Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thò
Hai
CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU
1.1 ĐĂT VẤN ĐỀ
Việt Nam là nước sản xuất nông nghiệp, khí hậu nhiệt đới nóng và ẩm của
Việt Nam thuận lợi cho sự phát triển của cây trồng nhưng cũng thuận lợicho sự
phát sinh, phát triển của sâu bệnh, cỏ dại gây hại mùa màn. Do vậy việc sử dụng
thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) để phòng trừ sâu hại, dòch bệnh bảo vệ mùa màng,
giữ vững an ninh lương thực quốc gia vẫn là một biện pháp quan trọng và chủ
yếu. Cùng với phân bón hóa học, thuốc BVTV là yếu tố rất quan trọng để bảo
đảm an ninh lương thực cho loài người
Ngoài mặt tích cực là tiêu diệt các sinh vật gây hại mùa màng, thuốc BVTV
còn gây nhiều hậu quả nghiêm trọng như: phá vỡ cân bằng hệ sinh thái đồng
ruộng, gây ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm môi trường sống và ảnh hưởng xấu đến
sức khỏe người tiêu dùng và cả cho người sản xuất.
Vì vậy, việc tìm hiểu mức độ sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật ở Việt Nam,
ảnh hưởng của thuốc bảo vệ thực vật đến môi trường sống nhằm bổ sung những
kiến thức đã học và nâng cao nhận thức trong việc bảo vệ môi trường sống cho
cộng đồng là rất cần thiết đối với những sinh viên ngành môi trường.
1.2 MỤC ĐÍCH ĐỀ TÀI
Tìm hiểu thực trạng của việc sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật và vấn đề ô
nhiễm các chế phẩm hóa học sử dụng trong nông nghiệp Việt Nam.
Đề xuất và biện pháp khắc phục.
1.3 NỘI DUNG KHÓA LUẬN
- Giới thiệu chung về thuốc BVTV và phân hóa học.
- nh hưởng của thuốc BVTV và phân bón hóa học.
SVTH: Lưu Nguyễn Thành Công Trang 1
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thò
Hai
vậy, lòch sử của thuốc BVTV có từ rất lâu đời (cách đây khoảng 10.000 năm).
Vào thời kỳ năm 2500 BC (trước Công nguyên), hợp chất lưu huỳnh được sử
dụng để diệt côn trùng và nhện.
Năm 1500 BC, có hợp chất để diệt bọ chét trong nhà.
Năm 1200 BC, Trung Quốc đã có thuốc xử lý hạt giống.
SVTH: Lưu Nguyễn Thành Công Trang 3
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thò
Hai
Năm 900 AD (sau Công nguyên), người ta dùng arsenic sulfides để trừ côn
trùng trong vườn.
Thế kỷ thứ IV, người ta đã biết xử lý hạt lúa bằng Arsen trắng.
Từ cuối thế kỷ XVIII đến cuối thế kỷ XIX là thời kỳ cách mạng nông nghiệp
ở châu Âu. Sản xuất nông nghiệp tập trung và năng suất cao hơn, đồng thời tình
hình dòch hại càng nhiều hơn xảy ra trong phạm vi toàn thế giới. Một số thuốc trừ
sâu, dòch hại, diệt hại phổ biến ở cuối thế kỷ XIX đến năm 1930, chủ yếu là chất
vô cơ như Arsen, Selenium, Antimony, Sulfur… hoặc một số chất thảo mộc vốn có
chất độc. Song thời bay giờ chưa ai biết được đến độc hại của nó.
Từ đầu thế kỷ XX, xuất hiện một biện pháp trừ sâu hại tích cực hơn và hiêu
quả hơn. Đó là sự ra đời củ DDT thuộc nhóm Clor hữu cơ vào năm 1939, và liên
tục sau đó ra đời nhiều các hợp chất hóa học khác. Đây là hợp chất đầu tiên trong
chuỗi thuốc trừ sâu được khám phá, nó tiêu diệt được một số lượng lớn côn trùng.
