Báo cáo “Thực trạng và các giải pháp kinh tế chủ yếu nhằm mở rộng thị trường xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam tại Mỹ” - Pdf 16

§Ò ¸n m«n häc

Báo cáo “Thực trạng và các giải pháp kinh tế
chủ yếu nhằm mở rộng thị trường xuất khẩu
thuỷ sản của Việt Nam tại Mỹ”
§Ò ¸n m«n häc
MỤC LỤC
Lời mở đầu
Nội dung
I. Một số khái niệm về thị trường
2. Đặc điểm của thị trường thuỷ sản tại Mỹ
3. Sự cần thiết phải mở rộng thị trường xuất khẩu thuỷ sản tại Mỹ của Việt
Nam
II. Khái quát thực trạng thị trường xuất khẩu thuỷ sản tại Mỹ của Việt Nam

1. Khái quát thị trường xuất khẩu thuỷ sản tại Mỹ của Việt Nam
2. Thực trạng thị trường xuất khẩu sản phẩm thuỷ sản của Việt nam
sang Mỹ
III. Các giải pháp kinh tế chủ yếu nhằm mở rộng thị trường xuất khẩu sản
phẩm thuỷ sản của Việt Nam sang thị trường Mỹ 18
1. Các giải pháp chủ yếu 18
2. Một số suy nghĩ của bản thân 23
Kết luận 24
Tài liệu tham khảo 25

§Ò ¸n m«n häc
LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế của Việt Nam, thuỷ sản là thế mạnh và là ngành kinh
tế mũi nhọn. Với lợi thế Việt Nam có hơn 3260 Km bờ biển, 112 cửa sông,
lạch, hơn 2 triệu km2 thềm lục địa, hơn một triệu km2 mặt nước, sự phong
phú về các loại thuỷ hải sản nên ngành thuỷ sản của nước ta có điều kiện rất


§Ò ¸n m«n häc
NỘI DUNG
I_ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG.
1_KHÁI NIỆM VỀ THỊ TRƯỜNG.
a. Thị trường nói chung.
Từ xưa đến nay đã có rất nhiều định nghĩa, quan niệm về thị trường
khác nhau nhưng ta có thể hiểu một cách chung nhất về bản chất của thị
trường như sau:
Thị trường là lĩnh vực trao đổi mà thông qua đó người bán và người
mua có thể trao đổi sản phẩm, dịch vụ cho nhau tuân theo các quy luật kinh
tế hàng hóa.
Như vậy, ta có thể hiểu thị trường được biểu hiện trên ba nét lớn sau:
- Thị trường là lĩnh vực trao đổi được tổ chức theo quy luật kinh tế
hàng hoá như: quy luật giá trị; quy luật cạnh tranh
- Thị trường là sự trao đổi ngang giá và tự do đối với sản phẩm làm
ra; gắn sản xuất với tiêu dùng, buộc sản xuất phải phục tùng nhu cầu tiêu
dùng.
- Một thị trường cân đối thì giá cả của nó phải phản ánh chí phí sản
xuất xã hội trung bình, do đó buộc người sản xuất phải giảm chi phí, tiết
kiệm nguồn lực, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.
b. Thị trường xuất khẩu thuỷ sản
Thị trường xuất khẩu thuỷ sản về cơ bản vẫn mang bản chất của thị
trường nói chung nhưng nội dung của nó hẹp hơn. Ta có thể hiểu thị trường
xuất khẩu thuỷ sản là một lĩnh vực trao đổi mà thông qua đó người cung cấp
ở nước này và người có nhu cầu ở nước khác về sản phẩm và dịch vụ thuỷ
sản có thể trao đổi, mua bán với nhau tuân theo các qui luật kinh tế hàng
hoá.
Thị trường trao đổi thuỷ sản thế giới rất rộng lớn bao gồm 195 nước
xuất khẩu và 180 quốc gia nhập khẩu thuỷ sản trong đó nhiều quốc gia vừa

