LỜI NÓI ĐẦU
Chè là loại cây công nghiệp dài ngày, có đời sống kinh tế kéo dài từ 30
đến 40 năm, rất phù hợp với vùng đất đai rộng lớn của miền núi , trung du và
cao nguyên. Cây chè cần số lao động sống tương đối nhiều do vậy việc phát
triển cây chè ở trung du miền núi là biện pháp có hiệu quả để sử dụng và điều
hoà nguồn lao động dồi dào của nước ta, đồng thời góp phần tích cực vào việc
xoá đói giảm nghèo cho đồng bào vùng sâu vùng xa. Mặt khác nước chè là
một loại nước uống bảo vệ sức khoẻ lý tưởng ngày nay, tiêu dùng rất phổ biến
và hơn 100 nước trên thế giới ưa chuộng. Trong các loại cây công nghiệp dài
ngày, cây chè đã từng bước khẳng định vị trí của mình không chỉ bằng việc
thoả mãn nhu cầu tiêu dùng trong nước mà còn là một mặt hàng xuất khẩu
quan trọng. Chè có vị trí quan trọng như vậy cho nên ở Việt Nam nói chung,
Nghệ An nói riêng luôn tìm mọi biện pháp để tận dụng ưu thế của mình để
phát triển sản xuất chè. Tuy nhiên vấn đề tiêu thụ vấn đè tiêu thụ vẫn là một
bài toán khó. Công ty Đầu tư phát triển chè Nghệ An là một doanh nghiệp
chuyên sản xuất kinh doanh chè , sản phẩm của công ty được tiêu thụ chủ yếu
thông qua xuất khẩu. những năm qua công ty đã kinh doanh có hiệu quả, tạo
dựng được uy tín trên thị trường quốc tế. Tuy nhiên sự cạnh tranh gay gắt trên
thị trường chè thế giới, sự biến động của một số thị trường truyền thống đã
ảnh hưởng lớn đến việc xuất khẩu của công ty. Do vậy vấn đè mở rộng thị
trường xuất khẩu ở Công ty Đầu tư phát triển chè Nghệ An là rất cần thiết và
cấp bách. Để làm được điều đó đòi hỏi phải thực hiện đồng bộ các giải pháp
từ khâu sản xuất, chế biến cho đến tiêu thụ. Nhận thức được tầm quan trọng
của vấn đề và được sự hướng dẫn của thầy giáo TS Trần Quốc Khánh cùng sự
giúp đỡ của các cô chú ở Công ty Đầu tư phát triển chè Nghệ An em tiến hành
nghiên cứu đề tài: “ một số giải pháp chủ yếu nhằm mở rộng thị trường xuất
khẩu chè ở Công ty Đầu tư phát triển chè Nghệ An “.
Mục tiêu của đề tài là làm rõ vị trí, vai trò của sản xuất và xuất khẩu
chè, phân tích thực trạng sản xuất, chế biến và xuất khẩu chè ở Công ty Đầu
tư phát triển chè Nghệ An những năm qua từ đó đề tài trình bày các quan
điểm và mục tiêu phát triển sản xuất chè và một số giải pháp nhằm mở rộng
tamin có tác dụng giải khát, gây cảm giác hưng phấn và kích thích tiêu hoá.
Do có tác dụng lớn như vậy chè đã được dùng như một thứ đồ uống từ
hàng nghìn năm nay. Vào thế kỹ thứ 7 chè đã trở thành một thứ đồ uống dân
tộc ở Trung Quốc, từ đó được đưa sang Nhật và nhiều nước khác ở Châu á,
Châu Âu, Châu mỹ, Châu Phi. Hơn 100 nước trên thế giới uống chè nhưng
Châu á sản xuất chiếm 90% sản lượng chè Thế giới còn Châu Âu tiêu thụ trên
55% sản lượng chè Thế giới.
Ở nước ta chè là loại đồ uống được ưa chuộng từ lâu đời và đến nay
uống chè đã trở thành tập quán không thể thiếu được. Mặc dù có nhiều loại đồ
uống đã được du nhập vào thị trường trong nước, song chè vẫn được ưa
chuộng và đứng vững trên thị trường.
2. sản xuất chè mang lại nguồn lợi lớn.
chè là một loại sản phẩm xuất khẩu chủ lực của nhiều nước Châu á. Hiện nay
chè là một trong những cây công nghiệp cho hiệu quả kinh tế cao, do vậy khối
lượng xuất khẩu chè trên thế giới lớn. Vì thế các quốc gia luôn tìm mọi cách
để đáp ứng nhu cầu đó. Trên thế giới tổng giá trị bán buôn bán lẻ đạt từ 3- 4
tỷ USD/năm.
