra, kiểm soát việc nhập
lậu thuốc BVTV.