Đề cương giới thiệu chủ đề
TƯ TƯỞNG, TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC
HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG ĐẢNG TA TRONG SẠCH,
VỮNG MẠNH, “LÀ ĐẠO ĐỨC, LÀ VĂN MINH”
I. Ý NGHĨA, TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC HỌC TẬP VÀ LÀM
THEO TƯ TƯỞNG, TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY
DỰNG ĐẢNG TA TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH, “LÀ ĐẠO ĐỨC, LÀ
VĂN MINH”
1. Khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh
đối với thắng lợi của cách mạng Việt Nam
- Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng
Cộng sản Việt Nam. Sự nghiệp cách mạng của Người luôn luôn gắn bó chặt chẽ
với sự nghiệp cách mạng của Đảng, với vận mệnh của giai cấp công nhân, nhân
dân lao động và toàn thể dân tộc Việt Nam.
- Trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc đầu thế kỷ XX, sức mạnh to
lớn của dân tộc Việt Nam chỉ phát huy cao độ khi được tập hợp, đoàn kết dưới
sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng
Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
- Sự lớn mạnh của Đảng Cộng sản Việt Nam trong hơn 80 năm qua bắt
nguồn trước hết từ việc Đảng đã lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động. Đảng luôn luôn
quan tâm công tác xây dựng Đảng; xây dựng Đảng ta trong sạch, vững mạnh,
xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ trung thành của nhân dân, tự mình
trở thành “là đạo đức, là văn minh” theo tư tưởng Hồ Chí Minh
1
.
Học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về công
tác xây dựng Đảng là sự khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng và tư tưởng Hồ
Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam.
2. Khẳng định vai trò, ý nghĩa chiến lược cơ bản, lâu dài của công tác
mạnh phục vụ trực tiếp cho đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng này. Đây cũng là dịp
để tất cả các tổ chức Đảng và toàn thể cán bộ, đảng viên nhận thức một cách
đầy đủ và sâu sắc hơn tư tưởng và tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí
Minh về chăm lo công tác xây dựng Đảng, qua đó vận dụng sáng tạo vào nhiệm
vụ tổ chức thành công đại hội.
- Theo kế hoạch, đại hội đảng các cấp và Đại hội XI của Đảng sẽ thảo
luận và thông qua những quyết định có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát
triển của đất nước trong những năm tới. Đó là bổ sung, phát triển Cương lĩnh
xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội đến năm 2020… Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về xây
2
dựng Đảng để Đảng làm tốt các nhiệm vụ trên, cả trên phương diện lý luận
và trong thực tiễn.
- Học tập tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về xây dựng
Đảng ta trong sạch, vững mạnh giúp các tổ chức Đảng, cán bộ, đảng viên cơ sở
để nhìn lại công tác xây dựng Đảng trong nhiệm kỳ vừa qua, đánh giá đúng
những thành tựu, ưu điểm cũng như những khuyết điểm, hạn chế trong các mặt
công tác xây dựng Đảng. Từ đó đề ra phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp lãnh
đạo hoàn thành nhiệm vụ chính trị trong giai đoạn mới. Qua học tập, mỗi mỗi
đảng viên nâng cao hơn nữa tinh thần trách nhiệm, ý thức tự giác góp phần cùng
toàn Đảng xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, để Đảng thực sự “là đạo đức,
là văn minh”.
II. NỘI DUNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG
ĐẢNG TA TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH, “LÀ ĐẠO ĐỨC, LÀ VĂN
MINH”
Chủ tịch Hồ Chí Minh có nhiều bài nói, bài viết về công tác xây dựng
Đảng. Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng rất phong phú, trong đó tập
trung vào những điểm chủ yếu sau :
1. Cách mạng cần có Đảng. “Đảng muốn vững phải lấy chủ nghĩa
làm cốt”
nam cho hành động, Chủ tịch Hồ Chí Minh lưu ý những vấn đề sau đây:
Một là, phương pháp học tập, nhận thức, nâng cao trình độ lý luận Mác -
Lênin phải luôn luôn phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh, trình độ của từng đối
tượng. Hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin là hiểu bản chất của các vấn đề, không kinh
viện, không biến các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin thành các công
thức; phải hiểu đúng để hành động đúng.