Sản xuất chè ở nước ta mang lại nguồn thu nhập quan trọng, góp phần
cho sự nghiệp CNH – HĐH đồng thời đóng góp cho ngân sách hàng tỷ đồng.
3. Sản xuất chè góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Ngành chè bao gồm cả nông nghiệp và công nghiệp, hàng năm ngành
nông nghiệp cung cấp chè tươi cho công nghiệp chế biến chè. Nó đã góp phần
vào phương hướng chung là chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ
trọng cuả công nghiệp so với sản xuất nông nghiệp. Đồng thời sẽ hình thành
nên những vùng chuyên canh cây chè mang lại hiệu quả kinh tế cao.
4.Sản xuất chè vừa giải quyết việc làm vừa mang lại thu nhập cao cho
người trồng chè.
Trong tình trạng dư thừa lao động như hiện nay việc tạo việc làm là rất khó
khăn nhưng trong sản xuất chè đã sử sụng có hiệu quả lao động rất lớn. ậ
nước ta với hơn 7 vạn ha cần khoảng 15 vàn lao động, trong tương lai diện
trồng khác trong cùng điều sản xuất thì cho kết quả:
Sắn chè Cây ăn quả
33,0 41,0 37,0
Như vậy chè đạt hiệu quả kinh tế cao nhất trong các loại cây đó.
Về sản xuất chè: một ha chè với năng suất 4-5tấn búp/năm tương
đương 5-6ha lúa hai vụ (năng suất 5-6 tấn/ha) và xuất khẩu trung bình đạt
1500-2000USD/tấn.
- Chè là loại cây trồng có thời gian (thời vụ) thu hoạch dài và tương đối
rải đều trong nhiều tháng (9 tháng). Vì:
Sản phẩm thu hoạch của chè là búp tươi (1 tôm 2 lá) nên sau một thời
gian ngắn chè lại trồi ra những mầm non, qua khâu chăm sóc sẽ cho thu hoạch
vụ tiếp. Chè là loại cây trưởng thành mạnh ở vùng trung du miền núi, chống
chịu tốt với thời tiết, nên tính mùa vụ trong sản xuất chè không cao như
những ngành sản xuất khác trong nông nghiệp mà nó rải đều trong nhiều
4
tháng của năm. Đây là một đặc điểm giúp cho người lao động tránh tình trạng
bán thất nghiệp phổ biến trong sản xuất nông nghiệp.
- Chè cần lượng vốn đầu tư lớn, suất đầu tư cho 1ha khá cao. Đầu tư
ban đầu cho 1ha chè trồng mới rất cao khoảng 15-20 triệu đồng nhưng sau 2-3
năm mới cho sản phẩm và ước tính khoảng 12 năm mới hoà vốn. Vốn đầu tư
xây dựng cơ bản lớn là thế và các năm tiếp theo trong quá trình kinh doanh
khai thác sản phẩm cần có đầu tư thêm như công lao động, phân bón, thuốc
trừ sâu… Do vậy phải tranh thủ huy động, tận dụng các nguồn vốn.
2. Đặc điểm kỹ thuật.
Chè là loại cây trồng phù hợp với vùng trung du và miền núi, là loại cây
á nhiệt đới rất thích hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng ở nước ta nói
chung và Ngệ An nói riêng.
+ Thời tiết khí hậu:
- nhiệt độ: nhiệt độ bình quân hàng năm thích hợp với cây chè là từ 18-
23
quá trính phát triển kinh tế. các quốc gia cũng như các công ty không thể tồn
tại riêng rẽ mà phải có mối quan hệ kinh tế ràng buộc lẫn nhau. Mỗi quốc gia
đều có nguồn lực và khả năng sản xuất giới hạn. Trao đổi buôn bán quốc tế
cho phép các quốc gia mở rộng khả năng tiêu dùng vượt quá đường giới hạn
5
khả năng sản xuất, vấn đề đặt ra cho mỗi quốc gia là phải chọn mặt hàng,
phân bổ nguồn lực một cách hợp lý để sử dụng một cách tốt nhất, tiết kiệm và
có hiệu quả nhất các nguồn lực sẳn có. Để giải quyết vấn đề này, các nhà kinh
tế học đã đưa ra nhièu lý thuyết tiêu biểu như lý thuyết tuyệt đối của A.Smith,
lý thuyết về lợi thế tương đối của D.Rcardo… các lý thuyết này đã vách ra
các cơ sở lý luận cơ bản cho đến nay vẫn được coi là nền tảng của thương mại
quốc tế.