khác nhau tạo nên sự phong phú và đa dạng. Có rất nhiều loại sản phẩm trên

§Ò ¸n m«n häc
thị trường được chế biến với công nghệ khác nhau mang những thương hiệu
khác nhau của rất nhiều hãng trong và ngoài nước. Hơn nữa người dân Mỹ
lại rất tự do trong việc lựa chọn các mặt hàng tiêu dùng cho mình, họ có thể
lựa chọn một sản phẩm trong hoặc ngoài nước tuỳ ý miễn là đáp ứng được
nhu cầu của họ. Do đó rất nhiều các tổ chức kinh doanh trong và ngoài nước
Mỹ đổ xô vào thị trường tiêu thụ béo bở này tạo nên một môi trường cạnh
tranh khá căng thẳng. Việt Nam với những lợi thế riêng về chất lượng sản
phẩm tự nhiên, hàng năm nước ta vẫn xuất sang Mỹ một số lượng lớn sản
phẩm thuỷ sản được chế biến dưới nhiều hình thức khác nhau. Chỉ tính riêng
năm 1999 nhập khẩu thuỷ sản của Mỹ lên tới con số kỷ lục 9,3 tỷ USD. Vào
được thị trường Mỹ tức là hàng hóa uy tín chất lượng cao, bởi vì phải đảm
bảo vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm theo tiêu chuẩn HACCP. Nhìn một
cách tổng quát, Mỹ là thị trường tiêu thụ rộng lớn và giàu tiềm năng của
ngành xuất khẩu thuỷ sản nước ta.
Bên cạnh đó, thị trường Mỹ cũng là một thị trường khá khắt khe. Thị
trường Mỹ tuy rộng lớn nhưng nhu cầu của người tiêu dùng Mỹ lại rất cao.
Một sản phẩm thuỷ sản phải đạt tiêu chuẩn về mẫu mã, chất lượng, độ an
toàn thực phẩm và hàm lượng chất dinh dưỡng thì mới có đủ khả năng xuất
hiện và cạnh tranh trên thị trường Mỹ. Nếu không có đủ tất cả các yêu cầu
trên thì sản phẩm đó sẽ bị các sản phẩm của các hãng khác cạnh tranh loại
bỏ, hoặc bị chính người tiêu dùng Mỹ tẩy chay, khả năng tồn tại và phát
triển của sản phẩm đó là rất khó khăn. Đó là về phía những người tiêu dùng
còn về phía Chính phủ Mỹ cũng có rất nhiều những qui định đặt ra cho các
sản phẩm thuỷ sản nhập khẩu. Khi đưa sản phẩm thuỷ sản vào thị trường
Mỹ, chúng ta phải quan tâm và hiểu được hệ thống pháp luật của Mỹ. Hệ
thống luật của Mỹ khá phức tạp, chặt chẽ và mới lạ đối với các doanh
nghiệp xuất khẩu Việt Nam. Vì vậy nếu không nghiên cứu tìm hiểu rõ thì

giá trị và mức thuế theo số lượng. Có những hàng hoá phải chịu thuế định
ngạch- đó là loại thuế suất cao hơn được áp dụng đối với hàng nhập khẩu
sau khi một lượng hàng hoá cụ thể thuộc loại đó đã được nhập khẩu vào Mỹ

