Môi trường văn hoá và tác động của nó đối với hoạt động - Pdf 18

Mục Lục
Lời nói đầu
Chơng I: Môi trờng văn hoá và tác động của nó đối với hoạt động
kinh doanh quốc tế
I. Khái quát về môi trờng kinh doanh quốc tế và sự cần thiết phải nghiên cứu
1. Khái quát về môi trờng kinh doanh quốc tế
2. Sự cần thiết phải nghiên cứu môi trờng kinh doanh
II. Khái quát môi trờng văn hoá
1. Khái niệm
2. Những đặc tính văn hoá cần nghiên cứu
3. Mục đích nghiên cứu môi trờng văn hoá
III. Tác động của môi trờng văn hoá đối với hoạt động kinh doanh quốc tế
Chơng II: Môi trờng văn hoá Mỹ
I. Sơ lợc về lịch sử và nguồn gốc con ngời nớc Mỹ
II. Nền văn hoá Mỹ
1. Ngôn ngữ và bản săc dân tộc
2. Tôn giáo
3. Tính cách, lối sống và suy nghĩ của con ngời Mỹ
4. Quan niệm về kinh tế - xã hội của con ngời Mỹ
Chơng III: Đôi điều cần lu ý khi tiếp cận với các doanh nhân Mỹ
I. Tập quán, thị hiếu tiêu dùng, phơng thức giao dịch kinh doanh của các
doanh nhân Mỹ
II. Đạo đức và văn hoá doanh nhân Mỹ
1. Quan niệm về đạo đức trong kinh doanh
2. Văn hoá doanh nghiệp Mỹ qua suy nghĩ của doanh nhân Mỹ
III. Quan hệ giao tiếp và đàm phán trong kinh doanh
1. Vấn đề giao tiếp và đối thoại
2. Danh thiếp và sự tôn trọng cấp bậc trong kinh doanh
3. Thoả thuận, mặc cả và đàm phán
4. Làm việc với phụ nữ
5. Kinh doanh ở cộng đồng ngời thiểu số

Chơng I
Môi trờng văn hoá và tác động của nó đối
với hoạt động kinh doanh quốc tế
I. Khái quát về môi trờng kinh doanh quốc tế và sự cần thiết
phải nghiên cứu
1. Khái quát về môi trờng kinh doanh quốc tế
Do khác nhau về điều kiện địa lý, trình độ phát triển kinh tế, văn hoá, trình độ
nhận thức, tập quán... nên mỗi quốc gia tồn tại môi trờng kinh doanh không giống
nhau. Môi trờng kinh doanh là sự tổng hợp và tơng tác lẫn nhau giữa các yếu tố gây
ảnh hởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nó ảnh
hởng không chỉ đối với các hoạt động và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp nớc
ngoài đang hoạt động tại nớc sở tại, mà còn ảnh hởng đến cả kết quả hoạt động của các
doanh nghiệp kinh doanh nội địa. Vì vậy, để có thể tiến hành kinh doanh có hiệu quả,
các doanh nghiệp kinh doanh quốc tế phải có sự am hiểu nhất định về môi trờng kinh
doanh nớc ngoài.
Môi trờng kinh doanh quốc tế là tổng thể các môi trờng thành phần, nh môi trờng
luật pháp, chính trị, kinh tế, văn hoá, cạnh tranh, tài chính... Nó là toàn bộ các điều
kiện bên trong và bên ngoài nớc có ảnh hởng trực tiếp đến các hoạt động của doanh
nghiệp, chi phối bình quân hoạt động tức là sự thành công hoặc thất bại đối với hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp ở nớc ngoài. Chúng ta tác động và chi phối mạnh
mẽ đối với các hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, buộc các doanh nghiệp
phải tự điều chỉnh các mục đích, hình thức và chức năng hoạt động của mình cho thích
ứng, nhằm nắm bắt kịp thời các cơ hội kinh doanh và đạt hiệu quả cao trong kinh
doanh. Trong những điều kiện mở cửa xu hớng quốc tế hoá, toàn cầu hoá và khu vực
hoá nền kinh tế thế giới và nền kinh tế mỗi quốc gia, hoạt động kinh doanh quốc tế
ngày càng đợc mở rộng và phát triển. Thích ứng với xu hớng này, các doanh nghiệp
đang từng bớc tăng dần khả nănghoà nhập, thích ứng của mình với điều kiện mới của
môi trờng kinh doanh trong nớc và ngoài nớc nhằm tăng cơ hội, giảm thách thức, hạn
chế rủi ro và gia tăng lợi nhuận.