Trong suốt 25 năm sau đó, nó được xem như là vò cứu tinh của nhân loại, giúp
diệt trừ côn trùng và tăng sản lượng nông sản. Chu trình sản xuất cũng tương đối
rẻ nên nó được áp dụng phổ biến rộng rãi ở mọi nơi trên thế giới.
- Năm 1940, người ta tổng hợp nên các hợp chất có hốc lân hữu cơ.
- Năm 1947, người ta tổng hợp nên hóa chát Carbamate.
- Năm 1970 phát triện được các loại thuốc Pyrethroide.
Hiện nay, thuốc trừ sâu tồn tại 3 thế hệ, tính độc hại của thế hệ sau thường
thấp hơn thế hệ trước.
vọt lên nhờ phân bón đạt trên 50%. Vai trò của phân bón bằng tất cả các biện
pháp khác cộng lại như thời vụ trồng, làm đất, luân canh, giống, tưới tiêu. Nước ta
ở vùng nhiệt đới đới, nhiều ánh sáng, nhiệt độ cao, mưa nhiều do đó bón phân là
biện pháp cơ bản để tăng năng suất cây trồng và độ phì nhiêu của đất.
2.1.2.1. Trên thế giới
SVTH: Lưu Nguyễn Thành Công Trang 5
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thò
Hai
Trong những năm qua, sự tiêu thụ PBHH trên thế giới tăng rất nhanh. Trong
đó, tăng nhiều nhất là đạm, kế đến là phân lân, phân kali tăng chậm hơn so với
các loại khác.
Năm 1973 mức tiêu thụ phân đạm là 38,9 triêu tấn/năm, đến năm 1981 tăng
60,3 triệu tấn/năm (bình quân hằng năm tăng 5,6%)
Năm 1973, mức tiêu thụ phân lân trên toàn thế giới là 24,2 triệu tấn; năm
1983 là 31,9 triệu tấn (bình quân mức tiêu thụ hằng năm tăng 2,8%)
Mức tiêu thụ phân kali trong những năm gần nay tăng chậm, năm 1973 tiêu
thụ 120,75 triệu tấn (bình quân hằng năm tăng 2,2%).
Tổng lượng PBHH tiêu thụ tăng từ khoảng 69 triệu tấn năm 1970 lên khoảng
146 triệu tấn năm 1990, nghóa là tăng gấp 2 lần. Tỷ lệ tiêu thụ ở các nước đang
phát triển cao hơn nhiều (360%) so với nước phát triển (61%), thế nhưng lượng
phân bón sử dụng cho 1 ha ở các nước phát triển lại cao hơn so với nước đang
phát triển.
Trong sử dụng phân bón thì số lượng và tỷ lệ N, P, K giữa các khu vực có sự
khác nhau rõ rệt. Các nước phát triển năm 1982 sử dụng bình quân 51 kg N; 31 kg
P
2
O
5
, 28 kg K
2
O
5
+ K
2
O
(kg/ha)
1976 17,6
1980 15,6
1985 51,5
1990 65,3
1991 75,3
1992 68,9
1993 74,3
1994 99,2
1995 87,0
1995 so với năm 1976 494,3
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thò
Hai
2.2. PHÂN LOẠI THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT VÀ PHÂN BÓN
2.2.1. Phân loại thuốc bảo vệ thực vật
Hiện nay, thuốc BVTV rất đa dạng và phong phú về cả chủng loại và số lượng,
tuy nhiên có thể phân loại thuốc BVTV theo các hướng sau
2.2.1.1. Phân loại theo nhóm chất hóa học
- Gốc Clor hữu cơ:
Thành phần hóa học có chất clo là những dẫn xuất Clorobenzen (DDT),
Cyclohexan (BHC) hoặc dẫn xuất đa vòng (Aldrin, Dieldrin). Các loại thuốc
thuộc nhóm này đã đưa vào danh mục các loại bò cấm sử dụng ở Việt Nam vì tính
độc hại của nó rất cao.