Hai là, phải vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin cho
phù hợp với từng lúc và từng nơi, từng lĩnh vực; đề phòng và khắc phục cả giáo
điều lẫn xét lại, xa rời các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin.
Ba là, Đảng phải luôn luôn học tập, kế thừa những kinh nghiệm tốt của
các đảng cộng sản khác, đồng thời phải thường xuyên tổng kết thực tiễn cách
mạng rút ra những bài học kinh nghiệm cho mình, làm giàu trí tuệ của mình và
bổ sung, làm phong phú thêm kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin.
Bốn là, Đảng phải đấu tranh chống những luận điểm cơ hội, xuyên tạc,
xét lại chủ nghĩa Mác - Lênin, bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin
bằng cách nâng cao tầm trí tuệ, đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc của các
thế lực thù địch.
Năm là, Đảng ta phải dựa trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin để xây dựng
khối đoàn kết trong phong trào cộng sản quốc tế. Trong bản Di chúc, Người
mong rằng Đảng ta “ra sức hoạt động, góp phần đắc lực vào việc khôi phục lại
khối đoàn kết giữa các đảng anh em trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ
nghĩa quốc tế vô sản, có lý, có tình"
2
.
2. Xây dựng Đảng là phải thực hiện tốt các nguyên tắc tổ chức và
sinh hoạt Đảng
Vận dụng và phát triển những nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng vô
sản kiểu mới do V.I.Lênin đề ra, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu các nguyên tắc chủ
yếu là:
1
trách là hai vế làm thành một chỉnh thể thống nhất trong nguyên tắc sinh hoạt
Đảng.
Hai là, tập thể lãnh đạo là để phát huy trí tuệ và kinh nghiệm của nhiều
người. Người lưu ý rằng, lãnh đạo mà không tập thể thì sẽ “đưa đến các tệ bao
biện, độc đoán, chủ quan, kết quả là hỏng việc”.
Ba là, cá nhân phụ trách là để xác định rõ trách nhiệm thực hiện, nâng
cao tinh thần và ý thức trách nhiệm. “Như thế mới có chuyên trách, công việc
5
mới chạy. Nếu không có cá nhân phụ trách, thì sẽ sinh ra cái tệ người này ủy
cho người kia, người kia ủy cho người nọ, kết quả là không ai thi hành. Như thế
thì việc gì cũng không xong”
1
.
Bốn là, chống thói dựa dẫm tập thể, không dám làm, không dám chịu
trách nhiệm, đồng thời chống độc đoán, cá nhân, coi thường tập thể.
Thực hiện nguyên tắc này theo Hồ Chí Minh càng quan trọng trong điều
kiện Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo các tổ chức khác trong hệ
thống chính trị và lãnh đạo toàn xã hội, khi nhiều đảng viên có chức, có quyền.
2.3. Nguyên tắc tự phê bình và phê bình
Chủ tịch Hồ Chí Minh coi tự phê bình và phê bình là quy luật phát triển
của Đảng ta đồng thời là “vũ khí sắc bén” để làm cho Đảng ta trong sạch, vững
mạnh. Trong việc thực hiện nguyên tắc này, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh
một số điểm sau:
2.3.1. Về mục đích.
- Mục đích của tự phê bình và phê bình là làm cho phần tốt trong mỗi con
người nẩy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi; tự phê bình và phê
bình cũng là để làm cho các tổ chức Đảng luôn luôn trong sạch, vững mạnh; để
các tổ chức Đảng và đảng viên luôn luôn hoàn thiện mình, có chí cầu tiến bộ,
vươn lên những giá trị chân, thiện, mỹ.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, bất cứ ai cũng đều có khuyết điểm, chỉ
bình. Thành khẩn, thành tâm, không được “giấu bệnh sợ thuốc” sẽ giúp cho việc
tự phê bình có kết quả tốt.