Giả sử hai nước A và B cùng chi ra 200 giờ lao động để sản xuất mỗi
loại sản phẩm gạo hoặc than có kết quả như sau:
Nước A sản xuất được 100 tấn gạo hoặc 200 tấn than.
Nước B sản xuất được 80 tấn gạo hoặc 400 tấn than.
Nếu không có giao thương quốc tế thì sức sản xuất chung của hai nước
A và B là 180 tấn gạo hoặc 600 tấn than. Nếu có giao thương quốc tế nước A
sẽ chuyên môn hoá sản xuất gạo còn nước B sẽ chuyên môn hoá sản xuất
than, lúc đó sức sản xuất chung của hai nước là 200 tấn gạo hoặc 800 tấn
than. Sở dĩ như vậy là do nước A có lợi thế tuyệt đối về sản xuất gạo còn
nước B có lợi thế tuyệt đối về sản xuất than. Như vậy trao đổi trên cơ sở
chuyên môn hoá theo lợi thế tuyệt đối đã làm tăng sản xuất chung của xã hội.
Đó là cơ sở kinh tế để có thể tăng thêm lợi ích của các tác nhân tham gia vào
quá trình giao thương quốc tế mà không cần có sự tước đoạt lẫn nhau như
trường phái chủ nghĩa trọng thương đã khẳng định.
Như vậy, nếu một nước không có lợi thế tuyệt đối về sản xuất mặt hàng
nào thì không thể tham gia vào ngoại thương quốc tế. Theo D.Ricardo thì
không phải như vậy, ông đã đưa ra lý thuyết về lợi thế so sánh để giải quyết
vấn đề này.
dụng nhiều yếu tố sản xuất được ưu đãi hơn so với nước khác. Chính sự ưu
đãi tự nhiên của các yếu tố sản xuất này đã khiến một số nước có chi phí cơ
hội thấp hơn khi sản xuất những sản phẩm hàng hoá đó.
Lý thuyết này còn được các nhà kinh tế học khác như Wolfgang
Stolper,Paul, A.Samuelsen, Jame William… tiếp tục nghiên cứu mở rộng và
phát triển hơn để khẳng định những tư tưởng khoa học và có giá trị thực tiẽn
to lớn của nó. Tuy nhiên còn nhiều hạn chế về lí luận trước thực tiễn phát
triển phức tạp của hoạt động thương mại quốc tế ngày này, song các lý thuyết
về lợi thế vẫn còn đang là quy luật chi phối động thái phát triển của thương
mại quốc tế… với xu hướng thương mại hoá, quốc tế hoá các quốc gia đều
mở rộng quan hệ buôn bán và trao đổi hàng hoá dịch vụ với nhau, nhằm phát
huy lợi thế so sánh của mình về các nguồn lực sản xuất vốn có để thu được lợi
ích thương mại cao nhất, trên cơ sở đó thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển
kinh tế đất nước.
2. Điều kiện vận dụng lý thuyết lợi thế so sánh.
Thuyết lợi thế so sánh có ý nghĩa hết sức thiết thực đối với sản xuất và
xuất khẩu. Để vận dụng được lý thuyết đó cần các điều kiện:
- Lợi thế so sánh được vận dụng trong điều kiện của ngoại thương vì vậy
đối với một nước muốn khai phá được lợi thế so sánh cần phải có nền sản
xuất hang hoá theo hướng xuất khẩu. Đây là điều kiện tiền đề đông thời là
điều kiện cơ bản của vận dụng nguyên lý về lợi thế so sánh.
- Lợi thế so sánh luôn gắn liền với các yêu cầu mang tính xã hội, trong
đó vai trò quản lý kinh tế của Nhà nước đóng vai trò quyết định. Vì vậy điều
kiện để vận dụng lý thuyết lợi thế so sánh là có cơ chế quản lý năng động, các
chính sách kinh tế mở tạo khả năng khai thác các tiềm năng tự nhiên tạo ra
sức mạnh cạnh tranh.
- Muốn khai thác được lợi thế so sánh cần phải đánh giá đầy đủ chúng,
muốn cần có các chuyên gia kinh tế sử dụng thành thạo các phương pháp
đánh giá gắn liền với các hoạt động kinh tế thị trường.