- Các thuốc công hơi: Methyl Bromide, Chloropicrin…
Tuy vậy vẫn còn nhiều thuốc có một đến ba con đường xâm nhập
2.2.1.4. Phân loại theo tính độc của thuốc
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và tổ chức Nông Lương Thế giới (FAO) trực
thuộc Liên Hợp Quốc phân loại độc tính của thuốc như sau:
SVTH: Lưu Nguyễn Thành Công Trang 9
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thò
Hai
Bảng 2.2: Phân loại độc tính thuốc bảo vệ thực vật của tổ chức Y tế thế giới
và tổ chức Nông Lương Thế Giới
Loại độc
LD50 (chuột)(mg/kg thể trọng)
Đường miệng Đường da
Chất rắn Chất lỏng Chất rắn Chất lỏng
Ia: Cực độc ≥5 ≥20 ≥10 ≥40
Ib: Rất độc 5-50 20-200 10-100 40-400
II: Độc vừa 50-500 200-2.000 100-1.000 400-4.000
III: Độc nhẹ >500 >2.000 >1.000 >4.000
IV Loại sản phẩm không gây độc cấp khi sử dụng bình thường
(Nguồn: Asian Development Bank,1987)
2.2.1.5. Đặc tính sinh, hóa học của một số nhóm thuốc bảo vệ thực vật
a. Nhóm Clo hữu cơ
Nhóm Clo hữu cơ bao gồm những hợp chất hóa học rất bền vững trong môi
trường tự nhiên đất và nước, với thời gian bán phân hủy rất dài, được xếp vào loại
độc tính loại I và loại II. Các chất này tích lũy trong chuỗi thức ăn của hệ sinh
thái, trong các mô dự trữ của sinh vật và rất ít được đào thải ra ngoài. Hợp chất
này rất bền vững trong tự nhiên như kim loại nặng. Trong nhóm Clo hữu cơ có
các nhóm thuốc sau:
- Nhóm DDT và các chất liên quan
khác ít quan trọng hơn như: Isodrin, Alodan, Bromodan, Telodrin.
Nhìn chung, các cyclodien là những chất bean vững trong đất và khá bean
trước tác động của UV và ánh sáng nhìn thấy. Do đó, chúng được dùng phổ biến
ở dạng thuốc xử lý vào đất để trừ mối và các côn trùng đất có giai đoạn ấu trùng
ăn phá rễ non. Các thuốc nhóm này rẻ, khả năng tiêu diệt bền bỉ nên được ưa
chuộng trước nay. Tuy nhiên, hiện nay côn trùng đất đã phá triển tính kháng
thuốc với chúng, do đó mức tiêu thụ sau đó ít dần. Riêng ở Mỹ, từ năm 1975 –
1980 cơ quan Bả-o vệ Môi Trường đã cấm dùng nhóm này. Riêng Aldrin và
SVTH: Lưu Nguyễn Thành Công Trang 11
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thò
Hai
Dieldrin còn tiếp tục dùng trừ mối thì đến năm 1984 cũng đưa vào danh mục cấm,
riêng Chlordane và Heptaclor cũng bò cấm từ năm 1998.
Các thuốc cyclodien gay độc thần kinh tương tự DDT và HCH, chúng cũng
làm rối loạn sự cân bằng muối và kali trong các nơ-ron nhưng theo một cách khác
so với DDT và HCH. Trong nhóm này, nhà nước Việt Nam đã cấm sử dụng
Aldrin, Dieldrin, Endrin. Chlordane, Heptachlor, Isodrin, và hạn chế Endosulfan
vào tháng 5 năm 1996.
- Các Polycholorterpene
Nhóm Polychlorterpene chỉ có 2 chất là Toxaphene (1947) và Strobane 1951).
