TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
KHOA TÀI NGUYÊN - MÔI TRƯỜNG
BÀI TIỂU LUẬN SINH THÁI NHÂN VĂN
Đề tài:
“Ô nhiễm môi trường ở nông thôn”
Sinh viên thực hiện:
1. Phạm Thị Oanh (532262)
2. Phan Thị Huyên (532237)
3. Ngô Phương Thanh
(532269)
4. Nguyễn Thị Thu (532278)
1
MỤC LỤC
I. MỞ ĐẦU 2
II. NỘI DUNG 3
1. Ô nhiễm môi trường hoạt động sản xuất nông nghiệp 4
1.1. Thực trạng 4
1.2. Nguyên nhân 5
1.3. Hậu quả 6
Tên ảnh 8
1.4. Biện pháp khắc phục 8
2.Ô nhiễm môi trường nông thôn do rác thải sinh hoạt 11
2.1. Nguyên nhân 12
2.2. Hậu quả 14
2.3. Giải pháp và hướng khắc phục 15
3. Ô nhiễm làng nghề 18
3.1. Thực trạng 19
3.2. Nguyên nhân 20
3.3. Hậu quả 21
3.4. Biện pháp và phương hướng khắc phục 23
III. Ý KIẾN 25
giống cây trồng nên tình hình sâu bệnh diễn biến phức tạp hơn. Vì vậy số lượng và chủng loại
thuốc BVTV sử dụng cũng tăng lên. Nếu như trước năm 1985, khối lượng thuốc BVTV dùng
hàng năm khoảng 6.500 - 9.000 tấn thành phẩm quy đổi và lượng thuốc sử dụng bình quân
khoảng 0,3 kg hoạt chất/ha thì thời gian từ năm 1991 đến nay lượng thuốc sử dụng biến động
từ 25.000 - 38.000 tấn và lượng thuốc sử dụng cũng tăng lên 0,67 - 1,01 kg hoạt chất/ha.
(bao bì thuốc BVTV vứt bừa bãi).
Tình trạng các thuốc BVTV tồn đọng không sử dụng, nhập lậu bị thu giữ đang ngày
càng tăng lên về số lượng và chủng loại. Điều đáng lo ngại là hầu hết các loại thuốc BVTV tồn
đọng này được lưu giữ trong các kho chứa tồi tàn hoặc bị chôn vùi dưới đất không đúng kỹ
thuật nên nguy cơ thấm và rò rỉ vào môi trường là rất đáng báo động.
4
Cùng với vấn đề BVTV, tổng khối lượng chất thải chăn nuôi bình quân khoảng hơn 73
triệu tấn/năm (trong đó chất thải của trâu chiếm 21,9%, bò chiếm 32,5%, lợn chiếm 33,4%)
cũng là nguồn gây ô nhiễm lớn. Nhiều xí nghiệp chăn nuôi, xí nghiệp chế biến thực phẩm nằm
lẫn trong khu dân cư, sản xuất còn nhỏ lẻ, manh mún thiếu các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm
môi trường. Không chỉ trồng trọt, chăn nuôi mà tình trạng phát triển nuôi trồng thủy sản tự
phát, thiếu quy hoạch, thức ăn thừa không được xử lý, việc sử dụng kháng sinh tùy tiện cũng
dẫn tới ô nhiễm môi trường xảy ra nghiêm trọng ở một số nơi.
1.2. Nguyên nhân
• Trước hết phải kể đến nguyên nhân từ nhận thức, ý thức, tập quán canh tác của người
dân.
Việc sử dụng hóa chất trong nông nghiệp như phân hóa học, thuốc bảo vệ thực vật
(BVTV) gồm: Thuốc trừ sâu, thuốc trừ nấm, thuốc diệt chuột, thuốc trừ bệnh; thuốc trừ cỏ một
cách tràn lan, không tuân thủ thời gian cách ly sau khi phun thuốc và cả việc vứt bao bì thuốc
BVTV.
Kết quả kiểm tra tình hình sử dụng thuốc BVTV trên rau của 4.600 hộ nông dân năm
2006 cho thấy, có tới 59,8% số hộ vi phạm về quy trình sử dụng thuốc. Trong đó, số hộ không
giữ đúng thời gian cách ly là 20,7%; sử dụng thuốc cấm, thuốc ngoài danh mục là 10,31%; sử
dụng thuốc hạn chế trên rau là 0,18% và sử dụng thuốc không rõ nguồn gốc, xuất xứ là 0,73%.