§Ò ¸n m«n häc
trong cùng năm đó. Hầu hết các đối tác thương mại của Mỹ đều được hưởng
quy chế đối xử thương mại bình thường(NTR). Hàng hoá của các nước
thuộc diện NTR khi xuất khẩu vào Mỹ chỉ phải chịu mức thuế thấp hơn
nhiều so với hàng hoá của các nước không có NTR của Mỹ. Khi có sự điều
chỉnh giảm hay huỷ bỏ một loại thuế quan nào đó thì sự thay đổi đó sẽ được
áp dụng bình đẳng đối với tất cả các nước được hưởng NTR của Mỹ. Hiện
nay, các nước tham gia WTO đều được hưởng NTR của Mỹ. Các nước đang
được hưởng NTR của Mỹ phải đáp ứng hai điều kiện cơ bản: đã ký hiệp
định thương mại song phương với Mỹ và phải tuân thủ các điều kiện
Jacson-Vanik trong luật thuơng mại năm 1974 của Mỹ.
Hơn nữa, tính cạnh tranh trên thị trường Mỹ rất cao, nhiều nước trên
thế giới có lợi thế tương tự như Việt Nam cũng đều coi thị trường Mỹ là thị
trường chiến lược trong hoạt động xuất khẩu thuỷ sản cũng như những hàng
hoá khác. Ta bước vào thị trường Mỹ chậm hơn so với các đối thủ, khi mà
thị trường đã ổn định về: người mua, người bán, thói quen, sở thích, sản
phẩm_đây cũng được coi là thách đố đối với hoạt động xuất khẩu hàng hoá
nói chung, hàng thuỷ sản nói riêng của Việt Nam trên thị trường Mỹ.
3_ SỰ CẦN THIẾT PHẢI MỞ RỘNG THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU THUỶ
SẢN TẠI MỸ CỦA VIỆT NAM.
Thực tế cho thấy sản lượng tiêu thụ thuỷ sản trên thị trường thế giới
nói chung và thị trường Mỹ nói riêng ngày càng tăng, việc đó có nhiều
nguyên nhân, nhưng có hai nguyên nhân chính đó là gia tăng dân số và thu
nhập. Dự báo vào năm 2005 mức tiêu thụ thực phẩm trên trị trường thế giới
là 100 triệu tấn/năm( chưa kể đến thức ăn cho chăn nuôi là 25-30 triệu
tấn/năm) và tổng mức tiêu thụ thuỷ sản của thế giới là 125-135 triệu

khẩu của Việt Nam sang Mỹ tăng liên tục qua các năm. Năm 1998 lên tới 82
triệu USD và đưa Việt Nam lên vị trí thứ 19 trong các nước xuất khẩu thuỷ
sản vào Mỹ. Năm 1999 Mỹ nhập khẩu từ Việt Nam 130 triệu USD thủy sản
các loại, năm 2000 đạt 302,4 triệu USD và trong 6 tháng đầu năm 2001 xuất
khẩu thuỷ Việt Nam vẫn tiếp tục tăng trưởng đạt 31 nghìn tấn về khối lượng,

§Ò ¸n m«n häc
với giá trị 210,4 triệu USD. Hàng thuỷ sản xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ
chủ yếu là tôm đông lạnh. Mặt hàng xuất khẩu lớn thứ hai là cá ngừ tươi đạt
6,3 triệu USD trong 2 tháng đầu năm 2001 cũng tăng vượt bậc so với cùng
kỳ năm 2000 (chỉ có 1,5 triệu USD), cá biển đông lạnh có giá trị xuất khẩu
đứng thứ 3 với giá trị 2,5 triệu USD trong hai tháng đầu năm 2001, trong đó
cá ba sa philê đông lạnh là mặt hàng Việt Nam vẫn chiếm lĩnh thị trường
Mỹ với giá trị xuất khẩu 1,7 triệu USD. Mặt hàng cua biển cũng đạt mức
tăng trưởng cao trong xuất khẩu sang Mỹ( bao gồm cua sống, cua đông lạnh,
cua luộc, thịt cua đông) đạt giá trị xuất khẩu 1,8 triệu USD. Ngoài ra còn
một số mặt hàng thuỷ sản xuất khẩu khác cũng mang lại giá trị lớn cho
ngành xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam.
2_ THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU SẢN PHẨM THUỶ SẢN
CỦA VIỆT NAM SANG MỸ.
a_ Những thuận lợi.
Thực tế, việc xuất khẩu sản phẩm thuỷ sản của Việt Nam được diễn ra
trên nền tảng của rất nhiều điều kiện thuận lợi. Thuận lợi đầu tiên phải kể
đến đó là thuận lợi về điều kiện tự nhiên. Đặc điểm về mặt tự nhiên của
nước ta như đã nói ở trên đảm bảo cho nguồn tài nguyên hải sản rất phong
phú. Các vùng biển Việt Nam có năng lực tái sinh học cao của vùng sinh
thái nhiệt đới và môi trường biển còn tương đối sạch, do đó hải sản được
đánh giá là an toàn cho sức khoẻ_ một ưu điểm hàng đầu trên thị trường sản
phẩm thuỷ sản thế giới hiện nay.
Trong vùng biển đặc quyền kinh tế rộng khoảng 1 triệu km2 tổng trữ