2. Sự cần thiết phải nghiên cứu môi trờng kinh doanh

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, em chỉ xin trình bày về môi trờng văn
hoá.
1. Khái niệm
Theo định nghĩa văn hoá của UNESCO, trong ý nghĩa rộng nhất, văn hoá ngày
nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm
quyết định tính cách của một xã hội hoặc một nhóm ngời trong xã hội. Văn hoá bao
gồm nghệ thuật và văn chơng, những lối sống, những quyền cơ bản của con ngời,
những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngỡng.
Văn hoá là những giá trị có thể học hỏi, chia sẻ và liên hệ mật thiết với nhau, nó
cung cấp những định hớng cho các thành viên trong xã hội. Những định hớng này cung
cấp những giải pháp cho những vấn đề mà xã hội cần giải quyết.
Văn hoá đợc hiểu nh một tổng thể phức tạp, bao gồm ngôn ngữ, niềm tin, nghệ
thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và tất cả khả năng khác mà con ngời có đợc. Văn
hoá quy định hành vi của mỗi con ngời, thông qua mối quan hệ giữa ngời với ngời
trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Do có sự khác nhau về nền văn hoá đang tồn tại giữa các quốc gia, cho nên các
nhà kinh doanh phải sớm có những quyết định có hay không tham gia kinh doanh ở
môi trờng đó. Điều này trong một chừng mực nhất định tuỳ thuộc vào sự chấp nhận của
doanh nghiệp đối với môi trờng văn hoá nớc ngoài. Sự khác nhau về văn hoá dẫn đến
sự khác nhau trong mô hình quản lý của các doanh nghiệp.
2. Những đặc tính văn hoá cần nghiên cứu
Để tăng khả năng thành công của hoạt động kinh doanh quốc tế, các nhà kinh
doanh quốc tế cần phải am hiểu về môi trờng văn hoá mà mình hoạt động. Việc thuê
mớn nhân công, buôn bán của doanh nghiệp đều đợc điều chỉnh và sở hữu của con ng-
ời. Con ngời chính là chủ thể trong quan hệ kinh tế đó mà con ngời lại bị tác động
bởi cái văn hoá trong môi trờng họ sinh sống. Vì vậy, doanh nghiệp phải cân nhắc, dự
đoán, am hiểu về văn hoá của nớc sở tại, văn hoá của từng khu vực trên thế giới. Có nh
vậy, hiệu quả của hoạt động kinh doanh đó mới có khả quan.
Tuy nhiên, một số vấn đề mà nhà kinh doanh quốc tế nên u tiên nghiên cứu, đó là
ngôn ngữ, lối sống, thông tin, tín hiệu, tín ngỡng, phong tục, tập quán, lễ hội... Các

thiết cho bất kỳ thơng gia nào muốn giao dịch, buôn bán với các đối tác nớc ngoài. Nó
không những tạo ra lợi nhuận, mà còn đem lại sự đam mê thực sự cho cả hai phía.
d. Thị hiếu, tập quán của ngời tiêu dùng
Thị hiếu, tập quán của ngời tiêu dùng có ảnh hởng rất lớn đến nhu cầu vì hàng
hoá dù có chất lợng tốt nhng nếu không đợc ngời tiêu dùng a chuộng thì cũng khó đợc
họ chấp nhận. Ví nh nếu nhà kinh doanh nào đó mang các sản phẩm chế biế từ thịt lợn
đến tiêu thụ ở irắc, Xiri... hoặc đem thịt bò đến bán ở ấn Độ thì đó là một điều nguy
hiểm, vì những sản phẩm đó theo tập quán, tôn giáo thì các quốc gia này không tiêu
dùng. Nếu nắm bắt đợc thị hiếu, tập quán của ngời tiêu dùng, doanh nghiệp kinh doanh
có điều kiện mở rộng khối lợng cầu một cách nhanh chóng. Chính thị hiếu và tập quán
của ngời tiêu dùng mang đặc điểm riêng của từng vùng, từng châu lục, từng dân tộc và
chịu ảnh hởng của các yếu tố văn hoá, lịch sử, tôn giáo.