- Tự phê bình và phê bình phải trung thực. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn
mạnh tới việc không “đặt điều”, “không thêm bớt”.
- Tự phê bình và phê bình phải kiên quyết, “ráo riết”, không nể nang.
- Tự phê bình và phê bình phải có tính chất xây dựng “phải có tình đồng
chí thương yêu lẫn nhau”
1
. Người nói, phê bình "không phải để công kích, nói
xấu, để chửi rủa"
2
, "chớ phê bình lung tung mà không chịu trách nhiệm"; để
“giúp họ tiến bộ bằng cách làm cho cái phần thiện trong con người nảy nở để
đẩy lùi phần ác, chứ không phải đập cho tơi bời"
3
.
- Chủ tịch Hồ Chí Minh còn nêu lên ba thái độ cần chú ý xử lý trong tự
phê bình và phê bình:
Một là, “Chúng ta phải học tập tinh thần và tác phong của các đồng chí
giác ngộ chính trị cao”, tự phê bình rất thật thà và kiên quyết sửa chữa khuyết
điểm. Khi phê bình người khác, các đồng chí ấy thành khẩn. Đối với những
người có khuyết điểm nặng mà không chịu sửa thì các đồng chí ấy đấu tranh
không nể nang.
Hai là, tổ chức Đảng cần nghiêm khắc mời ra khỏi Đảng những người
phê bình, giáo dục mấy cũng không chịu sửa chữa khuyết điểm, “cứ ì ra”, để
tránh “con sâu làm rầu nồi canh”.
Ba là, Đảng phải giáo dục, phải phê bình nghiêm khắc để giúp sửa chữa
khuyết điểm với một số đồng chí khá đông “đối với người khác thì phê bình rất
mạnh, nhưng tự phê bình thì quá yếu”…
2.4. Kỷ luật nghiêm minh, tự giác
cương lĩnh, điều lệ, đường lối, quan điểm, nghị quyết của tổ chức đảng các cấp;
“có lý, có tình”.
Hai là, muốn đoàn kết, thống nhất, phải thực hành dân chủ rộng rãi trong
Đảng, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình, thường xuyên tu
dưỡng đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân và các tiêu cực khác.
3. Quan tâm xây dựng, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên có đức,
có tài để Đảng xứng đáng "là đạo đức, là văn minh"
3.1. Xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có đạo đức có vai trò rất quan
trọng trong công tác xây dựng Đảng
- Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, để Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành
Đảng của đạo đức, của văn minh phải thường xuyên quan tâm giáo dục, rèn
luyện đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên trong thực tế chứ
không chỉ dừng lại những quy định trong điều lệ Đảng.
- Trung với nước, trung với Đảng, hiếu với dân là một trong những tiêu
chuẩn quan trọng nhất của đạo đức cách mạng và là một yếu tố cơ bản làm
1
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, T. 12, tr. 510.
8
thành nhân cách của cán bộ, đảng viên. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, trung với
nước, với Đảng, hiếu với dân là phải đặt quyền lợi của Tổ quốc, của Đảng lên
trên hết, trước hết. Cán bộ, đảng viên là người giữ trọng trách trong bộ máy của
hệ thống chính trị càng cần có đức tính hy sinh cho lợi ích của Đảng, của Tổ
quốc và của nhân dân; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.
- Xây dựng Đảng về mặt đạo đức là một nội dung đặc sắc trong tư tưởng
Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam, là sự phát triển rất cơ bản và sáng
tạo của Hồ Chí Minh học thuyết của V.I.Lênin về đảng kiểu mới của giai cấp vô
sản.
3.2. Những yêu cầu của Hồ Chí Minh đối với cán bộ, đảng viên
3.2.1. Yêu cầu về phẩm chất, tư cách
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn rất mạnh vấn đề tư cách của cán bộ, đảng
3
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, T. 5, tr. 278.