những kết quả rõ nét: số tàu thuỷ sản tăng thêm là hơn 1,2 triệu
CV(163,36%), trong đó cơ cấu tàu có công suất lớn khai thác xa bờ đã tăng
lên rõ rệt, xây dựng được 27 cảng cá trong đó có nhiều cảng đã hoàn thành
và đưa lại hiệu quả cao. Về nuôi trồng thuỷ sản tính đến tháng 12/2000: diện
tích nuôi trồng thuỷ đã tăng lên hàng chục nghìn ha, chuyển đổi cơ bản diện
tích trồng lúa năng suất thấp và đất hoang hoá sang nuôi trồng thuỷ sản bước
đầu có hiệu quả .Về chế biến thuỷ sản, trong 5 năm đã tăng thêm 80 nhà

§Ò ¸n m«n häc
máy chế biến với công suất chế biến 300 tấn/ngày, đưa tổng số cơ sở chế
biến lên 266 cơ sở, trong đó 220 nhà máy có trang bị nhà xưởng hiện đại,
trang bị dây chuyền công nghệ cao, có 50 doanh nghiệp chế biến đủ tiêu
chuẩn xuất khẩu thuỷ sản vào EU, 77 doanh nghiệp xuất khẩu vào Bắc Mỹ.
Nhờ vậy, năm 2000, ngành thuỷ sản đã được những thành công lớn cả về
sản lượng, diện tích nuôi trồng và đặc biệt là giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt
mức kỷ lục 1,475 tỷ USD. Rõ ràng, đầu tư đã được chứng minh là có hiệu
quả.
Trong các nhân tố thuận lợi chúng ta phải kể đến nhân tố có tính chất
quan trọng bậc nhất, ảnh hưởng trực tiếp nhất đến quá trình xuất khẩu sản
phẩm thuỷ sản, đó là nhân tố chủ trương và đường lối của Đảng, Nhà nước.
Chính phủ Việt Nam đã ra rất nhiều những quyết định, chính sách nhằm
thúc đẩy ngành xuất khẩu thuỷ hải sản. Có thể đơn cử một số quyết định như
sau:
_Nghị định số 13/CP ra ngày 2/3/1993 đã khơi dậy tiềm năng của cả
nước về phát triển lĩnh vực thuỷ sản đặc biệt là hướng về xuất khẩu.
_Quyết định số 400/TTg ra ngày 7/8/93 cho phép miễn thuế tài
nguyên, thuế doanh thu và thuế lợi tức, hoàn thuế xuất khẩu trong 3 năm đối
với hoạt động đánh bắt thuỷ hải sản xa bờ.
_ Quyết định 428/TTg ra ngày 7/8/95 về đầu tư “ Khôi phục và hoàn
thiện cơ sở hạ tầng nghề cá” bao gồm việc xây dựng các cảng cá, cho vay

ngành thuỷ sản nói riêng của Việt nam đã được nâng lên đáng kể sau 10
năm thực hiện chính sách mở cửa hội nhập: trình độ tay nghề công nhân,
trang thiết bị, máy móc đã được nâng lên đáng kể, nhiều sản phẩm có chất
lượng cao đã đáp ứng được yêu cầu thị trường trong đó có thị trường Mỹ.
Sự tăng trưởng của xuất khẩu thuỷ sản sang thị trường Mỹ gắn liền với
sự tiến bộ trong quan hệ hợp tác kinh tế giữa Việt Nam –Hoa Kỳ, đặc biệt
sau khi hiệp định thương mại Việt-Mỹ được ký vào ngày 13/7/2000. Sự kiện
này mở ra những cơ hội kinh doanh mới, nhất là sau khi hiệp định được
thông qua bởi hai nhà nước Việt Nam –Hoa Kỳ. Đối với Việt Nam và các

