Hihi 10/2010……
CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA VIỆT
NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
.
Việc Việt Nam trở thành thành viên chính
thức của Tổ chức Thương mại Thế giới
(WTO) tháng 1 năm 2007 đã đánh dấu một
bước phát triển có ý nghĩa trọng đại trong
tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của nước
ta. Là một nền kinh tế đang trong quá trình
chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, việc
gia nhập WTO luôn song hành cơ hội và
thách thức, quyền lợi và nghĩa vụ, đặc biệt
là các cơ hội và thách thức của Việt Nam
trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương.
Quy tắc điều chỉnh thương mại quốc tế
Trước đây, thương mại quốc tế thường
được điều chỉnh bằng các hiệp định thương
mại song phương giữa hai nước. Trước thế
kỷ 19, khi chủ nghĩa trọng thương còn
chiếm ưu thế, đa số các nước áp đặt những
mức thuế cao cùng nhiều hạn chế thương
mại khác đối với hàng nhập khẩu. Kể từ thế
kỷ 19, tư tưởng về thương mại tự do dần
dần nổi lên giữ vai trò chủ đạo ở các nước
phương Tây, đặc biệt là ở Anh. Trong
những năm kể từ sau Chiến tranh Thế giới
lần thứ hai, các hiệp định thương mại đa
phương như GATT và WTO đã cố gắng
xây dựng một cơ chế thương mại quốc tế có
sự thống nhất điều chỉnh trên phạm vi toàn
châu Âu. Có thể kể thêm một số thỏa thuận
thương mại quốc tế thất bại như Khu vực
Mậu dịch Tự do Châu Mỹ (FTAA) hay
Hiệp định Đa phương về Đầu tư (MAI).
[sửa] Chức năng của hoạt động ngoại
thương
Là một khâu của quá trình tái sản xuất xã
hội, ngoại thương có các chức năng sau:
- Tạo vốn cho quá trình mở rộng vốn đầu
tư trong nước
- Chuyển hóa giá trị sử dụng làm thay đổi
cơ cấu vật chất của tổng sản phẩm xã hội và
thu nhập quốc dân được sản xuất trong
nước và thích ứng chúng với nhu cầu của
tiêu dùng và tích lũy
- Góp phần nâng cao hiệu quả của nền kinh
tế bằng việc tạo môi trường thuận lợi cho
sản xuất, kinh doanh
Là một lĩnh vực kinh tế đảm nhận khâu lưu
thông hàng hóa giữa trong nước với nước
ngoài, chức năng cơ bản của ngoại thương
là: Tổ chức chủ yếu quá trình lưu thông
hàng hóa với bên ngoài, thông qua mua bán
để nối liền một cách hữu cơ theo kế hoạch
giữa thị trường trong nước với thị trường
nước ngoài, thỏa mãn nhu cầu của sản xuất
và của nhân dân về hàng hóa theo số lượng,
chất lượng, mặt hàng, địa điểm và thời gian
phù hợp với chi phí ít nhất.
[sửa] Nhiệm vụ của ngoại thương
Hàng rào phi thuế quan là những biện pháp
phi thuế quan mang tính cản trở đối với
thương mại mà không dựa trên cơ sở pháp
lí, khoa học hoặc bình đẳng Hàng rào phi
thuế quan thường được áp dụng đối với
hàng nhập khẩu Hình thức của hàng rào
phi thuế quan rất phong phú, gồm: Các
biện pháp hạn chế định lượng, các biện
pháp tương đương thuế quan, các rào cản
kỹ thuật, các biện pháp liên quan đến đầu
tư nước ngoài, các biện pháp quản lý hành
chính, các biện pháp bảo vệ thương mại
tạm thời
Ngày nay, ngoại thương thế giới có những
đặc điểm mới: tốc độ tăng trưởng của ngoại
thương thế giới tăng nhanh so với tốc độ
tăng trưởng của tổng sản phẩm quốc dân.
Tốc độ tăng trưởng của hàng hóa vô hình
tăng nhanh so với tốc độ tăng trưởng hàng
hóa hữu hình. Nhu cầu về đời sống vật chất
giảm trong khi đó, nhu cầu văn hóa tinh
thần ngày càng tăng. Tỷ trọng xuất khẩu
hàng nguyên liệu thô giảm, trong khi đó
dầu mỏ, khí đốt và các sản phẩm công nghệ
chế biến tăng nhanh. Phạm vi, phương thức
và công cụ cạnh tranh của thương mại quốc
tế diễn ra ngày càng phong phú và đa dạng:
chất lượng, giá cả, điều kiện giao hàng, bao
bì, mẫu mã, thời hạn thanh toán, các dịch
vụ sau bán hàng. Chu kỳ sống của sản
công.