9
Ba là, cán bộ, đảng viên phải đặt quyền lợi của Đảng, của Tổ quốc lên
trên hết và lên trước hết.
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Ngoài lợi ích của dân tộc, của Tổ
quốc, thì Đảng không có lợi ích gì khác. Cho nên Đảng phải ra sức tổ chức nhân
dân, lãnh đạo nhân dân để giải phóng nhân dân và để nâng cao sinh hoạt, văn
hoá, chính trị của nhân dân…”
1
. Quan điểm có tính nguyên tắc trong tư tưởng
Hồ Chí Minh là: “Lợi ích cá nhân nhất định phải phục tùng lợi ích của Đảng.
Lợi ích của mỗi bộ phận nhất định phải phục tùng lợi ích của toàn thể. Lợi ích
tạm thời nhất định phải phục tùng lợi ích lâu dài”
2
.
Bốn là, cán bộ, đảng viên phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức
cách mạng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, đạo đức như là gốc của cây, như là
nguồn của song, suối, là cái căn bản của người cách mạng. Theo Người, cái gốc,
cái nguồn, cái căn bản đó không phải “từ trên trời sa xuống”, nó do phấn đấu,
rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà có, “như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng
luyện càng trong”.
Năm là, cán bộ, đảng viên phải có đời tư trong sáng, phải là một tấm
gương sáng trong cuộc sống.
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định sự trong sáng về đời tư có vai trò to
lớn trong đạo đức cách mạng. Năm 1924, khi V.I.Lênin qua đời, Người viết:
“Không phải chỉ thiên tài của Người, mà chính là tính coi khinh sự sa hoa, tinh
thần yêu lao động, đời tư trong sáng, nếp sống giản dị, tóm lại là đạo đức vĩ đại
và cao đẹp của người thầy, đã ảnh hưởng lớn lao tới các dân tộc châu Á và đã
có bằng cấp, để thăng chức, mà để phục vụ Tổ quốc và nhân dân.
Bốn là, cán bộ, đảng viên phải có phong cách tốt.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, phong cách công tác tốt là phải sâu sát, tỷ
mỉ; nắm việc lớn, phải giải quyết bắt đầu từ những việc cơ bản. Phải có đầu óc
quan sát; phải chân đi, miệng nói, tay làm; bất kỳ việc gì, “Phải bắt đầu từ gốc,
dần dần đến ngọn, từ ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng, chớ nên tham mau, tham
nhiều trong một lúc”
1
.
Phong cách công tác của cán bộ, đảng viên là phát huy sáng kiến, thường
xuyên tổng kết công tác. Theo Người, sáng kiến là “kết quả của sự nghiên cứu,
suy nghĩ trong những hoàn cảnh, trong những điều kiện rất tầm thường, rất phổ
thông, rất thiết thực”
2
. Sáng kiến là hệ quả của phong cách công tác của cán bộ,
đảng viên, chú trọng đến việc thường xuyên tổng kết thực tiễn công tác.
Phong cách công tác của cán bộ, đảng viên không tách rời việc kiểm tra,
kiểm soát chặt chẽ công việc. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Muốn chống
bệnh quan liêu, bệnh bàn giấy, muốn biết các nghị quyết có được thi hành
không, thi hành có đúng không; muốn biết ai ra sức làm, ai làm qua chuyện, chỉ
có một cách là khéo kiểm soát”
3
.
4. Tăng cường mối quan hệ gắn bó giữa Đảng và dân
1
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, T. 5, tr. 242.
2
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, T. 5, tr. 244.
3
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, T. 5, tr. 287.
4.3. Đảng phải nêu cao tinh thần trách nhiệm đối với dân
Đó là bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, chăm lo đến
việc nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Trong Di chúc,
Người dặn Đảng ta: “…Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế
và văn hoá, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân”
2
.
1
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, T. 5, tr. 293.
2
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, T. 12, tr. 498.