3. Mục đích nghiên cứu môi trờng văn hoá
Kinh doanh ở nớc ngoài, các doanh nghiệp phải cố gắng thích nghi với môi trờng
văn hoá của các nớc sở tại nhằm nâng cao dần vị thế của mình trên thơng trờng quốc
tế. Chỉ trên cơ sở đó họ mới có thể mở rộng và nâng cao sự hiểu biết của mình về văn
hoá tơng ứng với việc mở rộng hoạt động kinh doanh ở nớc ngoài. Nh vậy, tuỳ thuộc
vào nhu cầu và trình độ hiểu biết về văn hoá mà công ty sẽ có hoạt động thích ứng và
hiệu quả. Nếu nhu cầu và trình độ hiểu biết văn hoá đối với nớc sở tại còn ở mức thấp
thì công ty chỉ nên kinh doanh với một công ty nớc ngoài và một nớc mà chức năng
hoạt đọng của công ty đó còn hạn chế. Ngợc lại, nếu nhu cầu và trình độ am hiểu nền
văn hoá nớc sở tại ở mức cao, thì khi đó công ty có thể tiến hành kinh doanh với nhiều
nớc, nhiều công ty khác nhau và công ty có điều kiện thuận lợi trong việc mở rộng các
chức năng và biện pháp hoạt động của mình.
Vì thế, nghiên cứu môi trờng văn hoá mà mình hoạt động nhằm giúp các doanh
nghiệp cá nhân và tổ chức kinh doanh có hiệu quả, phòng tránh rủi ro và tối đa hoá
mong muốn của mình.
II. Tác động của môi trờng văn hoá đối với hoạt động kinh
doanh quốc tế.
Mỗi nớc đều có những tập tục, quy tắc, kiêng kỵ riêng. Chúng đợc hình thành

Sau khi giành đợc độc lập, số dân Mỹ tăng nhanh chóng. Từ năm 1790 đến năm
1835, số dân tăng lên chủ yếu là do sự nhân giống của ngời Mỹ chính gốc. Nhng từ
năm 1830 đến năm 1860, thì chủ yếu là do ngời di c từ Bắc Âu sang.
Cũng trong thời gian này, lãnh thổ nớc Mỹ đợc mở rộng ra rất nhiều. Đến năm
1860, công việc định c đã vợt khỏi sông Mítsisipi sang Minêsôta, Kandát, Mítsuri,
áckansa, và miền đông Tếchdát. Việc di c đến Ôrigơn để tìm các vùng đất tự do và tới
Caliphoócnia để tìm vàng đã là nhân tố thúc đẩy hai bang này gia nhập liên bang.
Vào khoảng năm 1860, những đặc điểm của xã hội Mỹ đã trở nên rõ ràng hơn.
Trong hơn 80 năm từ khi giành đợc độc lập, tốc độ tăng dân số kể cả ngời chính gốc
và ngời mới di c tới sánh kịp với tốc độ mở rộng lãnh thổ. Cũng nh ở thời kỳ thuộc
địa, sự tăng trởng của ngời da đen và ngời di c từ Bắc Âu sang đã làm cho da màu của
ngời Mỹ thay đổi dần. Tính cách của ngời Mỹ về cơ bản vẫn nh ở thời kỳ thuộc địa:
cần cù, chăm chỉ, độc lập, táo bạo, dân tộc chủ nghĩa... Tuy nhiên, cho đến năm 1860,
dân tộc Mỹ vẫn bị chia rẽ. Chỉ sau khi nội chiến kết thúc thì quyền thống trị của nhà n-
ớc liên bang đối với các bang mới đợc thiết lập, và chế độ nô lệ ngời da đen mới đợc
bãi bỏ.
Từ năm 1860 đến nay, số dân nớc Mỹ có những thay đổi đáng kể. Cùng với tốc độ
tăng của số dân khá nhanh, một xu thế rất quan trọng là cộng đồng ngời di c trong tổng
số dân nớc Mỹ lớn dần lên và gốc ngời nhập c đến Mỹ cũng thay đổi. Những ngời di c
từ các nớc Bắc và Tây Âu giảm, từ Đông và Nam Âu tăng lên. Đồng thời, luồng di c từ
châu á đến Mỹ cũng tăng lên, bắt đầu là ngời Trung Quốc, sau đến ngời Nhật... Chính
những thayđổi này đã có tác động lớn đến sự hình thành về sau này, một dân tộc Mỹ
tuy phức tạp, không đồng nhất nhng sáng tạo và năng động.
ii. Nền văn hoá Mỹ
Nền văn hoá của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ thật đa dạng, phong phú, cũng giống
nh một cây xanh cao to, gồm nhiều cành, nhánh và dĩ nhiên là chúng mọc xúm xít
chung quanh thân hình chính, làm nên diện mạo đầy đủ cho vây xanh đó.