- Để đánh giá được lợi thế phải có hệ thống thông tin với mức độ tin cậy
0
-25
0
nên rất thích hợp với việc trồng chè hơn là
các loại cây khác. Hiện tại tỉnh đã quy hoạch thành các vùng chè sau (ha):
Biểu: Các vùng chè của tỉnh Nghệ An
Vùng Tổng số 2001 2002 2003 2004 2005
1.Vùng Bãi Phủ 825 985 1145 1305 1465 1625
2.Vùng Anh Sơn 677 867 1037 1217 1397 1577
3.Vùng Hạnh Lâm 1395 1595 1795 1995 2195 2395
4.Vùng Thanh Mai 971 1161 1351 1541 1731 1921
5. Vùng Ngọc Lâm 939 1139 1339 1539 1739 1939
6. 3-2+Xuân Thành 214 214 214 214 214 214
Tổng cộng 5021 5951 6881 7811 8741 9671
Nguồn: sở NN&PTNT tỉnh Nghệ An
- Điều kiện xã hội: toàn bộ diện tích chè của tỉnh chủ yếu tập trung ở
các huyện miền núi, vùng sâu, vùng xa nên việc trồng chè công nghiệp là phù
8
hợp với khả năng tài chính và kinh nghiệm sản xuất của nhân dân trên địa bàn
so với các loại cây trồng khác có yêu cầu cao hơn về vốn đầu tư cũng như kỹ
thuật canh tác và thực tế những năm qua đã chứng minh việc sản xuất – tiêu
thụ chè hoàn toàn ổn định hơn những cây công nghiệp khác ngoài ra cây chè
cũng đã tham gia vào việc phủ xanh đất trống đồi núi trọc bảo vệ môi trường
sinh thái.
- Phần lớn diện tích chè của tỉnh đều là giống che cành mới đưa vào
chu kỳ kinh doanh nên có nhiều hứa hẹn về năng suất sản lượng.
4.2. Lợi thế về điều kiện tự nhiên, khí hậu và sinh thái.
Nước ta có điều kiện tự nhiên, sinh thái khá đa dạng và phong phú. Cả
nước có 7 vùng sinh thái khác nhau, mỗi vùng có những đặc thù và lợi thế
vào hoạt động xuất nhập khẩu. Trong hoạt động xuất khẩu thì thị trường xuất
khẩu giữ vai trò rất quan trọng, đây là thị trường ngoài nước, việc mua bán và
9
trao đổi hàng hoá dịch vụ được thực hiện qua đường biên giới giữa các quốc
gia. Thị trường xuất khẩu hàng hoá được phân biệt với thị trường trong nước
ở tập hợp khách hàng tiềm năng: Đó chính là khách hàng nước ngoài họ có
những sở thích, thị hiếu và hành vi khác với khách hàng trong nước, nó có
những đặc điểm riêng:
- Nhu cầu về hàng hoá tại thị trường xuất khẩu rất lớn, rất phong phú và
đa dạng, có sự phân biệt rất rõ nét giữa các thi trường khác nhau đặc biệt là
các thị trường có trình độ phát triển kinh tế khác nhau.
- Thị trường xuất khẩu thường có rất nhiều nhà cung cấp bao gồm cả nhà
sản xuất cung ứng nội địa, và các công ty đa quốc gia, xuyên quốc gia và các
nhà xuất khẩu …vì vậy tính chất cạnh tranh trên thị trường này thường rất
lớn.
- Giá cả trên thị trường xuất khẩu thường được hình thành theo mức giá
quốc tế chung, trong các yếu tố cấu thành giá thì một phần không nhỏ là chi
phí vận chuyển, bốc dỡ, bảo quản; thuế quan… giá cả trên thị trường xuất
khẩu cũng dễ biến động hơn so với giá thị trường nội địa.
- Thị trường xuất khẩu thường chịu tác động của nhiều nhân tố như kinh
tế, chính trị, pháp luật, văn hoá… Do vậy mức độ rủi ro thường rất cao.
Có các hình thức xuất khẩu chủ yếu:
+ Xuất khẩu trực tiếp
+ Xuất khẩu uỷ thác
+ Xuất khẩu gia công uỷ thác
+ Buôn bán đối lưu
Ngoài ra còn có các hình thức xuất khẩu khác như: xuất khẩu tại chổ,
xuất khẩu gia công quốc tế, tái nhập tạm nhập, xuất khẩu theo định kỳ…
2. Vai trò của hoạt động xuất khẩu chè.
Xuất khẩu là một trong những nhân tố cơ bản để thúc đẩy sự tăng trưởng
- Tác động tích cực tới việc giải quyết công ăn việc làm, cải thiện đời
sống cho người lao động.
- Xuất khẩu tạo nguồn ngoại tệ cho nhập khẩu hàng tiêu dùng đáp ứng
nhu cầu ngày càng cao của nhân dân.
- Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các mối quan hệ kinh tế đối
ngoại, tín dụng quốc tế…phát triển theo.