§Ò ¸n m«n häc
nước xuất khẩu thuỷ sản khác, thì thị trường Mỹ là thị trường nhập khẩu
thuỷ sản lớn thứ hai trên thế giới và cũng là thi trường tiêu thụ đa dạng về
mặt hàng, giá trị và chất lượng. Ngay sau khi hiệp định song phương có hiệu
lực, quy chế tối huệ quốc( MFN ) trong thương mại hàng hoá đã tạo điều
kiện thuận lợi cho hàng thuỷ sản Việt Nam vao thị trường đầy hấp dẫn này
với sự ưu đãi về mức thuế nhập khẩu MFN, chẳng hạn đối với thịt cua thuế
suất MFN là 7,5%,phi MFN là 15%; ốc: thuế suất tương ứng là 5% và 20%;
cá philê tươi và đông: 0%và 0-5,5% cent/kg; cá khô 4-7% và25-30%
Hiệp định thương mại Việt –Mỹ khuyến khích việc tổ chức xúc tiến
hoạt động thương mại giữa hai nước như: hội chợ, triển lãm, trao đổi thương
mại tại lãnh thổ hai nước, cho phép các công dân, công ty hai nước quảng
cáo sản phẩm, dịch vụ bằng cách thoả thuận trực tiếp với các tổ chức thông
tin quản cáo bao gồm: truyền hình, phát thanh , đơn vị kinh doanh in ấn và
bảng hiệu. Mỗi bên cũng cho liên hệ và cho bán trực tiếp hàng hoá dịch vụ
giữa công dân, công ty của bên kia tới người sử dụng cuối cùng. Đây là cơ
hội cho cả doanh nghiệp Việt Nam và Mỹ có diều kiện tìm hiểu sâu về thị
trường của nhau để mở rộng buôn bán giữa hai nước.
Hiệp định thương mại Việt –Mỹ khẳng định cơ chế chính sách mới của
Việt Nam, đánh dấu bước ngoặc trong quan hệ Việt Nam –Hoa Kỳ. Việc

phát triển hơn. Đó là những điều kiện rất thuận lợi mà hiệp định thương mại
Việt – Mỹ mang lại cho chúng ta.
Những điều kiện thuận lợi như đã phân tích ở trên, ngành xuất khẩu sản
phẩm thuỷ sản đã đạt được những thành tựu to lớn. Từ năm 1996 đến năm
2000 ngành luôn hoàn thành kế hoạch nhà nước giao, năm sau cao hơn năm
trước và đạt được mức tăng trưởng cao (bình quân 9,17%/năm), giá trị kim
ngạch xuất khẩu bình quân tăng 21,85%/năm. Xuất khẩu thuỷ sản năm 2000
đạt 1,475 tỷ USD, bằng 1/10 tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước và vươn
lên đứng hàng thứ 3 trong các ngành xuất khẩu của Việt nam.
Sau năm năm 1996-2000 tổng mức đầu tư của ngành thuỷ sản là
9.185.640 triệu đồng trong đố đầu tư nước ngoài là 545 tỷ

§Ò ¸n m«n häc
đồng( chiếm5,93%). Trong hơn 9 nghìn tỷ đồng được huy động để đầu tư
phát triển, ngành chủ yếu vận dụng nội lực là chủ yếu, vốn đầu tư trong
nước là hơn 8600 triệu đồng chiếm tới 90,07% tổng mức đầu tư. Để có được
nguồn vốn ngân sách thì ngành đã có biện pháp huy động nguồn vồn trong
dân đạt 1700 tỷ đồng ( chiếm tỷ trọng 18,62%).
Trong giai đoạn 1999-2000, ngành thuỷ sản của nước ta sẽ phấn đấu
đưa tỷ trọng của ngành trong GDP lên 2,5-3% và đảm bảo tốc độ tăng tổng
sản lượng bình quân của ngành lên 4,5-5,1%/năm, trong đó khai thác hải sản
tăng 1,7%/năm và nuôi trồng thuỷ sản tăng 8,5%/năm. Đến năm 2010 tỷ
trọng nuôi trồng thuỷ sản trong tổng sản lượng của ngành cần đạt 50%.
Đồng thời phấn đấu đưa tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản lên tốc
độ trung bình là 15-20%/năm, tốc độ tăng việc làm trong nghề cá lên trung
bình là 2,65%/năm trong cả thời kỳ 1999-2010 . Mục tiêu lớn nhất đưa tổng
sản lượng thuỷ sản đạt từ 1,8-1,9 triệu tấn vào năm 2005. Đạt được những
thành tựu đó nhờ có sự quan tâm của các cấp lãnh đạo Đảng và Nhà nước,
sự phối hợp giúp đỡ của các bộ ban ngành ở trung ương, các cấp chính
quyền ở địa phương, có sự nỗ lực chung của các cán bộ công nhân viên