Ngời ta thờng coi văn hoá Mỹ bắt đầu từ năm 1607 khi mà sự nhập c của ngời
Anh đã tơng đối ổn định. Rồi muộn hơn năm 1668, Wiliam Stoughton một học giả
gốc Anh đã thành công ở xứ sở Hoa Kỳ đã viết Chúa đã sàng lọc cả một dân tộc từ n-

tới. Chính sách này đa lại kết quả rõ rệt. Tỷ lệ ngời Mỹ sinh ở ngoài nớc Mỹ đã tăng
gấp đôi từ những nam 60. Gần 11% dân số có nguồn gốc Tây ban nha, 12% ngời Mỹ
gốc Phi và 3% gốc châu á. ở New York, những ngời gốc Tây ban nha đã tạo ra nhóm
thiểu số quan trọng nhất. Năm 1997, lần đầu tiên số lợng trẻ em gốc Tây ban nha vợt
quá số lợng trẻ em Mỹ gốc Phi.
Sự phát triển này sẽ tăng tốc độ trong nửa đầu thế kỷ tới. Ngay từ năm 2005,
những ngời Tây ban nha sẽ trở thành nhóm thiểu số đầu tiên của Mỹ. Năm 2050, họ sẽ
chiếm 1/4 dân số Mỹ và những ngời châu á chiếm 8% (ngời Mỹ gốc Phi chiếm
13,5%). Tỷ lệ ngời da trắng không phải gốc Tây ban nha tụt xuống còn 53%, và ở
nhiều bang họ trở thành thiểu số.
Do đó các dữ kiện bầu cử sẽ bị thay đổi sâu sắc. Các nhà có trách nhiệm về chính
sách bắt đầu quan tâm đến điều đó. Vì vậy, những ngời của đảng Cộng hoà - họ từng
xem ngời Mỹ gốc Phi, ngời Tây ban nha ở Caliphoócnia, ở Tếchdát và Florida nh kẻ
thù sẽ xem xét lại đờng lối của họ trong những năm tới.
Một chính sách tập hợp các dân tộc khác nhau lại không thể chỉ đợc khẳng định
trên nguyên tắc. Nó cũng cần phải vạch ra giải pháp cụ thể cho các vấn đề nâng cao đời
sông cho mọi ngời.
2. Tôn giáo
Mỹ là một nớc đa chủng tộc, gần nh không thiếu một màu da nào, một dân tộc
nào trên đất nớc này. Góp vào bức tranh xã hội đầy màu sắc, tôn giáo Mỹ hết sức đa
dạng, phong phú, mang một bản sắc riêng không thấy ở bất cứ quốc gia nào khác.
Các nhà nghiên cứu về xã hội Mỹ nêu lên một nhận xét rằng, khi thấy ngời Mỹ đi
ghi tên tham gia vào các đoàn thể thì có thể ớc đoán với độ chính xác khá cao là họ
đăng ký gia nhập một tổ chức tôn giáo nhiều hơn tất cả các hội tự nguyện khác gộp lại.
Khoảng 60% tổng số ngời dân Mỹ là thành viên các hiệp hội tôn giáo, đông hơn nhiều
so với các nớc Tây Âu và Canađa.
Tính đến năm 1989, có 145.384 triệu ngời Mỹ theo tôn giáo, trong đó khoảng 79
triệu ngời theo Đạo Tin lành, 55 triệu ngời theo Đạo Thiên chúa La mã, 6 triệu ngời
theo các giáo hội phơng Đông, 100.000 ngời theo Đạo Phật, v.v...
Tôn giáo có một vai trò quan trọngtrong xã hội, và đa số ngời Mỹ cho rằng nhà

Lời giải đáp chính xác và đầy đủ nhất đó chính là nền tôn giáo Mỹ với tính cách
đặc biệt của nó. Nhận xét về nền tôn giáo Mỹ ngày nay, nhà nghiên cứu văn hoá Esther
Waming đã viết trong cuốn Culture Shock (Sốc văn hoá) nh sau: Rất có thể ít nhiều do
tình cảm tôn giáo truyền lại từ khuynh hớng tôn giáo của nớc Mỹ lúc ban đầu.
Càng về giai đoạn cuối của thế kỷ XVII, khi những đợt di c ồ ạt từ khắp nơi đổ về,
nớc Mỹ thực sự trở thành nớc đa tôn giáo. Thanh giáo từ Anh, Do Thái giáo từ Đức,
Phật giáo từ ấn Độ, Trung Quốc, Hồi giáo theo chân những nô lệ châu Phi... Hơn thế,
Hoa Kỳ còn nh bà đỡ khéo tay cho sự ra đời hàng loạt tôn giáo mới nh Quaker,
Mormons... Đó là cha kể đến sự phân tách của các giáo hội thành các giáo phái mới.