12
4.4. Thường xuyên vận động nhân dân tham gia xây dựng Đảng
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Dân là chủ và dân làm chủ. Cả hai vế
dân là chủ và dân làm chủ đều quan trọng như nhau, làm thành một thể thống
nhất. Dân là chủ là nói về vị thế của dân, còn dân làm chủ là nói về trách nhiệm
của dân. Dân là người uỷ quyền cho Đảng, vì thế dân có trách nhiệm xây dựng
Đảng.
Để nhân dân phát huy được quyền làm chủ của mình, đóng góp cho
Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu: 1. Phải giải thích cho mỗi một người dân
hiểu rõ lợi ích và trách nhiệm của mình; 2. Sau đó, phải bàn bạc với dân để hỏi
ý kiến và kinh nghiệm của dân; 3. Đặt ra kế hoạch thiết thực; 4. Tổ chức toàn
dân thực hiện kế hoạch; 5. Trong quá trình thực hiện kế hoạch, phải theo dõi,
giúp đỡ, đôn đốc, khuyến khích nhân dân giải quyết những việc khó khăn; 6.
Khi thực hiện xong, phải cùng với dân xem xét lại công việc đã làm, rút kinh
nghiệm, phê bình, khen thưởng.
5. Đảng phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn
- Theo Hồ Chí Minh, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với toàn xã hội không
tự nhiên mà có và không phải cứ tự nhận mà được. Người xác định rõ, từ mục
đích phấn đấu của Đảng vì độc lập, tự do, vì chủ nghĩa xã hội của đất nước,
Hai là, luôn luôn chú ý đề phòng và khắc phục những biểu hiện tiêu cực,
thoái hóa, biến chất, giữ gìn Đảng thật trong sạch, vững mạnh.
Người viết: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một
Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những
cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó,
rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến
bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”
2
.
Ba là, giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên để đội ngũ này luôn
luôn toàn tâm, toàn ý phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân.
Bốn là, Đảng phải vươn lên đáp ứng kịp yêu cầu của tình hình và nhiệm
vụ mới do sự biến đổi của tình hình trong nước và quốc tế. Đảng phải chú trọng
nâng cao tầm trí tuệ, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của mình. Để làm được
việc đó, Đảng phải phát huy dân chủ trong nội bộ, phát huy và tập hợp được trí
tuệ của toàn Đảng, phấn đấu thực sự trở thành “đạo đức, văn minh”.
III. TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG ĐẢNG
TA TRONG SẠCH, VỮNG, MẠNH, “LÀ ĐẠO ĐỨC, LÀ VĂN MINH”
1. Suốt đời phấn đấu cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, xây dựng
Đảng trong sạch, vững mạnh
Trong suốt cả cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí
Minh luôn luôn chăm lo đến sự nghiệp cách mạng của Đảng, đến công tác xây
dựng Đảng ta trong sạch vững mạnh, thể hiện rõ trong các điểm sau:
1.1. Sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam
- Trong quá trình tìm con đường cứu nước, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã
gia nhập Đảng Xã hội Pháp và là người sÁng lập Đảng Cộng sản Pháp. Người
1
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, T. 12, tr. 503.
2
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, T. 5, tr. 261.
1.3. Đề ra đường lối, sách lược đúng đắn để lãnh đạo cách mạng Việt
Nam vượt qua bao thác ghềnh gian khó, bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền
cách mạng
Với thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 dẫn tới sự ra
đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Đảng ta đã trở thành Đảng cầm
quyền. Tuy nhiên, tình thế cách mạng những năm 1945-1946 đã đặt trách nhiệm
15
nặng nề trên vai Hồ Chí Minh, làm sao bảo vệ được Đảng, được chính quyền
dân chủ nhân dân còn non trẻ trước “thù trong, giặc ngoài”. Người đã quyết
định Đảng tạm thời rút vào hoạt động bí mật, tuyên bố giải thể Đảng Cộng sản
Đông dương, thành lập Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác Với sách lược tài tình,
quyết định đúng đắn, Người đã đưa cách mạng vượt qua hoàn cảnh của “ngàn
cân treo sợi tóc”, tiếp tục phát triển, đi lên.