Với nền kinh tế mở, các doanh nghiệp luôn có xu thế chung là vươn ra
thị trường thế giới, thông qua xuất khẩu các doanh nghiệp có cơ hội tham gia
vào cạnh tranh trên thị trường thế giới về chất lượng, về giá cả để từ đó điều
chỉnh sao cho phù hợp với xu thế chung của thế giới vừa đáp ứng được nhu
cầu đa dạng của người tiêu dùng.
Chè là một loại đồ uống rất dân dã và khá phổ biến ở một số nước trên
thế giới, thêm vào đó là tác dụng to lớn của nó nên số người sử dụng chè ngày
càng tăng. Nhưng không phải nước nào cũng có điều kiện để sản xuất chè, mà
phải nhập khẩu từ nước khác. ở Việt Nam nói chung, và ở Nghệ An nói riêng
thiên nhiên đã ưu đãi về khí hậu, đất đai, con người,…nên có điều kiện thuận
lợi để phát triển sản xuất chè, chè đã trở thành một mặt hàng xuất khẩu quan
trọng, có vai trò lớn lao như đã trình bày ở trên.
V- Những nhân tố ảnh hưởng tới khả năng xuất khẩu chè.
1- Thị trường.
Thị trường là một phạm trù kinh tế gắn liền với sản xuất và tiêu dùng ở đâu có
sản xuất, lưu thông hàng hoá thì ở đó có thị trường. Thị trường còn là mục
tiêu của nhà sản xuất kinh doanh vừa là môi trường hoạt động sản xuất kinh
doanh hàng hoá. Thị trường cũng là nơi chuyển tải các hoạt động sản xuất
kinh doanh, là cầu nối giữa người sản xuất và người tiêu dùng, đồng thời nó
phá vỡ ranh giới tự nhiên, tự cung, tự cấp để tạo thành sự thống nhất. Thị
trường còn có các chức năng sau:
- Chức năng thừa nhận.
11
Hàng hoá và dịch vụ có bán được hay không phải thông qua chức năng thừa
lực lượng cầu.
- Chức năng thực hiện.
Chức năng thực hiện của thị trường đòi hỏi hàng hoá và dịch vụ phải
được thực hiện giá trị trao đổi: hoặc bằng tiền, hoặc bằng hàng, bằng các
chứng từ có giá trị khác. Người bán hàng thu được tiền còn người mua thì
được hàng. Sự gặp gỡ giữa người bán và người mua được xác định bằng giá
hàng. Hàng hoá bán được tức là có sự dịch chuyển hàng hoá từ người bán
sang người mua. Hay nói cách khác là sự lưu thông hàng hoá thuần tuý.
Chức năng thực hiện của thị trường chỉ cho phép một lượng hàng hoá,
dịch vụ nhất định được tiêu thụ trên thị trường chứ không phải những gì sản
xuất ra. Chức năng này còn được thực hiện ở chỗ giá trị hang hoá trên thị
trường phải là giá trị xã hội. Giá cả hàng hoá được hình thành do quan hệ
12
cung-cầu và xoay quanh gia trị, nhờ đó hàng hoá được lưu thông. Chức năng
thực hiện của thị trường có liên quan chặt chẽ đến quá trình sản xuất kinh
doanh, chinhs nhờ đó mà doanh nghiệp có được các yếu tố đầu vào trong quá
trình sản xuất với các chi phí ban đầu, và có doanh thu từ bán các sản phẩm
đầu ra, thu lợi nhuận. Do đó doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển.
- Chức năng điều tiết.
Qua hành vi trao đổi hàng hoá và dịch vụ trên thị trường, thị trường
điều tiết và kích thích sản xuất, kinh doanh phát triển và ngược lại. Đối với
các doanh nghiệp, hàng hoá và dịch vụ bán nhanh sẽ kích thích doanh nghiệp
đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh, tăng cường hoạt động sản xuất, cải
tiến nâng cao hiệu quả máy móc, tạo nguồn hàng và thu mua hàng hoá để
ngày càng cung ứng nhiều hàng hoá hơn cho thị trường. Ngược lại, nếu hàng
hoá dịch vụ không bán được doanh nghiệp sẽ hạn chế sản xuất, hạn chế mua
hàng, phải tìm khách hàng mới, thị trường mới hoặc chuyển hướng kinh
doanh mặt hàng khác, lĩnh vực kinh doanh khác đang và có khả năng có
khách hàng và không để nạn thừa hàng hoá hoặc khan hiếm trên thị trường là
vấn đề lớn mà các nhà nghiên cứu thị trường phải đặc biệt quan tâm. Chức
quan tâm khi xuất khẩu chè.