Trong nông nghiệp, Toxaphene được dùng rất nhiều, dùng ở dạng đơn độc hoặc
phối hợp với DDT hoặc Metul Parathion. Toxapehe là hỗn hợp gồm 177 chất dẫn
xuất clohoa1 của hợp chất 10 cardbon. Thành phần cực độc của hỗn hợp
Toxaphene này là Toxacant A, chỉ chiếm 3% trong hỗn hợp kỹ thuật. Chất này
độc gấp 18 lần trên chuột, 6 lần trên ruồi và 36 lần trên cá vàng so với hỗn hợp
Toxaphene kỹ thuật.
Các loại thuốc này lưu lại trong đất nhưng không bằng Cyclodiene, và thường
biến mất khỏi bề mặt thực vật sau khi phun thuốc hai hay ba tuần. Sự mất đi chủ
yếu là do bay hơi hơn là do biến dưỡng hoặc quang phân giải. Thuốc dễ bò biến
và Heterocylic:
- Các dẫn xuất của Aliphatic
Tất cả các dẫn xuất của Aliphatic là những dẫn xuất của acid phosphoric
mang chuỗi cacbon thẳng. Chất phospho hữu cơ đầu tiên được dùng trong nông
nghiệp từ năm 1946 là TEPP. Loại thuốc này dễ thủy phân trong nước và biến
mất sau khi phun từ 12-24 giờ. Malathion là chất được dùng nhiều nhất, bắt đầu
từ năm 1950. Ngoài phạm vi nông nghiệp, Malathion còn được dùng trong nhà,
trên súc vật và thậm chí trên con người để trừ các loại ký sinh. Malathion thường
được trộn với đường để làm bả tiêu diệt côn trùng.
SVTH: Lưu Nguyễn Thành Công Trang 13
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thò
Hai
Monocrotophos là phosphor hữu cơ aliphatic chứa nitrogen. Đó là loại thuốc
lưu dẫn, có độc tính cao đối với động vật máu nóng. Thuốc này hiện vẫn nằm
trong danh mục hạn chế sử dụng của Việt Nam.
Trong số các dẫn xuất aliphatic có nhiều chất khác lưu dẫn trong cây như:
dimethoate, dicrotophos, oxydemetonmethyl và disulfoton. Các loại này, ngoại
trừ dicrotophos bò hạn chế sử dụng, đều có thể dùng trong vườn nhà với dạng
loãng thích hợp.
Dichlorvos là dẫn xuất aliphatic có áp suất hơi lớn, hiện bò hạn chế sử dụng.
Mevinphos là một phospho hữu cơ rất độc nhưng rất mau phân hủy, dùng tốt
cho sản xuất rau thương phẩm. Thuốc này có thể dùng một ngày trước khi thu
hoạch mà không để lại dư lượng trên rau thu hoạch ngày sau.
Methamidophos (hiện đã bò cấm sử dụng) và Acephate là hai phospho hữu cơ
được dùng nhiều trong nông nghiệp, đặc biệt là côn trùng trên rau. Ngoài ra, còn
có các thuốc khác cùng loại là Phosphamidon (Dimecron), Naled (Dibrom) và
Propretamphos (Saprotin).
Sebutos (Apache, Rugby) là loại diệt côn trùng và tuyến trùng hiệu quả trên
bắp, đậu phòng, mía và khoai tây.
Azinphosmethyl là chất thứ hai ra đời sau Diazinon vừa là thuốc diệt nhện. Các
thuốc khác là Chlorpyrifos, Methidathion, Phosmet và Pirimiphos, Isazophos,
Chlorpyrifos-methyl, azinphod-ethyl, phosalon…
Các phospho hữu cơ dò vòng là những phân tử phức tạp và thường có tính tồn
lưu cao hơn so với các phosphor hưu cơ thuộc nhóm aliphatic và phenyl. Vì phân
tử thuốc dò vòng phức tạp nên khi phân rã sẽ tạo ra nhiều sản phẩm khó có thể
xác đònh hoàn toàn chính xác.
c. Nhóm Carbamate
Nhóm này có độ độc cấp tính tương đối cao, khả năng phân hủy tương tự như
nhóm phosphor hữu cơ. Sự chuyển hóa của Carbamate trong cơ thể sinh vật chậm
và đơn giản hơn các chất phosphor hưu cơ. Các chất trung gian trong quá trình
chuyển hóa có độc tính thấp hơn các chất ban đầu nhưng cũng có chất độc hơn.