• Rủi ro liên quan đến việc áp đặt lệnh
cấm nhập khẩu sau khi hàng đang trên
đường vận chuyển.
• Rủi ro thanh toán - liên quan đến việc
nước nhập khẩu áp đặt chính sách kiểm
soát ngoại hối do thiếu ngoại tệ.
• Rủi ro từ bỏ chủ quyền chính trị.
[sửa] Chú thích
1. ^
v/rel_vntradebarriers.html Rào cản
Ngoại thương
[sửa] Liên kết ngoài
• Diplomacy Monitor - International
Trade
• globaltrade.net : website for
international trade services (knowledge
resource/database)
[sửa] Số liệu
• Cơ sở dữ liệu Sản xuất và Thương mại
của Ngân hàng Thế giới
• Các nguồn số liệu thương mại, bao gồm
cả số liệu cho mô hình lực hấp dẫn
• Trong 20 năm qua Việt Nam nền kinh tế
Việt Nam đã tăng trưởng với tốc độ
nhanh và ngày càng hội nhập với nền
kinh tế thế giới. Do đó chính sách phát
triển thương mại của Việt Nam cũng có
nhiều sự thay đổi nhằm hội nhập ngày
cầm, thuốc lá và muối. Đối với 4 mặt
hàng này mức thuế hiện hành là ( trứng
40%, đường thô 25%, đường tinh 40%,
lá thuốc lá 30%, muối 30%).
• Các hàng rào phi thuế quan
• Theo định hướng của chính sách thương
mại của Việt Nam thì các hàng rào phi
thuế quan sẽ dần được loại bỏ như
quota hạn ngạch, giấy phép. Tuy nhiên
Việt Nam vẫn duy trì danh mục một số
mặt hàng cấm xuất nhập khẩu và một
số mặt hàng hạn chế xuất nhập khẩu.
• Ví dụ: Việt Nam cấm nhập khẩu thiết bị
và phần mềm mã hóa thuộc diện bí mật
nhà nước không liên quan tới các sản
phẩm thương mại thông thường phục
vụ nhu cầu đại chúng.
• Các hàng rào kĩ thuật
• Việt Nam sẽ tiếp tục áp dụng các hàng
rào kĩ thuật phù hợp với quy định của
WTO nhằm bảo vệ cuộc sống của con
người, động thực vật, sức khỏe cộng
đồng và môi trường. Trong đó Việt Nam
nhấn mạnh vào các quy định về chất
lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm, bảo
vệ sinh thái, bảo vệ môi trường và đa
dạng sinh học. Ngoài ra Việt Nam còn
tiếp tục áp dụng cac quy định nhằm bảo
vệ an ninh quốc gia cũng như chống
gian lận thương mại phù hợp với quy
mới để phát huy những lợi thế so sánh vốn
có về tài nguyên thiên nhiên và nguồn lao
động dồi dào, giá rẻ, sử dụng những lợi thế
đó vào việc phát triển các nguồn hàng xuất
khẩu ngày càng lớn, tiêu thụ tại thị trường
các nước, mang lại một nguồn thu ngoại tệ
ngày càng cao phục vụ cho tăng trưởng
kinh tế và công nghiệp hóa.
Trong thời kì đổi mới, kim ngạch xuất nhập
khẩu của Việt Nam mỗi năm tăng khoảng
20%, nhờ đó đã đưa tổng giá trị xuất khẩu
của Việt Nam từ mức khoảng nửa tỷ
USD/năm trong những năm trước đổi mới
lên 26 tỷ USD năm 2004 và 32,23 tỷ USD
năm 2005.
Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu có sự chuyển
dịch tiến bộ. Trong giai đoạn 1991-1995,
hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam gồm
dầu thô, thủy sản, gạo, dệt may, cà phê, lâm
sản, cao su, lạc, hạt điều. Đến năm 2005,
các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là dầu thô,
dệt may, giày dép, thủy sản, sản phẩm gỗ,
điện tử và gạo. Cơ cấu này phản ánh xu
hướng gia tăng các chủng loại mặt hàng chế
biến, chế tạo, và sự giảm đi về tỷ trọng của
các mặt hàng xuất khẩu thô, chủ yếu là các
mặt hàng nông, lâm, hải sản và khoáng sản.