1.4. Cùng toàn Đảng lãnh đạo nhân dân vừa kháng chiến vừa kiến
quốc thắng lợi
Với trách nhiệm lãnh đạo cao nhất của Đảng, Nhà nước và toàn bộ hệ
thống chính trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng toàn Đảng đề đường lối kháng
chiến đúng đắn; lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi; đánh
thắng chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ; xây dựng chế độ dân chủ nhân
dân, tạo nên thắng lợi của toàn bộ sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ nhân
dân trong phạm vi cả nước.
Từ khi thành lập Đảng đầu năm 1930 cho đến khi qua đời ngày 2-9-1969,
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn chăm lo lãnh đạo, rèn luyện Đảng ta, phát triển
lý luận về xây dựng đảng kiểu mới và chỉ đạo thực tiễn xây dựng Đảng, để
Đảng làm tròn nhiệm vụ lãnh đạo toàn dân đấu tranh giành độc lập dân tộc, xây
dựng xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa.
2. Luôn luôn gương mẫu với tư cách của một đảng viên, làm tròn mọi
nhiệm vụ được Đảng giao phó
Cuộc đời hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng
toàn diện, toàn mỹ, suốt đời phấn đấu, hy sinh cho sự nghiệp xây dựng Đảng ta
là cuộc đời đặt lợi ích của Đảng, của Tổ quốc lên trên hết, đó là cuộc đời hiến
dâng cho Đảng, cho sự nghiệp cách mạng. Người là “Anh hùng giải phóng dân
tộc và là Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam”.
- Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn giữ vững và trui rèn ý chí, quyết tâm
cách mạng của mình. Đó là ý chí “Không có việc gì khó. Chỉ sợ lòng không
bền. Đào núi và lấp biển. Quyết chí ắt làm nên”; là quyết tâm “Dù đốt cháy cả
dãy Trường Sơn cũng phải quyết tâm giành cho được độc lập” ; là “Thà hy sinh
tất cả chứ nhất quyết không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”; là “Hễ còn
một tên xâm lược trên đất nước ta thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu quét sạch nó
đi”; là “Không có gì quý hơn độc lập, tự do! Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ
xây dựng lại đất nước đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”.
- Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn giữ vững và rèn luyện phẩm chất trung
thành với Đảng, với nước, hiếu với dân. Người là một điển hình trong việc luôn
luôn phấn đấu, hy sinh vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng, một lòng một dạ chăm
lo xây dựng Đảng ta lớn mạnh để đủ sức đáp ứng được yêu cầu của cách mạng.
Người luôn luôn trăn trở về xây dựng Đảng. Trong lời để lại trước khi đi xa,
Người cũng “trước hết nói về Đảng”.
1
Xem: Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, T. 12, tr. 560 – 563.
17
- Năng lực nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tầm trí tuệ cao, tri thức
uyên bác, nhìn xa trông rộng, giải quyết mọi công việc trên phương pháp biện
chứng với một trái tim nhân ái của người cộng sản. Những điều đó chủ yếu là
do Người tự học, tự rèn luyện trong cuộc sống. Đó là tấm gương khổ luyện, tự
hoàn thiện nhân cách, có ý thức thâu thái, tinh lọc, tiếp biến các giá trị của văn
hóa dân tộc và của nhân loại.