Nhóm này có tác động trực tiếp vào men cholimestera của hệ thần kinh.
Trong đó, có metyl izoxianat (CH
2
NCO) là chất gây ô nhiễm có thể gây chết
người (đã làm cho toàn thế giới chú ý).
SVTH: Lưu Nguyễn Thành Công Trang 15
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thò
Hai
Carbaryl lần đầu tiên được sử dụng thành công vào năm 1956. Thuốc có hại
đặc tính tốt là ít độc (qua miệng và qua da) đối với động vật có vú và tiêu diệt
côn trùng rộng rãi. Nhiều carbamate là chất lưu dẫn dễ hấp thu qua lá và rễ, mức
độ phân giải trong cây thấp. Các thuốc Methomyl, Oxamyl, Aldicarb và
Carbofuran (Carbofuran hiện bò hạn chế sử dụng ở Việt Nam) có đăïc tính lưu dẫn
rất tốt, do đó chúng có khả năng tiêu diệt tuyến trùng mạnh mẽ.Một số
carbamate là: Methiocarb, Trimethacarb (Broot), soprocarb (MIPC,Hytox),
Cloethocarb, Carbosulfan (Avantage), Aldoxycarb (Standak), Promecarb
(Carbamult), Mexacarbate và Fenoxycarb (Logic).
là Phenonthrin (Sumithrin), xuất hiện vào năm 1973, chất này có độc lực trung
bình và hơi tăng hiệu lực khi trộn với các chất hợp lực.
- Thế hệ thứ ba
Thế hệ thứ ba gồm có các Fenvalerate (Pydrin, Tribute) và Permethrin
(Ambush, Dragnet, Pouce, Pramex, Torpedo), xuất hiện vào năm 1972 – 1973.
các chất này dùng nhiều trong nông nghiệp vì có hoạt tính diệt côn trùng cao và
bền với ánh sáng. Thuốc không bởi ảnh hưởng UV và ánh sáng, tồn tại 4 – 7 ngày
trên mặt đá.
- Thế hệ thứ tư:
Thế hệ thứ tư hiện nay có nhiều tính độc đáo, chúng có hiệu lực tiêu diệt với
nồng độ chỉ bằng 1/10 các loại thuốc thế hệ thứ ba. Gồm có các thuốc sau:
Bifenthrin (Talstar), Lamda CYhalothrin (Karate,Force), Cypermethrin (Ammo,
Cymbush, Cynoff), Cyfluthrin (Baythroid), Deltamethrin (Decis), Esfenvalerate
(Asana XL), Fenpropathrin (Danitol), Flucithrynate (Pay-off), Fluvalinate
(Mavrik, Spur), Tefluthrin, Praleethrin (Eto), và Tralomethrin (Scout). Tất cả
những chất trên đều bền với ánh sáng, rất ít bay hơi nên tồn lưu có thể đến 10
ngày trong điều kiện môi trường thuận lợi.
Các Pyrethroid có tác dụng tương tự DDT là làm hở các kênh muối ở màng tế
bào thần kinh. Các Pyrethroid có hai loại tác dụng: loại I có hoạt tính độc mạnh ở
nhiệt độ thấp, loại II có hoạt tính độc mạnh ở nhiệt độ cao.
e. Nhóm các thuốc bảo vệ thực vật hữu cơ khác
SVTH: Lưu Nguyễn Thành Công Trang 17
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thò
Hai
- Các thuốc lưu huỳnh hữu cơ
Các thuốc lưu huỳnh hữu cơ có phân tử lưu huỳnh trong trung tâm của phân tử.