5
của não bộ nếu sự phơi nhiễm diễn ra trong thời gian mang thai và thời kỳ niên thiếu. Chị
Nguyễn Thị Thanh, ở thôn Thanh Quang, xã Phước Thắng, than thở: “Nhà ở gần ruộng nên bị
ảnh hưởng, hơn tháng nay ngày nào bà con cũng bơm thuốc trừ rầy, trừ sâu cắn gié. Tôi đóng
kín cửa nhưng hơi thuốc vẫn xộc vào làm nghẹt thở. Mới rồi trời có mưa mới không còn mùi
thuốc trừ sâu nữa”.
Ngộ độc do rau không an toàn: Thuốc trừ sâu là những chất thuộc nhóm lân hữu cơ
rất độc, dễ gây ngộ độc cấp tính. Việc tăng liều lượng thuốc, tăng số lần phun thuốc, dùng
7
thuốc BVTV không theo hướng dẫn cũng như lạm dụng thuốc BVTV đã gây ra hiện tượng
kháng thuốc, làm thuốc mất hiệu lực hoặc để lại tồn dư thuốc BVTV quá mức cho phép trong
nông sản, thực phẩm sẽ dẫn đến tình trạng ngộ độc thực phẩm, làm giảm sức cạnh tranh của
nông sản, hàng hóa trên thị trường và cũng là nguy cơ tiềm ẩn đe dọa đến sức khỏe cộng đồng.
Tên ảnh
1.4. Biện pháp khắc phục.
- Giải quyết hài hòa giữa việc quản lý, sử dụng thuốc BVTV để bảo vệ sản xuất nông
nghiệp với việc bảo vệ sức khỏe cộng đồng và môi trường là một đòi hỏi và thách thức lớn đối
với các cơ quan quản lý nhà nước. Để đạt được mục tiêu đó cần có một số giải pháp sau:
- Nhà nước cần có chế độ ưu đãi, hỗ trợ cho các chương trình sản xuất và ứng dụng các
sản phẩm hữu cơ, vi sinh vào công tác phòng trừ sinh vật gây hại tài nguyên thực vật; chọn lọc
các loại thuốc, dạng thuốc BVTV an toàn có tính chọn lọc cao, phân giải nhanh trong môi
trường; duy trì và mở rộng việc áp dụng IPM vì chương trình này không chỉ tiết kiệm chi phí
cho việc mua thuốc BVTV mà còn góp phần làm giảm thiểu ô nhiễm môi trường; tăng cường
công tác thanh tra, kiểm tra xử lý vi phạm trong lĩnh vực BVTV; phối hợp các lực lượng liên
8
ngành trong kiểm tra, kiểm soát việc nhập lậu thuốc BVTV; chú trọng việc thu gom và xử lý
bao bì thuốc BVTV sau sử dụng và kiên quyết đình chỉ các cơ sở sản xuất, gia công thuốc
BVTV có dây chuyền công nghệ lạc hậu gây ô nhiễm.
- Đẩy mạnh việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật trong trồng trọt, nâng cao hiểu biết của
người nông dân trong việc sử dụng thuốc BVTV an toàn và hiệu quả, từ đó giảm lượng thuốc
nông thôn đến thành thị.
Về nông thôn, chúng ta dễ dàng nhận thấy ven làng, các bờ sông, con ngòi, các túi rác,
có khi là cả một tải rác hay đống rác “tự do nhảy dù” chẳng có người nào thu gom, mới đầu
còn là một túi rác nhỏ, dần dà chúng “tập kết” thành đống lớn dần lên qua từng ngày tạo nên
cảnh quan “lạ mắt” ven đường làng, mương máng, có khi còn làm tắc dòng chảy. Bên cạnh đó
rác thải ở các chợ quê đã đến hồi báo động, các đống rác được chất đống lưu cữu rất nhiều
ngày, ngay gần khu dân cư, bốc mùi ô uế.