3- Chất lượng chè xuất khẩu.
Chất lượng chè là một trong những yếu tố quyết định tới khả năng cạnh
tranh của chè trên thị trường, nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố: giống, kỹ thuật
canh tác, công nghệ chế biến, bảo quản…thực hiện đồng bộ những yêu cầu từ
khâu sản xuất đến lưu thông tốt sẽ cho ra sản phẩm chè có chất lượng xuất
khẩu cao.
4- Cơ chế chính sách đối với xuất khẩu.
Cơ chế quản lý, chính sách kinh tế và quan hệ đối ngoại là các yếu tố rất
nhạy cảm tác động trực tiếp tới nền kinh tế nói chung, xuất khẩu nói riêng.
Nếu chính sách phù hợp thì thúc đẩy xuất khẩu phát triển nếu không phù hợp
thì ngược lại. Chính sách đầu tư, vốn tín dụng, bảo hiểm và trợ giá tác động
mạnh tới khả năng xuất khẩu chè.
VI- Khái quát tình hình xuất khẩu chè thế giới và Việt Nam.
1- Tình hình tiêu thụ chè trên thế giới.
Năm 1998 là năm đầu tiên sản lượng chè toàn cầu vượt quá 2,9 triệu tấn.
Tuy nhiên sản lượng đã liên tục tăng trong những năm qua nhưng đây là sự
tăng trưởng cao nhất trong hơn hai thập kỷ qua ( tăng 8% so với năm 1997)
trong khi nhu cầu thị trường tăng đều 2-3%/ năm. Từ năm 1990 –2000 tốc độ
sản xuất tăng bình quân 2,9%/năm những nước có khối lượng chè xuất khẩu
lớn là: ấn Độ 945.000 tấn, Trung Quốc 650.000tấn, Srilanca 246.000 tấn,
Kênya 288.000 tấn, Indonexia 195.000 tấn. Theo dự báo của FAO đến năm
2005 giá chè tương đối ổn định song người tiêu dùng đòi hỏi ngày càng cao.
Biểu: Sản lượng chè nhập khẩu của một số nước hàng đầu thế giới.
Đơn vị: Tấn
Tên nước Năm
1999 2000 2001 BQ
United Kingdom 163.655 157.664 165.537 162.285
Russia 163.857 139.421 133.659 145.646
Pakistan 105.858 109.981 107.445 107.761
1999 165,01 179,51 201,37
2000 177,22 202,06 172,49
2001 161,01 154,21 160,01
2002 162,34 153,26 147,68
Nguồn: Tổng công ty chè Việt Nam.
2- Tình hình xuất khẩu chè ở Việt Nam.
Tình hình giá cả thị trường về chè trên thế giới trong vòng mấy chục
năm qua khá ổn định. Việt Nam hiện nay đã xuất đi trên 30 nước với hầu hết
là chè đen. Bạn hàng quen thuộc là Nga,IRẮC, các nước SNG, nay mở rộng
sang Trung Đông, Anh, Nhật Bản, Đài Loan, Mỹ. So với các nước sản xuất
chè trên thế giới thì Việt Nam là một nước sản xuất chè tuy không lớn những
cũng là một nguồn cung cấp chè khá dồi dào cho thị trường chè thế giới với
sản lượng từ 34.000-36.000 tấn /năm. Ngoài việc xuất khẩu qua tổng công ty
chè Việt Nam các doanh nghiệp chè ở các tỉnh có thể xuất khẩu trực tiếp.
Những năm gần đây, một số mặt hàng nông sản của Việt Nam giảm về số
lượng lẫn kim ngạch xuất khẩu thì chè vẫn là một mặt hàng có mức tăng
trưởng khá, lượng xuất khẩu hàng năm luôn tăng. Năm 2000 xuất khẩu đạt
55.660 tấn với kim ngạch 69,604 triệu USD tăng 52,7% so với năm 1999.
Năm 2000 việc xuất khẩu vào thị trường Nga giảm do chưa giải quyết
được việc thanh toán. Đã có một số doanh nghiệp xuất chè đi Nga những chủ
15
yếu là đổi hàng. Hiện nay việc xuất khẩu chè trong các chương trình trcủa nhà
nước không còn nữa. Để tiêu thụ chè cho cả nước tổng công ty chè Việt Nam
đã tích cực tìm kiếm thị trường, tham gia các đợt đấu thầu cung cấp chè cho
Irắc do liên hiệp quốc tổ chức, cố gắng tìm mọi biện pháp để thắng thầu. Do
đó Việt Nam đã phải chấp nhận điều kiện ngặt ngèo do phía Irắc và liên hiệp
quốc đưa ra là giao hàng đến tận kho người mua ở các tỉnh của Irắc mới được
ngân hàng của liên hiệp quốc thanh toán tiền hàng. Việc đó đã gây ra chậm trễ
trong khâu thanh toán tiền chè xuất khẩu uỷ thác năm 2000 kéo dài tới 5-6
tháng làm tăng lãi ngân hàng của 1 tấn chè gần 1 triệu đồng
1- Đất đai.