Chúng tương tự như như DDT ở chỗ có vòng phenyl. Bột rắc lưu huỳnh có tác
dụng trừ nhện, nhấ là vào lúc trời nóng. Các lưu huỳnh hữu cơ có ưu thế hơn, vì
lưu huỳnh kết hợp với phenyl có độc tính rất cao với côn trùng.
Bacillus thuringiensis
Bacillus thuringiensis là loại thuốc vi sinh ,dùng vi khuẩn Bacillus
thuringiensis, vi khuẩn này được phát hiện đầu tiên vào năm 1902 tại Nhật trên
con sâu non của tằm (Bombyx mori) đang chết. Vào năm 1938 lần đầu tiên chúng
được dùng dưới tên “Sporien” để diệt sâu non các loài bướm. Cho tới cuối năm
1997 đã có 13 chế phẩm Bacillus thuringiensis được đăng ký sử dụng ở Việt Nam.
Thuốc được sản xuất bằng cách nuôi ủ trong môi trường chứa rỉ đường, bột cá
và một số vi lượng dưới điều kiện kiểm soát chặt chẽ. Vào thời kỳ phóng bào tử,
mỗi vi khuẩn hình que tạo ra một khối glycoproteine trong suốt,miên bào tử và
tinh thể được tách ra bằng phương pháp ly tâm, rồi cho bốc hơi ở nhiệt độ thấp và
làm khô bằng cách phun tinh thể không hòa tan trong nước và không bền trong
nước và không bền trong môi trường kiềm hoặc cho tác động bởi một số men nào
đó.
Các glycoprotein cao phân tử bò phá hủy bởi dòch tiêu háo tính kiềm của các
côn trùng mẫn cảm, tạo ra các phân tử phá hủy vách trong ống tiêu hóa, làm sai
lệch cân bằng thẩm thấu, gây tê liệt phần miệng và ống tiêu hóa làm sâu không
ăn được. Ở một số loài bào tử nảy mầm trong ống tiêu hóa và gây độc, sau cùng
là làm cho sâu chết vì nhiễm độc máu.
Nhiều dòng Bacillus thuringienses tiết ra một loại nucleotide adenine là beta-
toxin, trong thời kỳ tăng trưởng mạnh, tuy nhiên các dòng này không được thong
SVTH: Lưu Nguyễn Thành Công Trang 19
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thò
Hai
mại hóa. Tại Việt Nam chuốc chủ yếu được dùng để trừ sâu sơ trên bắp cải. Sản
xuất thuốc này trong nước gặp khó khăn do trực khuẩn thường làm hư các mẻ sản
xuất.
Bacillus thuringiensis là một thuốc diệt côn trùng gốc vi sinh chỉ có hiệu lực
đối với nhiều sâu non bộ Lepidoptera (cánh vảy). Vì thuốc có tác dụng chuyên
biệt trên sâu non Lepidoptera và an toàn đối với người và thiên đòch của nhiều
khó tiêu cho đất hoặc hút đạm khí trời để bổ sung dinh dưỡng cho đất và cây.
Hiện nay loại phân này đang được khuyến khích sử dụng để hạn chế ô nhiễm môi
trường.
Các loại phân hữu cơ khác: là tro, bùn ao, phân gia cầm, phân dơi, phân thỏ,
xác mắm, khô dầu…
2.2.2.2 Phân vô cơ
Phân đạm: đạm là chất dinh dưỡng cơ bản nhất, tham gia vào thành phần
chính của protenin, tham gia vào quá trình hình thành các chất quan trọng như tạo
clorophil, protit, pep1tit, các amino axit, men và nhiều Vitamin cho cây. Ngoài ra,
phân đạm cần cho cây trong suốt quá trình sinh trưởng, đặc biệt là giai đoạn tăng
trưởng mạnh, can cho các loại cây ăn lá. Moat số loại đạm thông dụng như ure
(CO(NH)
2
), đạm amôn nitrat (NH
4
NO
3
), đạm sunfat (còn gọi là phân SA)
(NH
4
)
2
SO
4
, đạm clorua NH
4
Cl.