- Đạo đức nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh là lòng nhân ái bao la đối
với mọi lớp người lao động; là đức tính suốt đời trung với Đảng, với nước, hiếu
với dân; là cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; là tấm lòng trong sáng, thủy
chung trong mối quan hệ quốc tế vì hòa bình, hữu nghị, hiểu biết, tôn trọng lẫn
NAY
Đất nước ta đang đứng trước thời cơ lớn và thách thức lớn của sự phát
triển. Cách mạng công nghệ, toàn cầu hóa, kinh tế tri thức… đang tạo cơ hội
cho nhiều nước, trong đó có Việt Nam gia tăng tốc độ tăng trưởng, thu hẹp dần
khoảng cách tụt hậu. Sự ổn định về chính trị, những thành tựu to lớn và có ý
nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới tạo thêm thế và lực mới, cùng với sự cần
cù, chịu khó, khao khát làm giàu, cống hiến của đa số con người Việt Nam là
điều kiện và động lực quan trọng cho đất nước phát triển, tiến nhanh và bền
vững, vươn lên sánh vai với các nước trên thế giới.
Sự phát triển của đất nước trong giai đoạn mới cũng chịu nhiều thách
thức khách quan của quá trình toàn cầu hóa, hợp tác và cạnh tranh trên thế giới.
Những biểu hiện tiêu cực trong Đảng, những hạn chế, yếu kém trong công tác
xây dựng đảng, những “trục trặc” trong quan hệ giữa Đảng với dân… được
nhắc đến trong các văn kiện đảng gần đây đang thực sự là nguy cơ liên quan
trực tiếp đến vai trò lãnh đạo của Đảng và con đường phát triển của đất nước.
Trong điều kiện đó, Đảng phải tiếp tục tự đổi mới, tự chỉnh đốn, nâng cao
được năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu, nắm bắt thời cơ, chấp nhận và vượt
qua thách thức, nguy cơ, nâng cao tầm trí tuệ, thực sự “là đạo đức, là văn minh”
để thực hiện sứ mệnh lịch sử trong giai đoạn hiện nay. Mỗi cán bộ, đảng viên
của Đảng, mỗi tổ chức đảng và cấp ủy đảng phải quán triệt tư tưởng Hồ Chí
Minh về xây dựng Đảng, chung tay xây dựng Đảng ta trong sạch, vững mạnh,
“là đạo đức, là văn minh”.
Với nhận thức chung đó, việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ
Chí Minh trong công tác xây dựng Đảng hiện nay cần tập trung vào những nội
dung, công việc chính sau đây.
1. Nâng cao phẩm chất trí tuệ của Đảng, xây dựng, hoàn thiện đường
lối đổi mới, đề ra các chủ trương, giải pháp phù hợp cho giai đoạn phát
triển mới
Đảng ta hiện nay là cầm quyền. Năng lực cầm quyền của Đảng là sự tổng
hoà trình độ, khả năng, bản lĩnh chính trị để giải quyết các yêu cầu, nhiệm vụ do
tư tưởng Hồ Chí Minh: xây dựng xã hội mới là công việc “rất to lớn, nặng nề,
và phức tạp, mà cũng là rất vẻ vang. Đây là một cuộc chiến đấu chống lại những
gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi. Để giành lấy thắng
lợi trong cuộc chiến đấu khổng lồ này cần phải động viên toàn dân, tổ chức và
giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân”
1
.
Hai là, cần đặc biệt coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Trong
điều kiện cơ chế kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế hiện nay, nhiệm vụ này
càng trở nên quan trọng và cấp thiết. Xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có đủ
đức và tài, đầy tinh thần trách nhiệm trước Đảng, trước dân tộc, năng động, dám
1
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, T. 12, tr. 505.
20
nghĩ, dám làm không chỉ là sự quan tâm, phát huy nhân tố con người trong
Đảng, mà còn để phát huy sức mạnh của toàn dân tộc, nhân tố có ý nghĩa quyết
định đến thành bại của cả một sự nghiệp cách mạng.