Đối với Công ty đầu tư và phát triển chè Nghệ An thực hiện sản xuất khép kín
từ A- Z nên đất đai là 1 yếu tố vô cùng quan trọng. Qua tìm hiểu về tình hình
phân bổ và sử dụng đất ta thấy: Tổng diện tích không thay đổi là 11.223 ha.
Nhìn chung ngoài hai loại đất nông nghiệp và đất có khả năng nông nghiệp
có sự biến động rõ nét, còn lại không thay đổi. Diện tích đất lâm nghiệp của
công ty chiếm tỷ trọng lớn 42,72% còn diện tích đất nông nghiệp có sự biến
động từ 1958 ha năm 2000 lên 2526 ha năm 2002, tỷ trọng cây hàng năm
giảm từ 35,51% năm 2000 xuống 24,43% năm 2002 còn tỷ trọng cây nông
nghiệp lâu năm ( chè) thì tăng từ 62,61% năm 2000 lên 71,10% năm 2002. Và
18
Ban Giám Đốc
Phòng
KH&ĐT
Phòng tổ
chức-h nh à
chính
Phòng kế
toán-t i và ụ
Phòng
QTCN-KCS
Phòng kinh
doanh-
XNK
Xí
nghiệp
chè
Bãi
Phủ
Xí
nguyên
liệu
Vùng
nguyên
liệu
Vùng
nguyên
liệu
Vùng
nguyên
liệu
điều đáng chú ý là diện tích chè trồng mới ngày càng tăng cả số tương đối lẫn
tuyệt đối.
2- Lao động.
Chè là loại cây trồng đòi hỏi lực lượng lao động dồi dào, cần bỏ ra nhiều thời
gian, nhất là quá trình chăm sóc, thu hái vì vậy đội ngũ công nhân của công ty
rất đông. Tình hình sử dụng lao động ở công ty như sau:
Biểu 2 : Tình hình sử dụng lao động của Công ty đầu tư và phát triển chè
Nghệ An.
Đơn vị: người.
Chỉ tiêu 2000
2001 2002
Tốc độ phát triển
01/00 02/01 BQ
* Tổng số lao động.
1. Phân theo trình độ.
- Trên đại học
- Đại học.
- Trung cấp.
332
1123
152
83,05
-
94,00
86,67
82,24
82,04
69,65
85,73
93,71
117,13
-
110,64
123,08
116,94
117,53
137,76
112,64
113,43
98,63
-
110,98
103,28
98,07
98,19
97,95
98,27
103,10
2000 2001 2002 01/00 02/01 BQ
1. Sản lượng chè tươi Tấn 3980 3542 5207 88,99 147,01 114,38
- Tự sản xuất Tấn 3630 3296 4252 90,80 129,00 108,23
2. Sản lượng chè khô Tấn 1342 1861 2220 138,67 119,29 128,62
-Mua ngoài Tấn 458 1071 1009 233,84 94,21 148,43
3. Số lượng tiêu thụ Tấn 1742 2331 2910 133,81 124,84 129,25
-Xuất khẩu Tấn 1571 2239 2500 142,52 111,66 126,15
- Nội tiêu Tấn 171 92 410 53,80 445,65 154,84
4. Năng suất bình quân Tấn/ha/
năm
5,0 5,3 5,9 106,00 111,32 108,66
20
Qua biểu số liệu ta thấy rằng sản lượng chè búp tươi của công ty năm 2001
giảm so với 2000 là 438 tấn những đến năm 2002 sản lượng tăng 47,01%.
Còn sản lượng chè khô thì liên tục tăng, bình quân 3 năm tăng 28,62%.
Do mặt hàng tiêu thụ của công ty không chỉ có chè đen mà hàng năm công ty
còn xuất khẩu cả chè xanh thành phẩm sang các nước bạn theo đơn đặt hàng,
chính vì thế mà đã tăng số lượng tiêu thụ của công ty lên. Năm 2000 số
lượng chè tiêu thụ là 1.742 tấn đến năm 2002 là 2.910 tấn, bình quân 3 năm
tăng 29,25%.