Phân lân: Đóng vai trò quan trọng trong đời sống của cây trồng vì nó có trong
thành phần của protit tạo nên nhân tế bào, can cho việc tạo nên một bộ phận mới
của cây. Tham gia vào thành phần các men, tham gia tổng hợp acid amin, kích
lệ N, P, K khác nhau ví dụ như NPK 16-16-8, NPK 20-20-15.
2.2.2.3 Phân vi lượng
Nguyên tố vi lượng là nguyên tố cần thiết (không kém so với phần đa lượng)
cho cây trồng nhưng với số lượng rất ít. Nếu thiếu một trong những nguyên tố vi
lượng, cây sẽ không thể sinh trưởng và phát triển bình thường. Có 6 loại nguyên
tố vi lượng: là sắt (Fe), kẽm (Zn), mangan (Mn), đồng (Cu), borit (Bo), molipden
(Mo). Các nguyên tố vi lượng cũng góp phần nâng cao năng suất nông sản, mang
lại hiệu quả kinh tế cao vì bón ít. Các nguyên tố vi lượng thường có sẵn trong các
loại phân đa lượng, cây thiếu vi lượng sẽ phát triển mất cân đối. Ngoài ra, các
nguyên tố vi lượng cũng thường có trong tàn dư thực vật, trong phụ phẩm nông
nghiệp, trong xác các động vật, trong phân chuồng, phân trộn ủ… Ngoài ra, trong
một số trường hợp người ta cũng sản xuất phân vi lượng để bón cho cây.
SVTH: Lưu Nguyễn Thành Công Trang 22
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thò
Hai
2.3. ẢNH HƯỞNG CỦA THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT VÀ PHÂN BÓN
HÓA HỌC
2.3.1. Ảnh hưởng của thuốc bảo vệ thực vật
2.3.1.1. Con đường phát tán của thuốc bảo vệ thực vật trong môi trường:
Môi trường thành phần như đất, nước, không khí là những môi trường chính
nhưng có sự tương tác và tương hỗ lẫn nhau. Sự ô nhiễm của môi trường này sẽ
gây tác động đến môi trường xung quanh.
Hình 2.1: Con đường phát tán của thuốc BVTV trong môi trường
SVTH: Lưu Nguyễn Thành Công Trang 23
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thò
Hai
Các thuốc trừ sâu khi phun rải lên nông sản, lúa, hoa màu, cây ăn trái… chòu
tác động của nhiều yếu tố môi trường làm giảm hiệu lực và thất thoát. Một phần
mòn đất bò nhiễm thuốc trừ sâu. Mặt khác, khi sử dụng hóa chất BVTV, nước có
thể bò nhiễm thuốc trừ sâu nặng nề do nông dân đổ hóa chất dư thừa, chai lọ chứa
hóa chất, nước súc rửa… Điều này đặc biệt có ý nghóa nghiêm trọng khi các nông
trường, vườn tược lớn nằm gần kề sông xòt xuống ao.
Trong nước, thuốc BVTV có thể tồn tại ở các dạng khác nhau và đều có thể
ảnh hưởng đến tác động của nó đối với sinh vật đó là: hòa tan, bò hấp thụ bởi các
thành phần vô sinh hoặc hữu sinh và lơ lửng trong nguồn nước hoặc lắng tụ xuống
đáy và tích tụ trong cơ thể sinh vật.
Thuốc BVTV tan trong nước có thể tồn tại bền vững và duy trì được đặt tính lý
hoá của chúng trong khi di chuyển và phân bố trong môi trường nước. Các chất
bền vững có thể tích tụ trong môi trường nước đến mức gây độc. Thuốc BVTV khi
xâm nhập vào môi trường nước chúng phân bố rất nhanh theo gió và nước.
Bảng 2.3. Tính tan của hóa chất bảo vệ thực vật trong môi trường nước
SVTH: Lưu Nguyễn Thành Công Trang 25