Các giáo phái dến Mỹ hay đợc thành lập ở Mỹ đều chung một ý tởng coi đây là Tân
Thế Giới, một miền đất hứa, thậm chí coi nơi đây chỉ là lãnh đậo của giáo phái họ thôi.
Tất cả các ý tởng nhằm đa một tôn giáo lên thành quốc giáo hay dùng tiền của, quyền
lực áp đặt buộc ngời dân phải theo một tôn giáo nào đó đều bị loại bỏ. Nếu có một giáo
hội nào dám đi ngợc với tiêu chí, với khuynh hớng tôn giáo Mỹ đã hình thành từ buổi
ban đầu thì đều phải trả giá. Nó sẽ bị cô lập, bị phản dối hoặc bị trục xuất khỏi mảnh
đất đang sinh sống.
Theo thời gian, những tình cảm hoà đồng tôn giáo Mỹ trở nên bình thờng, mọi
cộng đồng tôn giáo vừa độc lập, vừa cùng nhau sinh sống. Những điều đó có đợc là
nhờ 3 yếu tố cơ bản là Nhà nớc, gia đình và t tởng ngời dân.
ở Mỹ, hiện tợng trong một gia đình có năm ngời mà có ba, bốn quốc tịch là
chuyện bình thờng. Nh một gia đình có ngời bố là ngời Anh theo Tân giáo, ngời mẹ là
ngời Ireland theo phái Calvin, các ngời con mỗi ngời theo một tôn giáo. Nh vậy, sự hoà
đồng trong tôn giáo chỉ có ở một đất nớc nh Mỹ khi mà quyền tự do cá nhân đợc tôn
trọng: Tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do điều trần... và không ngoại trừ tự do tín
ngỡng, không ai có thể ép buộc ai phải theo tôn giáo mình đã theo: chồng không thể ép
vợ, bố không thể ép con... nhng vợ chồng con cái vẫn cùng chung sống trong một mái
nhà. Từ những hạt nhân nh vậy mà tính hào đồng trong tôn giáo đợc kế tục và phát
triển. Ngoài ra, các phán quyết của Toà án tối cao ban hành khi xét xử các vụ án tôn
giáo đã tăng cờng tính pháp lý cho việc tự do tinh ngỡng.
Chính quyền các bang cũng trợ cấp cho các giáo hội tiền bạc hoặc đất đai trên

nhân tố xã hội bắt họ trở thành nh những ngời khác và trong trờng hợp này đã làm cho
họ có cảm giác tính tự chủ bị tổn thơng.
Nh vậy, ngời Mỹ xem mẫu ngời lý tởng phải là một ngời độc lập, tự chủ và riêng
biệt. Còn quan điểm về chủ nghĩa cá nhân - đó là phải tự đứng bằng đôi chân của
mình và tự quyết định thì có thể nói rằng, ngời Mỹ rất khác biệt. Ví dụ nhiều ngời
Mỹ xem các cá nhân là anh hùng, bởi họ nổi bật trong một đám đông do tiên phong
làm một điều gì đó, lâu và thờng xuyên, hay nói cách khác là làm những điều tốt nhất,
chẳng hạn nh các phi công lừng danh: Charles Lindberg và Amelia Earhart... Ngời Mỹ
thán phục những ai có thể vợc qua khó khăn nh nghèo khổ hay tàn tật để thành công
trong cuộc sống. Nhà giáo dục da đen Brooker T. Washington, một tác giả vừa bị mù
vừa bị điếc là một ví dụ.
Sự tôn sùng chủ nghĩa cá nhân vẫn thờng thể hiện qua việc ngời Mỹ sử dụng
các câu nh Hãy làm cái gì đó theo cách của mình, Tôi làm cái gì đó theo cách của
tôi, Hãy tự quyết định điều đó, Mình làm mình chịu, Đừng trông cậy vào sự giúp
đỡ của ngời khác và Hãy cố gắng là điều tốt nhất...
Mối liên hệ chặt chẽ vốn có tầm quan trọng lớn mà ngời Mỹ gắn liền với chủ
nghĩa cá nhân là sự riêng t. Ngời Mỹ cho rằng, con ngòi ta cần có những lúc ở một
mình hoặc để trầm tĩnh lại để nghĩ lại mọi sự hoặc hồi phục năng lợng, tâm lý đã
hao tổn. Ngời Mỹ thực sự không hiểu những ngời nớc ngoài mà thờng thích có ai đó để
bầu bạn và họ dờng nh không thích ở một mình. Thái độ của ngời Mỹ về riêng t có vẻ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status