thức rất lớn đối với nhà hoạch định chiến lược của Việt Nam.
Thị trường Mỹ tuy rộng lớn nhưng chúng ta chưa mở rộng được quy
mô, nguyên nhân ở đây có thể là chúng ta yếu kém về khâu tổ chức bán
hàng, marketing sản phẩm, do chất lượng hàng hoá chưa bằng một số đối
thủ cạch tranh ở một khía cạnh nào đó, cũng có thể do nguyên nhân khách
quan xuất phát từ thị trường Mỹ.
Một khó khăn mà chúng ta còn gặp phải đó là vấn đề về chất lượng và độ an
toàn, vệ sinh thực phẩm. Mặc dù cơ quan FDA của Mỹ đã công nhận hệ
thống HACCP của VIệt Nam, nhưng chất lượng sản phẩm thuỷ sản xuất
khẩu của Việt Nam còn hạn chế do trình độ công nghệ chế biến và bảo quản
còn thấp, chủ yếu là công nghệ đông lạnh.
Bên cạnh đó trong lĩnh vực tiếp thị, mặc dù đã có trên 50 doanh
nghiệp Việt Nam đang xuất khẩu thuỷ sản sang Mỹ nhưng hầu như chưa có

§Ò ¸n m«n häc
doanh nghiệp nào mở được văn phòng dại diện tại nước Mỹ. Do vậy các
doanh nghiệp Việt Nam ít có cơ hội giao thương với những nhà phân phối
Mỹ, nhất là tìm hiểu các luật chơi của thị trường này.Đó là một thiệt thòi mà
chúng ta cần phải cố gắng khắc phục.
Trong khâu chế biến, công nghệ chế biến thuỷ sản nhập từ nước ngoài
vừa cũ vừa lạc hậu, do đó không đảm bảo được chất lượng sản phẩm phục
vụ cho việc xuất khẩu. Việt Nam được ví như bãi thải công nghiệp, nên
ngành thuỷ sản cũng không tránh khỏi sự lạc hậu, sự cũ kỹ về công nghệ.
Như vậy muốn có sản phẩm chế biến từ thuỷ sản đủ tiêu chuẩn chất lượng
cho xuât khẩu, chúng ta phải có được công nghệ tiên tiến , vậy để có công
nghệ tiên tiến thì phải có lượng vốn lớn, khó khăn về vốn có thể là ngọn
ngành của mọi vấn đề. Giải quyết về vốn là bài toán khó đối với mọi quốc
gia, đặc biệt là đối với nước nghèo, nước đang phát triển như Việt nam hiện
nay. Vốn có thể được huy động từ hai nguồn: Thứ nhất, huy động trong
nước , chủ yếu là trong dân và ngân sách nhà nước, nhưng trong đó ngân