Ba là, kiên quyết đấu tranh, khắc phục tình trạng một bộ phận không nhỏ
cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; phòng
chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu và các tiêu cực khác ở trong Đảng và
ngoài xã hội. Những tiêu cực trong xã hội đã xâm nhập vào cơ thể Đảng, vào bộ
máy Nhà nước, thách thức nghiêm trọng đến năng lực cầm quyền của Đảng, sự
tồn vong của chế độ và con đường phát triển của đất nước. Do vậy, toàn Đảng
và mỗi tổ chức Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên cần có nhận thức đúng đắn tư
tưởng, tấm gương Hồ Chí Minh về nhiệm vụ xây dựng Đảng, để tham gia đấu
tranh khắc phục tình trạng trên, xây dựng Đảng ta thực sự “là đạo đức, là văn
minh”.
3. Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng
- Phương thức lãnh đạo của Đảng có vai trò quan trọng để đưa đường lối,
chủ trương của Đảng vào thực tiễn cuộc sống. Đó cũng chính là yêu cầu mà
- Vấn đề giải quyết mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng với dân tưởng
như đơn giản, cũ kỹ, đang trở thành vấn đề cấp thiết, là bài học rút ra từ 20 năm
đổi mới. Trong những năm gần đây đã xuất hiện những hiện tượng mới, đó là sự
phản ứng gay gắt của nhân dân ở một số không ít nơi đối với đội ngũ cán bộ,
đảng viên, chính quyền các cấp, rõ nhất là cấp cơ sở. Hàng loạt “điểm nóng”
liên tiếp xuất hiện, liên quan đến nhiều vấn đề, trong đó có vấn đề nhà, đất,
quyền dân chủ, dân sinh… ở nhiều địa phương. Điều đó phản ánh sự không
bình thường trong mối quan hệ máu thịt này.
- Trong thời gian qua Đảng và Nhà nước đã có nhiều nghị quyết, chỉ thị,
quy định, quy chế… để giải quyết mối quan hệ này, nhưng nói chung hiệu quả
vẫn còn rất thấp. Điều đó phản ánh sự cố gắng, quyết tâm chính trị nhưng vấn
đề cơ bản hiện nay là hãy bắt tay vào hành động, hành động một cách tích cực,
kiên quyết, có hiệu quả ở các cấp, các ngành, trước hết bắt đầu từ cấp cơ sở theo
tư tưởng Hồ Chí Minh. Đây là trách nhiệm của toàn Đảng, của mỗi tổ chức
đảng, mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng, trước hết là các cấp ủy Đảng.
- Để giải quyết tốt mối quan hệ giữa Đảng với dân, ở tất cả các cấp, các
ngành phải giải quyết nhiều vấn theo nguyên tắc cơ bản sau đây trong tư tưởng
Hồ Chí Minh:
Một là, các quyết định, chủ trương được thông qua phải lấy lợi ích của đa
số nhân dân làm mục đích.
Hai là, các chính sách được thông qua phải có mục tiêu vì dân.
Ba là, các biện pháp thực hiện phải dựa vào sức dân và mang lợi ích cho
dân.
Bốn là, cán bộ, đảng viên của Đảng phải thực sự là công bộc của dân.
1
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, T. 3, tr. 139.
22
Năm là, trong mọi hoạt động của tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể
phải thực sự lấy dân làm gốc.
5. Tổ chức tốt đại hội đảng bộ các cấp theo quy định của điều lệ Đảng
trong Đảng và trong xã hội; có tư duy đổi mới, khả năng tiếp cận, nắm bắt, xử
lý các vấn đề mới và vấn đề phức tạp mới nảy sinh; khả năng đoàn kết, quy tụ;
23
phong cách làm việc khoa học, dân chủ, sâu sát, nói đi đôi với làm; dám nghĩ
dám làm, dám chịu trách nhiệm.
Vận dụng tốt tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về xây dựng
Đảng trong sạch, vững mạnh “là đạo đức, là văn minh” trong tổ chức đại hội
đảng các cấp tiến tới Đại hội XI có ý nghĩa rất thiết thực trong công tác xây
dựng Đảng, trong thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo
đức Hồ Chí Minh” hiện nay; đáp ứng được yêu cầu chung của công cuộc đổi
mới, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; sự mong đợi của đông đảo cán
bộ, đảng viên và toàn thể nhân dân.
24