Mỗi năm, trong cả nước có hàng chục tấn rác thải sinh thải sinh hoạt phát sinh và theo
dự báo thì tổng lượng chất thải đó vẫn tiếp tục tăng lên nhanh chóng trong thập kỷ tới. Theo
11
ông Trương Đình Bắc - Trưởng phòng Sức khoẻ và môi trường, cho biết nếu ở các đô thị lớn,
trung bình một người thải ra 1kg rác/ngày thì vùng nông thôn cũng từ 0,5-0,6kg rác/ngày.
Bình quân mỗi người thải ra 0,7 kg rác/ngày. Như vậy, với khoảng 50 triệu dân vùng nông
thôn, mỗi ngày có gần 50 triệu tấn rác cần được thu gom. Tuy nhiên trên thực tế chỉ thu được
khoảng 50%.
(Túi nilon rải đầy ven đường đi).
Tình trạng vứt rác bừa bãi của một bộ phận người dân nông thôn không chỉ làm ảnh
hưởng đến cảnh quan nông thôn tác động xấu đến môi trường sống của người dân mà còn huỷ
hoại môi trường trong lành của làng quê. Do đó, đã nảy sinh nhiều vấn đề về môi trường nông
thôn.
2.1. Nguyên nhân.
• Do quá trình xây dựng và quy hoạch và đầu tư xây dựng khu dân cư chưa chú trọng vấn đề
xử lý môi trường.
12
(chợ ở nông thôn).
• Do ý thức trách nhiệm của người dân trong việc thu gom và xử lý rác tại các vùng nông
thôn còn rất khiêm tốn. Tỷ lệ thu gom rác thải lớn nhất chỉ đạt 19,8%-29,2% như các huyện
Thuận Thành (Bắc Ninh), Ứng Hoà (Hà Tây) còn tại Giao Thuỷ (Nam Định), Bình Xuyên
(Vĩnh Phúc) tỷ lệ thu gom chỉ đạt từ 3,6-3,7% thực tế.
Một vấn đề chúng ta không khỏi quan tâm hiện nay là hầu hết lượng rác này lại không
không đảm bảo vệ sinh. Trung tâm quan trắc và phân tích tài nguyên môi trường Nam định cho
hay, khi tiến hành điều tra vào tháng 6-2007 và tháng 5-2008 tại các xã, thị trấn trong huyện
đều thấy các mẫu nước ngầm có chứa asen vượt tiêu chuẩn 09/Bộ y tế và một số mẫu vượt
TCVN 5942-1995 về nước mặt và TCVN 5944-1995 về nước ngầm.
Bảng tỷ lệ người dân nông thôn được cấp nước sạch ở các vùng
14
TT Vùng
Tỷ lệ người dân nông thôn được cấp
nước sạch (%)
1 Vùng núi phía Bắc 15
2 Trung du Bắc Bộ & Tây Nguyên 18
3 Bắc Trung Bộ & Duyên hải miền Trung 35-36
4 Đông Nam Bộ 21
5 Đồng bằng Sông Hồng 33
6 Đồng bằng Sông Cửu Long 39
Qua bảng trên, chúng ta có thể thấy rõ, những người dân ở nông thôn Việt Nam đang
phải sinh hoạt với những nguồn nước như thế nào. Ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long, nơi có
tỷ lệ cao nhất cũng chỉ 39% dân số được sử dụng nguồn nước (tạm coi là) sạch. Còn vùng
thấp nhất là vùng núi phía Bắc.
Ô nhiễm không khí: Thải rác vào môi trường, lượng rác này không được xử lý hợp vệ
sinh sẽ phân huỷ mùi hôi thối gây bệnh về da, mắt viêm xoang đường hô hấp…người dân
không được hưởng bầu không khí trong lành cần thiết cho sự sống.
Từ các nguyên nhân trên đã gây ra ảnh hưởng đến sức khoẻ và chất lượng cuộc sống
của người dân. Tình trạng ô nhiễm môi trường nước tác động trực tiếp đến sức khoẻ, là nguyên
nhân gây các bệnh như tiêu chảy, tả, thương hàn, giun sán Các bệnh này gây suy dinh dưỡng,
thiếu máu, thiếu sắt, kém phát triển gây tử vong nhất là ở trẻ em. Có đến 88% trường hợp bệnh
tiêu chảy là do thiếu nước sạch, VSMT kém .