tới 0%. Hiện nay có hơn 100 nước xuất khẩu đủ các mặt hàng thuỷ sản vào
Mỹ, trong đó có nhiều nước có truyền thống lâu đời trong buôn bán thuỷ sản
với Mỹ như Thái Lan(tôm sú đông, đồ hộp thuỷ sản ), Trung Quốc(tôm
đông cá rô phi ), Canađa(tôm hùm, cua ), Inđônêsia (cua ,cá ngừ, cá rô
phi ), Philippin(hộp cá ngừ,cá ngừ tươi đông, tôm đông và rong
biển ) nên sự cạnh trên thị trường sẽ ngày càng quyết liệt đặc biệt đối với
một số mặt hàng chủ lực như tôm, cá philê, cá ngừ. Trong hơn 100 mặt hàng
thuỷ sản thực phẩm nhập khẩu, Mỹ có nhu cấu cao về các mặt hàng đã qua
tinh chế( tôm luộc, tôm bao bột, tôm hùm, cá phi lê, hộp thuỷ sản) trong khi
đó hàng xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là sơ chế, tỷ lệ sản phẩm giá trị gia
tăng thấp (chỉ chiếm khoảng 30% giá trị xuât khẩu của Việt Nam). Cụ thể
với mặt hàng cá ngừ, hiện nay Việt Nam mới chỉ xuất khẩu phần lớn cá ngừ
tươi hoặc đông vào Mỹ(90% giá trị xuất khẩu cá ngừ) trong khi cá ngừ đóng
hộp là mặt hàng được tiêu thụ nhiều ở Mỹ thì giá trị xuất khẩu của Việt Nam
lại không đáng kể( 5%). Mỹ coi trọng cả nhập khẩu thuỷ sản phi thực phẩm

§Ò ¸n m«n häc
bao gồm các sản phẩm hoá học gốc thuỷ sản: ngọc trai, cá cảnh (giá trị
nhập khẩu năm 2000 đạt 9 tỷ USD, chỉ kém hàng thuỷ sản thực phẩm 1 tỷ
USD) nhưng ta chỉ mới trú trọng đến xuất khẩu thuỷ sản thực phẩm. Vì vậy
có thể nói chưa có sự phù hợp cao trong việc xuất khẩu hàng thuỷ sản Việt
Nam với yêu cầu nhập khẩu của thị trường Mỹ.
Trên đây là một số những thuận lợi và khó khăn trong việc xuất khẩu
hàng thuỷ sản của Việt Nam sang thị trường Mỹ. Chúng ta cần phải khai
thác triệt để những thuận lợi và hạn chế, khắc phục những khó khăn nhằm
mục đích cuối cùng là tạo cho mặt hàng thuỷ sản Việt Nam một vị thế chắc
chắn trên thị trường Mỹ.
III_ CÁC GIẢI PHÁP KINH TẾ CHỦ YẾU NHẰM MỞ RỘNG THỊ
TRƯỜNG XUẤT KHẨU SẢN PHẨM THUỶ SẢN CỦA VIỆT NAM
SANG THỊ TRƯỜNG MỸ.

chẳng những không xuất khẩu được mà còn mất uy tín trên thị trường về
nhãn hiệu Việt Nam. Thuỷ sản Việt Nam vào được thị trường Mỹ đã khó lại
còn phải cạnh tranh để tồn tại lại càng khó hơn. Các đối thủ cạnh tranh có
lợi thế hơn ta rất nhiều về: chất lượng , giá cả , mẫu mã Điều đó đòi hỏi các
doanh nghiệp phải giảm thiểu chi phí đầu vào.
Trong chiến lược sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Đào tạo
phát triển nhuồn nhân lực phải đặt nên hàng đầu, nó phải được coi là yếu tố
đầu tiên quyết định thành công hay thất bại của mỗi tổ chức, mỗi doanh
nghiệp. Để nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật của đội ngũ nhân viên,
ngoài những việc đào tạo trực tiếp trong nước đối với công nhân, còn đội
ngũ lao động cao cấp ta có thể gửi đi nước ngoài học tập và nghiên cứu, đây
chính là điều cần làm đối với mỗi doanh nghiệp. Xu hướng toàn cầu hoá,
khu vực hoá đồi hỏi chúng ta không thể tách rời, phát triển độc lập mà luôn
luôn hội nhập cùng phát triển. Xu hướng này tạo cho chúng ta những trình
độ khoa học công nghệ từ nước ngoài, được học hỏi kỹ năng kinh nghiệm
phát triển trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, góp phần thực hiện tốt phân
công lao động xã hội.