Sản phẩm chè của công ty chủ yếu là xuất khẩu. Năm 2000 công ty đã xuất
khẩu được 1.571 tấn chiếm 90,18% số lượng tiêu thụ. Năm 2001 số lượng
xuất khẩu tăng 42,52% so với năm 2000.
Năm 2002 công ty xuất khẩu được 2.500 tấn tăng 11,66% so với năm 2001.
Bình quân 3 năm công ty xuất khẩu tăng 26,13%. Trong những năm tới công
ty vẫn tiếp tục mở rộng thị trường xuất khẩu nhằm đưa sản lượng chè xuất
khẩu cao hơn nữa, tạo chỗ đứng ổn định trong môi trường kinh doanh.
Trong sản xuất công ty vẫn tiếp tục đầu tư chăm sóc nâng cao năng suất bình
quân, cụ thể là qua 3 năm năng suất tăng 18,8%. Công ty đang đưa những
giống chè mới có năng suất cao, chất lượng tốt vào sản xuất nguyên liệu như
tươi cung cấp cho chế
biến
Tấn 3980 3542 5207 88,99 147,01 118,00
- Chè loại A Tấn 199 177 314 88,94 177,40 133,17
-Chè loại B Tấn 1393 1417 1696 101,71 119,69 110,70
-Chè loại C Tấn 1990 1771 2695 89,00 152,17 120,585
-Chè loại D Tấn 398 177 502 44,50 283,46 163,98
3. Giá thu mua chè búp
tươi
Đ/kg
- chè loại A Đ/kg 2400 2700 2700 112,50 100,00 106,25
- chè loại B Đ/kg 1800 2000 2000 111,11 100,00 105,55
- chè loại C Đ/kg 1200 1300 1400 108,33 107,69 108,01
- chè loại D Đ/kg 800 500 800 62,50 160,00 111,25
Chỉ tiêu Đơn
vị
Năm Tốc độ phát triển(%)
2000 2001 2002 01/00 02/01 BQ
1. Tình hình sản xuất
và thu mua
3980 3542 5207 88,99 147,01 118,00
-Tự sản xuất Tấn 3630 3296 4252 90,08 129,00 109,90
- Mua ngoài Tấn 350 246 955 70,29 388,21 229,25
-Tỷ lệ tự sản xuất/tổng
số
% 91,21 93,05 90,80 - - -
2. Số lượng chè búp
tươi cung cấp cho chế
biến
Tấn 3980 3542 5207 88,99 147,01 118,00
-Tự sản xuất Tấn 3630 3296 4252 90,08 129,00 109,90
- Mua ngoài Tấn 350 246 955 70,29 388,21 229,25
-Tỷ lệ tự sản xuất/tổng
số
% 91,21 93,05 90,80 - - -
2. Số lượng chè búp
tươi cung cấp cho chế
biến
Tấn 3980 3542 5207 88,99 147,01 118,00
- Chè loại A Tấn 199 177 314 88,94 177,40 133,17
-Chè loại B Tấn 1393 1417 1696 101,71 119,69 110,70
-Chè loại C Tấn 1990 1771 2695 89,00 152,17 120,585
-Chè loại D Tấn 398 177 502 44,50 283,46 163,98
3. Giá thu mua chè búp
tươi
Đ/kg
- chè loại A Đ/kg 2400 2700 2700 112,50 100,00 106,25
- chè loại B Đ/kg 1800 2000 2000 111,11 100,00 105,55
- chè loại C Đ/kg 1200 1300 1400 108,33 107,69 108,01
- chè loại D Đ/kg 800 500 800 62,50 160,00 111,25
24
Về chất lượng chè búp tươi: Nó ảnh hưởng lớn tới chất lượng chè sau khi chế
biến. Tuỳ vào chất lượng chè mà công ty phân ra thành 4 loại chè tươi: Loại
A. loại B, loại C, loại D. Mỗi loại được mua với giá khác nhau.
Qua biểu ta thấy rằng số lượng chè tười loại B và C chiếm tỷ trọng lớn nhất.
Năm 2000 tổng số 3980 tấn chè búp tươi cung cấp cho nhà máy chế biến thì
loại A là 199 tấn chiếm 5%. Chè B cung cấp 1393 tấn chiếm 35%, chè C là
1990 tấn chiếm 50% còn loại D chiếm 10%. Nhưng tất cả các loại đều tăng về
số tuyệt đối qua 3 năm, chè tười loại A tăng 25,61%, chè loại B tăng 10,33%,
chè loại C tăng 16,37%, chè D tăng 12,31%. Qua đó cho thấy loại chất lượng