2.3. Giải pháp và hướng khắc phục.
• Thông tin- giáo dục- truyền thông và tham gia của cộng đồng:
15
môi trường sống cho mình tốt hơn.
Vì vậy, các hoạt động thông tin - giáo dục - truyền thông có tầm quan trọng lớn lao đối
với thành công của mọi chiến lược phát triển và vai trò cơ bản của nhà nước trong tương lai là
tập trung vào các hoạt động Thông tin- Giáo dục-Truyền thông và quản lý. Tăng cường tập
huấn, hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ thực hiện công tác quản lý môi trường
từ cấp tỉnh đến cơ sở thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được giao.
• Về quy hoạch cơ sở hạ tầng.
17
Để đảm bảo vệ sinh môi trường, trong quy hoạch cơ sở hạ tầng kỹ thuật khu dân cư
cần:
Vạch ra được phương hướng xứ lý rác thải.
Chọn mô hình xử lý rác thải phù hợp.
Phối hợp lực lượng Cảnh sát Môi trường, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra các
cơ sở sản xuất, kinh doanh, nhất là các nhà máy xí nghiệp có hàm lượng rác thải, để kịp thời
phát hiện, nhắc nhở ngăn chặn và xử lý nghiêm những hành vi vi phạm…
3. Ô nhiễm làng nghề.
Làng nghề đã hình thành và phát triển từ rất lâu đời trong nông thôn Việt Nam và đóng
vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế. Từ khi thực hiện cơ chế thị trường, các làng nghề thủ
công truyền thống ở nhiều địa phương cũng dần được phục hồi và phát triển mạnh mẽ. Sản
phẩm của các làng nghề không chỉ phục vụ nhu cầu trong nước mà còn vươn ra thị trường
nước ngoài, thu về nguồn lợi lớn, cải thiện đời sống của tầng lớp dân cư nông thôn. Tuy nhiên,
song song với sự phát triển đó, là tồn tại nguy cơ gây ô nhiễm môi trường. Do sự ý thức của
con người trong quá trình sản xuất không xử lý triệt để các chất thải ra môi trường sống xung
quanh gây nên tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng.
18
Sự ô nhiễm của môi trường ảnh hưởng trực tiếp tới sức khoẻ đời sống của con người.
Người dân ở các làng nghề mắc bệnh rất cao, đặc biệt là những người trực tiếp sản xuất do
thường xuyên phải tiếp xúc với khói bụi, hoá chất. Bệnh tật của người lao động phổ biến là đau
lưng, đau cột sống, hội chứng dạ dày, viêm phế quản, dị ứng ngoài da và đau mắt. Vì thế, ô
nhiễm làng nghề đang là một vấn đề nan giải.
như bụi, hơi nước, SO2, CO2, CO và NOx là hết sức phổ biến. Trong đó các khi COx, NOx là
các tác nhân gây hiệu ứng nhà kính. Ngoài ra, các khí độc hại này còn được sinh ra trong quá
trình phân hủy yếm khí các hợp chất hữu cơ có trong nước thải, chất thải hữu cơ dạng rắn như
H2S, NH3, CH4
Các chất thải độc hại khó phân hủy cũng là một vấn đề môi trường nóng bỏng đặt ra
cho các làng nghề, nhất là các làng nghề tái chế kim loại và dệt nhuộm, thuộc da. Kết quả phân
tích chất lượng nước thải cho thấy: Hàm lượng độc hại đang ở mức đáng báo động, vượt tiêu
chuẩn cho phép nhiều lần. Tại các làng nghề tái chế kim loại có nơi hàm lượng Pb2+ vượt tiêu
chuẩn cho phép tới 4,1 lần, Cu2+- vượt quá 3,25 lần. Hàm lượng Phenol trong nước thải tại
làng nghề tái chế giấy cũng vượt quá tiêu chuẩn cho phép 10 lần.