§Ò ¸n m«n häc
Việt Nam cần đẩy mạnh hợp tác quốc tế để tranh thủ sự hợp tác và
giúp đỡ về vốn, công nghệ trong các lĩnh vực khai thác, nuôi trồng, chế biến
thuỷ sản, đào tạo và chuyển giao kinh nghiệm quản lý và phát triển thị
trường Công tác Marketing quốc tế cho lĩnh vực thuỷ sản luôn cần có sự
tham gia tích cực của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ thương
mại, Bộ ngoại giao như tổ chức và tham gia các hội chợ thương mại về thuỷ
sản tại Việt Nam hay tại các thị trường tiềm năng , trong đó có thị trường
Mỹ.
* Xây dựng thương hiệu riêng cho sản phẩm thuỷ sản của Việt Nam.
Thực tế cho thấy rằng sản phẩm thuỷ sản của Việt Nam xuất khẩu vào thị
trường Mỹ với khối lượng lớn, chất lượng đã qua kiểm dịch thế nhưng lại

lạnh. Bên cạnh đó chúng ta nên chú trọng và đẩy mạnh xuất khẩu những mặt
hàng thuỷ sản khác cũng có giá trị kinh tế cao như cua, mực, sò Chúng ta
cần phải có những kế hoạch cụ thể để phát huy hơn nữa thế mạnh này.
* Chính sách của Nhà nước: Nhà nước phải có chính sách khuyến
khích để mở rộng xuất khẩu thuỷ sản vào thị trường Mỹ. Để đạt được mục
tiêu mở rộng thị phần, đem lại nguồn thu lớn hơn nữa trong việc xuât khẩu
thuỷ sản, Nhà nước và Bộ thuỷ sản cần có chính sách giải pháp kịp thời,
hiệu quả để tăng nguồn lợi thuỷ sản. Trước hết phải ban hành luật bảo vệ
nguồn lợi thuỷ sản của Việt Nam, hỗ trợ vốn và kỹ thuật nuôi trồng thuỷ
hải sản cho nhân dân, phát triển lực lượng khai thác thuỷ sản xa bờ. Tập
trung vốn và các khoản việ trợ ODA để nâng cấp cơ sở hạ tầng nghế cá, đặc
biệt ở những vùng cung cấp nguyên liệu chủ yếu. Nhà nước phải ban hành
chính sách nhập khẩu nguyên liệu theo hướng miễn thuế nhập khẩu nguyên
liệu thuỷ sản, miễn giảm thuế xuất khẩu đối với hàng thuỷ sản chế biến bằng
nguyên liệu nhập từ nước ngoài. Quy hoạch và quản lý thống nhất hệ thống
chế biến thỷ sản: giao việc cấp giấy phép đầu tư, xây dựng mới và nâng cấp
nhà máy chế biến thuỷ sản cho một đầu mối duy nhất là Bộ thuỷ sản, chuyển
việc đầu tư theo lĩnh vực kỹ thuật là chính sang đầu tư theo bốn chương
trình mục tiêu đã xây dựng trong chiến lược xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam.

§Ò ¸n m«n häc
Nhà nước cần thực hiện chính sách ưu đãi để khuyến khích các doanh
nghiệp thuỷ sản mở rộng quy mô sản xuất và thị trường kinh doanh. Thực
hiện chế độ ưu đãi cho vay vốn hoặc cho giữ lại vốn khấu hao để khuyến
khích các doanh nghiệp tái đầu tư, cho trích một phần thuế xuất khẩu để cho
các doanh nghiệp đổi mới công nghệ sản xuất sản phẩm với giá trị ngày
càng tăng. Thành lập cơ quan thông tin tiếp thị thuỷ sản, cho phép ngành
thủy sản trích một phần nào đó trong thuế xuất khẩu để thành lập quỹ xuất
khẩu thuỷ sản.
Chúng ta cần thấy rằng do đặc diểm sản phẩm của hàng thuỷ sản là


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status