Dù có sự tiến bộ như vậy, nhưng các mặt
hàng xuất khẩu thô của Việt Nam đến nay
vẫn còn chiếm tỷ trọng cao, đòi hỏi một sự
được ban hành tháng 12/1987 đã tạo ra
khuôn khổ pháp lý cơ bản cho các
hoạt động đầu tư nước ngoài trực tiếp
tại Việt Nam. Trước đòi hỏi của thực tế
và sự góp ý của các nhà đầu tư nước
ngoài, Luật đã có một số lần được sửa
đổi, bổ sung, nổi bật là các lần sửa đổi
vào những năm 1996 và năm 2002
nhằm tạo ra một môi trường đầu tư
thông thoáng, hấp dẫn hơn để khuyến
khích các nhà đầu tư nuớc ngoài đầu
tư vào những mục tiêu trọng điểm và
những lĩnh vực ưu tiên, nhất là trong
ngành công nghiệp chế biến, chế tạo
hướng vào xuất khẩu và các vùng kinh
tế trọng điểm của đất nước.
Bằng việc cho ra đời Luật đầu tư 2005 và
Luật Doanh nghiệp 2005 (cùng có hiệu lực
từ 1/7/2006) Chính phủ Việt Nam đã tạo ra
bước tiến dài trong việc điều chỉnh, cải tiến
để tạo thêm hấp dẫn đối với các nhà đầu tư
nước ngoài như được quyền đầu tư kinh
doanh tất cả những gì pháp luật không
cấm, thay vì chỉ được làm những việc cơ
quan Nhà nước cho phép. Nguyên tắc này
được áp dụng cho khu vực kinh tế tư nhân
trong nước từ năm 2000, nay được áp dụng
chung cho cả khu vực nước ngoài.
Ngoài ra việc đẩy mạnh tháo gỡ những khó
khăn vướng mắc cho các nhà đầu tư nước
tỷ USD năm 1997, sau đó do bị ảnh hưởng
tiêu cực bởi cuộc khủng hoảng tài chính
châu Á năm 1997 đã giảm xuống trong các
năm 1998-2000 (có năm chỉ thu hút được
1,58 tỷ USD như năm 1999). Những năm
gần đây, FDI vàoViệt Nam đã được phục
hồi và có xu hướng tăng trở lại, từ 2,6 tỷ
USD năm 2001 đã tăng lên 5,8 tỷ USD năm
2005. FDI tăng lên không chỉ hứa hẹn mang
lại lợi nhuận cao cho các nhà đầu tư nước
ngoài, mà còn đóng vai trò quan trọng
trong việc bổ sung nguồn vốn, chuyển giao
công nghệ và phương thức kinh doanh hiện
đại, khai thác các tiềm năng của đất nước,
đào tạo tay nghề và giải quyết việc làm cho
hàng chục vạn lao động Việt Nam.
Chủ nhật, 20:58, 18/10/2009
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
được ban hành tháng 12/1987 đã tạo ra
khuôn khổ pháp lý cơ bản cho các
hoạt động đầu tư nước ngoài trực tiếp
tại Việt Nam. Trước đòi hỏi của thực tế
và sự góp ý của các nhà đầu tư nước
ngoài, Luật đã có một số lần được sửa
đổi, bổ sung, nổi bật là các lần sửa đổi
vào những năm 1996 và năm 2002
nhằm tạo ra một môi trường đầu tư
thông thoáng, hấp dẫn hơn để khuyến
khích các nhà đầu tư nuớc ngoài đầu
Những biện pháp cải cách trên đã trở thành
một trong những yếu tố quan trọng góp
phần khôi phục và tăng nhanh nguồn vốn
FDI đầu tư vào Việt Nam trong năm 2005.
FDI tăng nhanh trở lại còn do các nguyên
nhân quan trọng khác như sự ổn định về
chính trị, kinh tế, an ninh và quốc phòng;
nền kinh tế tiếp tục đạt mức tăng trưởng
cao; công cuộc đổi mới kinh tế theo cơ chế
thị trường tiếp tục được duy trì và đẩy
mạnh; mức sống của người dân được nâng
cao góp phần làm tăng mức cầu nội địa;
tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế được đẩy
mạnh, uy tín và thương hiệu của các loại
hàng hóa sản xuất tại Việt Nam trên các thị
trường thế giới ngày càng được nâng cao.
Kết quả, Việt Nam đã thu hút được một
lượng FDI ngày càng lớn: hầu như từ con
số không vào năm 1986, đã tăng lên tới 3,2
tỷ USD năm 1997, sau đó do bị ảnh hưởng
tiêu cực bởi cuộc khủng hoảng tài chính
châu Á năm 1997 đã giảm xuống trong các
năm 1998-2000 (có năm chỉ thu hút được
1,58 tỷ USD như năm 1999). Những năm
gần đây, FDI vàoViệt Nam đã được phục
hồi và có xu hướng tăng trở lại, từ 2,6 tỷ
USD năm 2001 đã tăng lên 5,8 tỷ USD năm
2005. FDI tăng lên không chỉ hứa hẹn mang
lại lợi nhuận cao cho các nhà đầu tư nước
ngoài, mà còn đóng vai trò quan trọng