Tại hầu hết các làng nghề chỉ tiêu BOD, COD, SS đều lớn hơn rất nhiều so với tiêu
chuẩn, các chất gây ô nhiễm này không được xử lý sẽ phát sinh ra nhiều dạng khí gây ô nhiễm
môi trường như CH4, H2S, NH3 Các chất thải rắn nguy hại không được các làng nghề xử lý
đến nơi đến chốn mà chỉ được thu gom rất thủ công và đem chôn lấp đơn giản ở các bãi chôn
lấp hở, thậm chí là bị thải bỏ và đốt bừa bãi ngay trên các con đê làng hoặc đổ xuống dòng
sông cũng đang là nguồn gây ô nhiễm đất, các chất thải rắn.
3.2. Nguyên nhân.
• Do các làng nghề hình thành và phát triển tự phát, quy mô nhỏ lẻ, chưa có quy hoạch.
20
• Trang thiết bị, công nghệ sản xuất của các làng nghề còn rất lạc hậu
• Người dân còn chưa ý thức được việc phải giữ gìn, bảo vệ môi trường.
• Quá tận dụng sức lao động giá rẻ thay vì phải đầu tư đổi mới công nghệ
• Không có biện pháp nào xử lý ô nhiễm.
• Do giá thành sản phẩm nên người ta vẫn phải sử dụng các phương pháp thủ công gây ô
nhiễm môi trường cao.
• Hệ thống cống rãnh thoát nước bị lấp bởi chất thải rắn,gây ngập úng mỗi khi mưa xuống.
• Tình trạng ô nhiễm của tất cả các làng nghề mới chỉ được khảo sát và đưa ra những con số
đáng báo động, nhưng chưa có giải pháp khắc phục cụ thể, hiệu quả từ các ban ngành chức
năng.
3.3. Hậu quả.
công nghệ phù hợp có khả năng giảm thiểu các chất độc hại.
(Khói bụi tại một làng nghề).
Việc đề ra các giải pháp bảo vệ và cải thiện môi trường cho các làng nghề phải căn cứ
cụ thể vào các điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội của địa phương. Điều đó có nghĩa là phải
đa dạng hóa các giải pháp bảo vệ môi trường tại các làng nghề mà điều chính yếu là phải đạt
được giải pháp tận dụng các ưu thế và khắc phục được các hạn chế của từng làng nghề. Song
23
dù ở địa phương nào và đối với nghề gì thì giải pháp thu gom và xử lý chất thải đều phải đặt
lên hàng đầu.
Ngoài ra, Nhà nước cần có chính sách chuyển đổi cơ cấu sản xuất, khuyến khích phát
triển ngành nghề nông thôn theo quy hoạch, tập trung các khu sản xuất, kế hoạch gắn với bảo
vệ môi trường, với bảo vệ, tôn tạo những di sản văn hoá ở địa phương. Cạnh đó là hoàn thiện
hành lang pháp lý bảo vệ môi trường, đưa vấn đề môi trường vào các dự án, vào hệ thống giáo
dục Nhưng cấp thiết, có lẽ là 3 vấn đề:
• Một là cần có pháp lệnh về thuế môi trường.
• Hai là tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý đến đầu đến đũa các cơ sở gây ô nhiễm môi
trường nghiêm trọng.
(Cơ quan chức năng đang kiểm tra một cơ sở sản xuất.
• Ba là đa dạng hoá đầu tư cho bảo vệ môi trường.
• Các ngành chức năng địa phương hỗ trợ thay đổi công nghệ, quy hoạch khu sản xuất
với hệ thống xử lý nước thải, rác thải…
Hiện nay, chuyện bảo vệ môi trường có ý nghĩa quan trọng, không chỉ là sức khoẻ, là
môi trường sống của cộng đồng mà nó còn có ý nghĩa sống còn với chính ngay các sản phẩm
24
của làng nghề. Muốn nâng cao tính “đua chen” của sản phẩm, dù là thị trường nội địa hay quốc
tế, vấn đề sản xuất sạch được người tiêu dùng đặc biệt quan tâm.
III. Ý KIẾN.
Chúng ta đang phải chứng kiến sức tàn phá ghê gớm của ô nhiễm môi trường tới không
chỉ cảnh quan nông thôn Việt Nam mà còn đối với sức khỏe của chính những người dân. Hãy
nhìn những làng quê đang bóc đi cái vẻ hồn hậu, chất phác vốn có để khoác lên mình tấm áo